K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

13

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong bài Chiều cầu hiền tài là: Nghị luận

Câu 2: Chủ thể bài viết là: Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ)

Câu 3:mục đích chính là nhằm kêu gọi, thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà (trí thức triều đại cũ Lê - Trịnh) từ bỏ tị hiềm, ra cộng tác với triều đại Tây Sơn để tham gia xây dựng, chấn hưng đất nước

-các lối tiến cử người hiền tài được quy định cụ thể nhằm tìm kiếm người tài giúp vua Quang Trung xây dựng đất nước, bao gồm: các quan lại trọng triều được phép tiến cử người có tài nghệ, và những người ở ẩn (nhân sĩ) được phép dâng sớ tự tiến cử

Câu 4:


12 tháng 4

l Đọc hiểu

Câu 1

-PTBĐ chính là nghị luận.

Câu 2

-chủ thể bài viết: Vua Lê Thái Tổ người ban bố tờ chiếu.

Câu 3

-mục đích chính: kêu gọi những người có tài năng, đức độ đang ẩn dật hoặc chưa được trang dụng gia vũ nước, xây dựng triều đại mới sau chiến tranh.

-các đường lối tiến cử:

+ các quan Văn Võ đại thần, công hậu, đại tu từ tam phẩm trở nên lên, mỗi người đều được tiến cử 1 người ở triều đình

+ những người có tài năng nhưng bị khuất lấp ở hàng Quan nhỏ, không ai tiến cử thì có thể tự mình đề đạt.

Câu 4

-dẫn chứng: tác giả đưa ra cặp tiền bối gương mẫu nhất trong lịch sử như Tiêu Hà tiến cử tào tham, ngụy vô tri tiến cử Trần Bình, địch Nhân Kiệt tiến cử cửu linh…

-nhận xét: cách nêu dẫn chứng thuyết phục, sử dụng các tấm gương lịch sử có sức nặng về uy tín, cho thấy việc tiến cử người hiền là truyền thống tốt đẹp của triều đại thịnh trị.

Câu 5

-chủ thể bài viết hiện lên là 1 bậc minh quân có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân vì nước. Ông thể hiện thái độ cầu thị, khiêm nhường, biết trọng dụng nhân tài và có tấm lòng bao dung, gạt bỏ những định kiến nhỏ nhặt để thu phục lòng người.

ll viết

Câu 1

Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong triều cầu hiển tài thể hiện sự sắc sảo và đầy sức thuyết phục. Trước hết, hệ thống lập luận được sắp xếp cực kỳ chặt chẽ từ việc khẳng định quy luật khách quan đến việc bày tỏ nỗi lòng thành khẩn của quân vương, và cách cuối cùng là đưa ra những chính sách cụ thể. Cách sử dụng dẫn chứng lịch sử làm tăng tính thuyết phục, chứng minh rằng hiện tại là” nguyên khí”, là nhân tố quyết định sự thịnh trị . trong bài chiếu mang tính mệnh lệnh của bậc thiên tử, vừa chân thành, tha thiết như lời tâm tình, giúp xoá bỏ . Đặc biệt, việc sử dụng các hình ảnh so sánh ví von tạo nên gợi cảm lớn. Chính nghệ thuật lập luận kết hợp hài hòa giữa’ lý’ và’ tình’ đã giúp bà chiếu trở thành 1 áng áng văn chính luận mẫu mực, có sức lay động lòng người sâu sắc.

Câu 2

từ xa xưa, cha ông ta đã khẳng định hiển tài là nguyên khí của quốc gia. Trong văn bản’ chiếu cầu hiện tài’, vua lê thánh tông không ngần ngại để chiêu mộ người có tài . Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với 1 thực trạng đó là’ chảy máu chất xám’ là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao, năng lực xuất chúng rời bỏ quê hương để tìm cơ hội việc làm và định cư tại các quốc gia phát triển.

Thực trạng này diễn ra vô cùng phức tạp. chúng ta dễ dàng bắt gặp những những trường hợp như các quán quân chương trình’ đường lên đỉnh olympia’ hay các thủ khoa đại học, du học sinh xuất sắc khi tu nghiệp tại các nước ngoài đều chọn ở lại Úc, Mỹ, Đức chấm chấm đó là những nước phát triển mạnh thay vì trở về quê hương. Không chỉ dừng lại ở sinh viên, nhiều nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành cũng âm thầm rời bỏ các cứu trong nước để đầu quân cho các . Việt Nam vô tình trở thành nơi đào tạo nguồn lực chất lượng cao cho thế giới. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ các yếu tố khách quan quan. Trước hết, môi trường làm việc trong nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu thốn trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, khiến những người có đam mê khoa học có lòng phát triển hết khả năng. Thứ 2, chế độ đãi ngộ, lương bổng tại Việt Nam Trung vẫn còn thấp so với mặt bằng quốc tế, chưa đủ đảm bảo để cuộc sống ổn định cho mọi người. Đáng ngại hơn, 1 số môi trường, cơ chế tuyển dụng và thăng tiến vẫn còn nặng tính quan hệ khiến những người có thực lực thật sự cảm thấy bị xem nhẹ và thiếu đi sự .

Hậu quả của chảy chất xám là vô cùng Khi những bộ óc tinh hoa nhất dưới đi, đất nước sẽ mất đi động lực then chốt để đột phá về kinh tế và Việt Nam và các cường quốc sẽ ngày càng bị nới rộng. Chúng ta không chỉ mất đi nguồn lực trí tuệ mà còn làm lãng phí nhiều ngân sách đào tạo và tâm huyết của xã hội.

Để khắc phục tình trạng chúng ta cần 1 cuộc cách mạng trong tư duy quản lý nhân sự, nhà nước cần xây dựng những đặc khu kinh tế, các vị nghiên để những người có tài có đất sử dụng. Quan trọng hơn, cần thực hiện những chính sách trải thảm đỏ 1 cách thực chất không chỉ là tiền lương, mà là sự tôn trọng, tự do sáng tạo và lộ trình thăng tiến minh bạch dựa trên năng lực. Chúng ta cần đào tạo 1 môi trường mà ở đó người giỏi cảm thấy họ được cống hiến và được thừa nhận ngay trên chính sở trường của mình.

Tóm lại, nhân tài không phải là tài nguyên vô tận nếu không biết giữ gìn, nguyên khí sẽ cạn kiệt. Mỗi cá nhân trẻ tuổi chúng ta, bên cạnh việc rèn luyện tài năng, cũng cần nuôi dưỡng lòng yêu nước và Ý thức trách nhiệm. Tuy nhiên yêu nước cần được tiếp bởi những chính sách đúng đắn từ phía xã hội. Chỉ khi có những sự đồng hành giữa cá nhân và quốc tế, chúng ta mới có thể biến chảy máu chất xám thu hút chất xám, Việt Nam sánh vai với các cường quốc.

12 tháng 2

Sơ đồ tư duy tác gia Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi
Tiểu sử
Sinh năm 1380, mất năm 1442
Quê ở Chí Linh, Hải Dương
Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Bị oan trong vụ án Lệ Chi Viên

Sự nghiệp chính trị
Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Là quân sư của Lê Lợi
Góp phần quan trọng vào thắng lợi chống quân Minh
Soạn thảo Bình Ngô đại cáo

Sự nghiệp văn học
Tác phẩm chính
Bình Ngô đại cáo
Quân trung từ mệnh tập
Ức Trai thi tập
Quốc âm thi tập
Nội dung thơ văn
Yêu nước thương dân
Tư tưởng nhân nghĩa
Khát vọng hòa bình
Yêu thiên nhiên
Nghệ thuật
Lập luận chặt chẽ
Giọng văn hùng hồn
Ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc
Đóng góp lớn cho văn học chữ Hán và chữ Nôm

Giá trị và ý nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa tiến bộ
Đặt nền móng cho văn học yêu nước
Tấm gương trung quân ái quốc
Di sản văn hóa có giá trị lâu dài


4 tháng 3 2025

Quà của bà ngữ văn 10



3 tháng 2


Câu 1 (2,0 điểm)



Đoạn văn nghị luận văn học (khoảng 200 chữ)


Truyện ngắn Con chim vàng của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm giàu giá trị nhân đạo, phản ánh số phận đau khổ của những đứa trẻ nghèo trong xã hội cũ. Nhân vật trung tâm của truyện là cậu bé Bào – một đứa ở đợ nhỏ tuổi, phải sống trong cảnh áp bức, sợ hãi và bất công. Vì món nợ của mẹ, Bào bị ép làm những việc nguy hiểm, thậm chí đánh đổi cả tính mạng chỉ để thỏa mãn mong muốn ích kỉ của cậu chủ. Hình ảnh Bào liều mình trèo cây bắt chim và rơi xuống trong đau đớn là cao trào bi kịch của truyện, tố cáo sự vô cảm, tàn nhẫn của người lớn đối với trẻ em nghèo khổ. Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ nhận lại sự thờ ơ càng khắc sâu nỗi cô độc, tuyệt vọng của em. Qua câu chuyện về con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những phận người bé nhỏ, đồng thời lên án xã hội bất công đã chà đạp quyền sống và nhân phẩm con người.





Câu 2 (4,0 điểm)



Bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ)


Trong cuộc sống, không phải vật chất hay danh vọng mà chính tình yêu thương mới là điều làm nên giá trị đích thực của con người. Tình yêu thương là sự quan tâm, sẻ chia, đồng cảm giữa người với người, giúp con người xích lại gần nhau hơn và làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, ý nghĩa.


Trước hết, tình yêu thương là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi được sống trong yêu thương, con người cảm thấy được che chở, được tiếp thêm niềm tin để vươn lên. Một lời động viên đúng lúc, một cử chỉ quan tâm chân thành cũng có thể giúp người khác đứng dậy sau thất bại. Đặc biệt, với những mảnh đời bất hạnh, tình yêu thương chính là ánh sáng soi đường, giúp họ không gục ngã trước số phận.


Không chỉ vậy, tình yêu thương còn góp phần nuôi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người. Một người biết yêu thương sẽ biết sống vị tha, nhân ái, biết đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu và chia sẻ. Chính tình yêu thương giúp con người tránh xa lối sống ích kỉ, vô cảm – căn bệnh đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Một cộng đồng chỉ thật sự bền vững khi mỗi cá nhân biết sống vì nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn.


Bên cạnh đó, tình yêu thương còn là nền tảng để xây dựng gia đình hạnh phúc và xã hội tốt đẹp. Gia đình là nơi tình yêu thương được thể hiện rõ ràng nhất qua sự chăm sóc của cha mẹ, sự đùm bọc giữa các thành viên. Khi gia đình tràn đầy yêu thương, con người sẽ có điểm tựa vững chắc để bước ra cuộc sống. Từ những gia đình giàu tình yêu thương sẽ hình thành một xã hội nhân văn, nơi con người đối xử với nhau bằng sự tử tế và trách nhiệm.


Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn nhiều người sống thờ ơ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà quên đi việc quan tâm đến người khác. Sự vô cảm ấy khiến con người trở nên cô độc, xã hội trở nên lạnh lùng và đầy rạn nứt. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức nuôi dưỡng tình yêu thương từ những hành động nhỏ nhất: biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết giúp đỡ người khác khi có thể.


Tóm lại, tình yêu thương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Nó không chỉ mang lại hạnh phúc cho người nhận mà còn làm giàu tâm hồn của chính người cho đi. Sống yêu thương chính là cách để con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn và làm cho cuộc đời này trở nên tốt đẹp hơn.


(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CON CHIM VÀNG (Trích)      [Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CON CHIM VÀNG

(Trích)

     [Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, nó yêu con chim và đòi mẹ bắt cho được. Bà chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được, nó có cánh, vừa leo lên là nó bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị bà chủ đánh đập, xỉa xói vô cùng tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi nó sợ và vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ… ]

     Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:

     – Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!

     Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt nó long lanh, ôm lấy Bào, nó hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:

     – Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!

     Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng vô buồng, bẻ luôn hai quả. Nó đưa hai quả chuối cau chín vàng khoe với Bào. Nó cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên nó cúi đầu sát vào Bào, xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:

     – Chim không ăn chuối đâu!

     – Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu. Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.

     Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:

     – Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?

     Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:

     – Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.

    – Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.

     Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…

     Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:

     – Mày ra ngoài nhánh chớ!

     Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen bay tới. Rõ là con chim vàng. Nó lượn mấy vòng, vừa sà cánh đáp, bỗng nó hốt hoảng vút lên kêu choe chóe.

     Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra:

     – Mày đừng rung chớ!

     Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:

     – Bào! “Con” nín thở cho êm con. Ráng con!

     Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt. Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh. Thằng Quyên há mồm hồi hộp:

     – Bắt mau, mau!

     – Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!

     Nghe tiếng nó là Bào thấy roi đòn đánh đập, thấy máu đổ như những trận đòn hôm trước. Bào cắn răng cho bớt run, nhè nhẹ thò tay ra, nhổm mình với tới, chụp dính con chim vàng. Chim chóe lên, mẹ con nó mừng quýnh, thằng Quyên nhảy dựng lên.

     – Được chim rồi!

     Vỗ tay bôm bốp. Bào có cảm giác như khi mình đuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên. Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi – Mặt Bào tối đen – Bào rơi xuống như trái thị. Mặt Bào đập vào gốc cây, máu, nước mắt đầm đìa cả mặt: “Trời ơi!” Con chim vàng cũng bị đập xuống đất, đầu bể nát. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, Bào nghe văng vẳng tiếng guốc, nghe mẹ con thằng Quyên kêu: “Trời ơi!”.

     Bào chống tay ngồi dậy, máu từ trên đầu chảy trên những chiếc lá quấn vào mình nhỏ giọt. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu. Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.

     Té ra, mẹ thằng Quyên thò tay nâng lấy xác con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!”.

(Nguyễn Quang Sáng)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định tình huống truyện của đoạn trích.

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau: “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.”.

Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét về nhân vật cậu bé Bào trong đoạn trích. Qua đó, tác giả gửi gắm tình cảm, thái độ gì?

147

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2

Là hoạt động đầy kịch tính đẩy nhân vật Bào 12 tuổi vào sự bất lực là sự cô đơn tột cùng khi cố gắng làm hài lòng chủ

Câu 3

Ngôi thứ ba

Người kể giấu mình gọi tên nhân vật

Tác dụng : mang tính khách quan , bao quát toàn cảnh , tăng sức biểu cảm, hấp dẫn.

Câu 4

Mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về sự khao khát tình yêu thương, sự hối hận muộn màng và bi kịch của chiến tranh thể hiện khát vọng sống và tình mẫu tử thiêng liêng

Câu 5

Nhân vật Bào trong đoạn trích "Con chim vàng" của Nguyễn Quang Sáng 

là một cậu bé nghèo khổ, khao khát tình thương và sự sở hữu, nhưng phải gánh chịu nỗi đau bất hạnh và sự cô đơn tột cùng Bào hiện lên là nạn nhân của hoàn cảnh, đáng thương hơn đáng trách, với tâm lý phức tạp vừa ngây thơ vừa u uất. Qua đó, tác giả thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh của trẻ em và sự phê phán ngầm sự bất công xã hội.

3 tháng 2


Câu 1 (0,5 điểm)



Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

(đan xen miêu tả và biểu cảm).





Câu 2 (0,5 điểm)



Tình huống truyện:

Bào bị ép buộc phải bắt con chim vàng cho cậu chủ; trong lúc liều mình trèo cây bắt chim, Bào bị ngã trọng thương còn con chim vàng thì chết.





Câu 3 (1,0 điểm)



  • Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
  • Tác dụng:
    Giúp người kể giấu mình, kể chuyện khách quan; đồng thời dễ khắc họa rõ số phận đáng thương của Bào và sự tàn nhẫn, vô cảm của mẹ con thằng Quyên.






Câu 4 (1,0 điểm)



Ý nghĩa chi tiết:

Chi tiết Bào đưa tay cầu cứu nhưng chỉ chạm vào khoảng không cho thấy:


  • Sự tuyệt vọng, cô độc đến cùng cực của Bào khi bị bỏ rơi.
  • Sự lạnh lùng, vô nhân đạo của mẹ thằng Quyên: bà ta chỉ quan tâm đến con chim chết, không hề đoái hoài đến tính mạng Bào.
    → Làm nổi bật bi kịch đau đớn của người ở đợ nghèo khổ.






Câu 5 (1,0 điểm)



Nhận xét về nhân vật Bào:


  • Là cậu bé hiền lành, cam chịu, đáng thương, sống trong sợ hãi và áp bức.
  • Dù bị đánh đập tàn nhẫn, Bào vẫn cố gắng làm theo mệnh lệnh để tồn tại.



Tình cảm, thái độ của tác giả:


  • Thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với trẻ em nghèo khổ.
  • Đồng thời lên án xã hội bất công, nơi con người bị đối xử tàn nhẫn hơn cả loài vật.




Câu 1

Bài làm

trong đoạn trích “Người trong bao” hiện lên là một con người kì quái, sống khép kín và luôn sợ hãi trước cuộc sống. Hắn lúc nào cũng tự bao bọc mình bằng những “cái bao” cụ thể: đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông; ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao. Không chỉ đồ vật, đến cả khuôn mặt hắn cũng như giấu sau cổ áo dựng đứng, tai nhét bông, ngồi xe thì kéo mui kín mít. Những chi tiết ấy cho thấy một con người luôn muốn cách ly bản thân khỏi thế giới xung quanh. Đáng sợ hơn, Bê-li-cốp còn sống trong “cái bao” tinh thần: chỉ tin vào chỉ thị, thông tư, sợ hãi mọi điều mới mẻ và gieo rắc nỗi sợ ấy cho cả thành phố. Hình tượng Bê-li-cốp là biểu tượng cho kiểu người bảo thủ, giáo điều, sống hèn nhát, kìm hãm sự phát triển của xã hội


Câu 2

Bài làm

Trong cuộc sống, mỗi người đều có cho mình một “vùng an toàn” – nơi quen thuộc, dễ chịu và ít rủi ro. Tuy nhiên, nếu mãi ở trong đó, con người sẽ khó có cơ hội phát triển. Vì vậy, bước ra khỏi vùng an toàn chính là điều cần thiết để trưởng thành và khẳng định bản thân.

Vùng an toàn có thể là những thói quen quen thuộc, những lựa chọn không đòi hỏi nỗ lực, hay tâm lí ngại thay đổi, sợ thất bại. Ở trong vùng an toàn, ta cảm thấy yên ổn, nhưng sự yên ổn ấy đôi khi lại là rào cản vô hình ngăn ta tiến xa hơn. Nếu không dám thử sức ở những điều mới mẻ, con người sẽ dễ trở nên trì trệ, tự giới hạn khả năng của mình.Bước ra khỏi vùng an toàn giúp ta khám phá năng lực tiềm ẩn và mở rộng giới hạn bản thân. Khi dám thử một môn học mới, tham gia một cuộc thi, hay đảm nhận một trách nhiệm khó khăn, ta buộc phải nỗ lực, học hỏi và thích nghi. Chính quá trình ấy rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và khả năng ứng biến trước thử thách. Thất bại có thể xảy ra, nhưng thất bại cũng là bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn. Không ai thành công mà chưa từng trải qua những lần vấp ngã.Trong xã hội hiện đại đầy biến động, việc dám thay đổi càng trở nên quan trọng. Thế giới không ngừng phát triển, nếu ta không bước ra khỏi giới hạn của chính mình, ta sẽ bị tụt lại phía sau. Những người thành công thường là những người dám nghĩ khác, dám làm khác và chấp nhận rủi ro để theo đuổi mục tiêu.Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là liều lĩnh hay hành động thiếu suy nghĩ. Đó là sự dũng cảm có tính toán, là tinh thần sẵn sàng học hỏi và đối diện với thử thách. Điều quan trọng là mỗi người cần xác định mục tiêu rõ ràng và chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết trước khi thay đổi.

Là một học sinh, tôi hiểu rằng nếu chỉ chọn những điều dễ dàng, tôi sẽ khó tiến bộ. Vì vậy, tôi cần mạnh dạn thử sức ở những lĩnh vực mới, rèn luyện kĩ năng và không ngại sai. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới thực sự sống hết mình và phát huy trọn vẹn giá trị của bản thân.


4 tháng 3

Nhân vật trung tâm của đoạn trích là: bê_li_cốp


(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:NGƯỜI TRONG BAO(Trích)      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NGƯỜI TRONG BAO

(Trích)

      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.

      - Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!

      Cả ý nghĩ của mình, Bê-li-cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.

      Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]

(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích.

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là "Người trong bao"?

Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn trích.

70
23 tháng 1 2025

Dạ theo em là như sau ạ :

Câu 1: PTBĐ chính đc sử dụng trong bài là : Tự Sự

Câu 2: Nhân vật xưng " tôi " là nhân vật trung tâm

Câu 3: Đoạn trích trên được sử dụng ngôi kể thứ Ba , người kể giấu mình giúp kể cả được những biểu hiện sâu kín nhất trong nội tâm nhân vật .

Câu 4:

-Chi tiết:

+ Hàng ngày đều đi giày cao su,

+cầm ô

+ nhất thiết cầm bành tô ấm cốt bông

+Chiếc đồng hồ quả quýt

+ Chiếc dao nhỏ để gọt bút chì

=> tất cả đều được đựng trong một cái bao

+ Mặt cũng được so sánh như ở trong chiếc bao vì lúc nào cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.

- Theo em lý do đoạn trích được đặt là " Người trong bao vì " Nhân vật chính của Câu chuyện được kể đến là một người cái gì cũng liên quan đến chiếc bao. Là một người có khát vọng mãnh liệt thu mình lại với thế giới giống như núp trong một cái bao và không muốn tiếp xúc với ai tự cô lập chính bản thân mình. Nên đoạn trích có tên " Người trong bao" là như thế.

Câu 5: Theo em bài học rút ra qua đoạn trích đó là :

+ Hãy sống một cuộc sống lành mạnh, vui tươi, hòa đồng với mọi người xung quanh để xây dựng một cuộc sống lành mạnh.

+ Không nên có tính cách thu mình lại với thế giới hay cô lập chính bản thân mình với mọi người xung quanh, học cách giao tiếp, cởi mở , thân thiện với mọi người xung quanh.

+ Hãy đối mặt với cuộc sống hiện tại và không nên quá bận tâm về quá khứ. trong quá khứ ai cũng có niềm vui và nỗi buồn riêng. Việc khơi gợi lại quá khứ là một chuyện không tốt.

Em mới có cấp hai< lớp 8> nên nếu có trả lời sai mong cô thông cảm ạ

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm).


Câu 2

Nhân vật trung tâm của đoạn trích là: Bê-li-cốp.

Câu 3 (1,0 điểm):

Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất (“tôi”)

Tác dụng:+Tạo cảm giác chân thực, khách quan vì người kể là người trong cuộc.

+Bộc lộ rõ thái độ, cảm xúc, sự đánh giá của người kể về Bê-li-cốp.

+Làm nổi bật tính cách kì quái, đáng sợ của nhân vật

Câu 4 (1,0 điểm):

Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:

+ Lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.

+ Ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao.

+ Giấu mặt sau cổ áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông, ngồi xe ngựa kéo mui lên.

+ Thích sống theo chỉ thị, thông tư; sợ hãi mọi thứ, làm mọi người xung quanh cũng sợ hãi.

Vì sao đặt nhan đề “Người trong bao”?

-Vì Bê-li-cốp luôn thu mình trong những “cái bao” vật chất (bao ô, bao đồng hồ…).

- Đồng thời đó là “cái bao” tinh thần: lối sống bảo thủ, sợ hãi, né tránh cuộc sống thực tại.
→ Nhan đề mang ý nghĩa biểu tượng, phê phán kiểu người sống khép kín, trì trệ.

Câu 5 (1,0 điểm):

Bài học rút ra:

- Không nên sống thu mình, sợ hãi, né tránh cuộc sống.

- Cần sống cởi mở, dám suy nghĩ, dám hành động.

-Phê phán lối sống bảo thủ, giáo điều làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.




Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NGƯỜI TRONG BAO (Trích)       Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NGƯỜI TRONG BAO

(Trích)

      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.

      - Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!

      Cả ý nghĩ của mình, Bê li cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.

      Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]

(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích?

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là Người trong bao?

Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn trích.

1
12 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2 Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê li cốp.

Câu 3 Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Tác dụng là tạo cảm giác chân thực, khách quan, giúp câu chuyện trở nên sinh động, tăng sức thuyết phục và thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể đối với nhân vật.

Câu 4 Những chi tiết miêu tả chân dung Bê li cốp như luôn đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông dù trời đẹp, ô để trong bao, đồng hồ để trong bao, dao gọt bút chì cũng để trong bao, giấu mặt sau cổ áo, đeo kính râm, nhét bông vào tai, luôn kéo mui xe ngựa, sống thu mình, sợ hãi hiện tại, chỉ tin vào các chỉ thị cấm đoán. Nhan đề Người trong bao vì nhân vật luôn thu mình trong những cái bao cụ thể và cả cái bao tinh thần, tượng trưng cho lối sống khép kín, bảo thủ, sợ hãi, xa lánh cuộc sống.

Câu 5 Bài học rút ra là con người không nên sống khép kín, sợ hãi, bảo thủ trước cuộc sống mà cần mở lòng, sống tích cực, dám thay đổi và hòa nhập để xã hội phát triển lành mạnh.


13 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

Câu 2 :

Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.



14 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận rất chặt chẽ và thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu ra luận điểm: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng người hiền tài. Để làm rõ điều đó, ông sử dụng cách lập luận logic từ xưa đến nay: dẫn chứng các triều đại trước biết tiến cử và trọng dụng nhân tài nên đất nước hưng thịnh. Những ví dụ lịch sử cụ thể giúp cho lập luận trở nên rõ ràng, tăng tính thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thực trạng đương thời: nhiều người tài còn ẩn mình, chưa được phát hiện hoặc chưa dám ra giúp nước. Từ đó, ông đưa ra chủ trương và giải pháp như khuyến khích các quan tiến cử người hiền tài, cho phép người có tài tự tiến cử. Cách lập luận vừa có lí lẽ vừa có dẫn chứng xác đáng, kết hợp giọng văn chân thành, khiêm nhường đã thể hiện rõ tinh thần cầu hiền, trọng dụng nhân tài. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tầm nhìn sâu sắc của người lãnh đạo.

Câu 2:

Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều hệ quả đáng lo ngại. Khi nhiều nhân tài ra nước ngoài làm việc, đất nước sẽ mất đi một nguồn lực trí tuệ quý giá để phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới, sáng tạo và giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hơn nữa, việc đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của xã hội. Nếu nguồn nhân lực đó không quay về đóng góp cho đất nước thì sẽ là một sự lãng phí lớn. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, Nhà nước cần xây dựng môi trường làm việc tốt hơn cho người tài, tạo điều kiện để họ nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng để khuyến khích và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, chuyên nghiệp và tôn trọng năng lực cá nhân cũng rất quan trọng. Ngoài ra, mỗi người trẻ khi được học tập và phát triển cũng cần ý thức trách nhiệm của mình đối với đất nước, sẵn sàng cống hiến trí tuệ và tài năng cho sự phát triển chung của xã hội. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là mong muốn chung của toàn xã hội. Khi người tài được trân trọng và tạo cơ hội phát triển, họ sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

17
23 tháng 1 2025

### Câu 1 (0.5 điểm): **Phương thức biểu đạt chính** được sử dụng trong bài là **nghị luận**. --- ### Câu 2 (0.5 điểm): **Chủ thể bài viết** là **vua Lê Lợi**. --- ### Câu 3 (1.0 điểm): **Mục đích chính của văn bản**: Kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước. **Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản**: - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa. - Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử. - Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng, tùy theo tài năng của người được tiến cử. --- ### Câu 4 (1.0 điểm): **Dẫn chứng minh chứng cho luận điểm**: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường: - Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình. - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. **Nhận xét về cách nêu dẫn chứng**: - Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. - Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục. --- ### Câu 5 (1.0 điểm): **Nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết**: - **Có trách nhiệm**: Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người tài giúp sức. - **Khiêm tốn và cầu thị**: Ông không câu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử. - **Sáng suốt và công bằng**: Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dựa trên tài năng và đức độ. - **Quan tâm đến hiền tài**: Hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.

12 tháng 3

Câu 1;

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2;

Chủ thể bài viết; Vua Lê Lợi

Câu 3;

Mục đích chính: Tìm kiếm và kiêu gọi những người hiền tài, có đức, có tài ra gánh vác việc nước, cùng nhà vua xây dựng và phát triển quốc gia sau khi đất nước đã thái bình.

Các đường lối tiến cử người hiền tài :

+Tự mình tiến cử.

+ Tự quan tiến cử .

+Dâng sớ hiến kế.

Câu 4.

Việc đầu tiên vua cần làm; Đó là chọn người hiền tài để giúp đất nước.

Dẫn chứng người viết đưa ra .

Nhận xét cách nêu dẫn chứng .

Câu 5;

Thông qua văn bản, chúng ta thấy chủ thể ( Vừa Lê Lợi) là một vị minh quân có những phẩm chất đáng quý.

+ Cầu thị và khiêm nhường.

+ Tầm nhìn xa trông rộng.

+ Tâm huyết với dân, với nước.

12 tháng 2

Xuân Diệu từng quan niệm “thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”. Câu nói ấy nhấn mạnh sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữa cảm xúc bên trong và vẻ đẹp ngôn từ bên ngoài của một tác phẩm thơ. Đọc “Thu rừng” của Huy Cận, ta có thể thấy rõ sự hòa quyện ấy, làm nên một bài thơ giàu giá trị thẩm mĩ và chiều sâu tâm trạng.

Trước hết, “hồn” của bài thơ chính là bức tranh thu nơi núi rừng cùng tâm trạng bâng khuâng, cô tịch của cái tôi thi sĩ. Huy Cận khắc họa không gian thu với những gam màu đặc trưng: sắc vàng của lá, vẻ trong veo của trời, sự tĩnh lặng của rừng núi. Thiên nhiên hiện lên vừa đẹp vừa vắng lặng, mang nét trầm buồn đặc trưng của hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng. Cảnh thu không chỉ là cảnh vật bên ngoài mà còn là sự phản chiếu tâm trạng. Đằng sau những hình ảnh rừng thu là nỗi buồn mênh mang, cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người giữa vũ trụ bao la. Nỗi buồn ấy không bi lụy mà thấm thía, sâu lắng, thể hiện cái nhìn nhạy cảm và tinh tế của nhà thơ.

Bên cạnh “hồn”, “xác” của bài thơ cũng rất giàu giá trị nghệ thuật. Huy Cận sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, nhiều hình ảnh gợi cảm, nhịp điệu chậm rãi, trầm lắng phù hợp với không khí mùa thu. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được vận dụng tinh tế, giúp cảnh thu trở nên sống động mà vẫn giữ được vẻ thanh sơ. Âm hưởng thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, kết hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc, tạo nên một giai điệu buồn man mác. Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ cảnh đến tình, từ ngoại cảnh đến nội tâm, khiến toàn bài có sự thống nhất và trọn vẹn.

“Thu rừng” vì thế không chỉ hay ở một vài câu thơ riêng lẻ mà hay “cả bài”. Từng hình ảnh, từng nhịp thơ đều góp phần tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa. Nội dung và hình thức nâng đỡ lẫn nhau, cảm xúc và nghệ thuật hòa quyện, làm nổi bật phong cách thơ Huy Cận: trầm buồn, suy tư mà tinh tế.

Qua việc cảm nhận “Thu rừng”, có thể thấy nhận định của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng. Một bài thơ thực sự hay phải là sự kết tinh của tâm hồn và tài năng, của chiều sâu cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật. Chính sự toàn vẹn ấy đã giúp thơ chạm đến trái tim người đọc và sống mãi với thời gian.