K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NÊN BỊ GAI ĐÂM          (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.          (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NÊN BỊ GAI ĐÂM

         (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.

         (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng vườn. Nắng chói đâu hay mình làm đau những giọt sương đậu hờ trên mép lá. Bụi bay đâu hay mình làm đau những làn hương. Con ong đâu hay tiếng đập cánh vụng về làm giật mình nụ hoa út ít. Lá rơi nào hay mình làm tổn thương giấc mơ của cánh chuồn kim thiêm thiếp sau ngọn cỏ góc ao.

         (3) Tiếng chuông rền làm tổn thương hoàng hôn. Bước chân mau làm tổn thương những con đường. Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ. Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió. Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ẩm ướt bên thềm.

         (4) Ngòi bút sắc làm đau trang giấy. Nét mực hoen làm đau con chữ gầy. Câu thơ suông làm tổn thương ánh đèn tri kỉ. Giọng ca trơn làm tổn thương điệu nhạc say đắm. Ngón tay bấm bâng quơ làm tổn thương bao âm giai ẩn trong mỗi phím đàn.

         (5) Lần lỗi hẹn làm đau điểm hẹn. Cái bắt tay ơ hờ làm đau nhịp tim sâu. Nụ cười tắt mau làm tổn thương những thắc thỏm mong cầu. Tiếng thở dài làm tổn thương ánh nhìn ngân ngấn. Thoáng chau mày làm đau giọt mồ hôi lau vội lúc cuối ngày.

         (6) Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh…

        (7) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa…

         (8) Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.

(Chu Văn Sơn)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung của văn bản trên.

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn (7).

Câu 4 (1.0 điểm): Trong câu văn: “Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.” Vì sao tác giả lại nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? 

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản là gì?

107
26 tháng 1

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm




Câu 2:

Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.



Câu 3:

Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.



Câu 4:

Vì sao tác giả nói: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.



Câu 5:

Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2:

Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.

Câu 3:

Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”…

→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.

→ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.

Câu 4:

Hình ảnh ẩn dụ “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn.

→ Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.

Câu 5:

Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

Đề thi đánh giá năng lực

4 tháng 2


Câu 1

Bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng của Nguyễn Đức Hạnh đã khắc họa cảm động số phận những người phụ nữ lao động nghèo giữa phố thị. Hình ảnh họ hiện lên với “những nhem nhuốc bên ngoài che giấu / bao ngọt lành, nóng hổi bên trong”, cho thấy vẻ lam lũ bề ngoài đối lập với tấm lòng giàu yêu thương. Tác giả đặc biệt xót xa trước thái độ “thờ ơ”, “rẻ rúng” của người qua đường, qua đó phê phán sự vô cảm của xã hội. Câu thơ “người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” là ẩn dụ giàu sức gợi, diễn tả sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Bài thơ sử dụng thể tự do, giọng điệu trữ tình, nhiều hình ảnh gần gũi như hạt ngô, mùi thơm bếp lửa, bờ vai cha… tạo nên không gian ấm áp mà day dứt. Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ và ngôn ngữ giản dị giúp người đọc thấu hiểu hơn những mảnh đời nhỏ bé. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng, cảm thông với những người lao động bình dị quanh ta.

Câu 2

Nghị luận về câu nói của Vivian Greene

“Cuộc sống không phải là để chờ đợi cơn bão đi qua, cuộc sống là để học được cách khiêu vũ trong mưa.” Câu nói của Vivian Greene gửi đến mỗi người thông điệp sâu sắc về thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Cuộc đời không phải lúc nào cũng êm đềm; khó khăn, thử thách giống như những cơn mưa bất chợt. Nếu chỉ đứng yên chờ bão tan, ta sẽ lãng phí thời gian và cơ hội. Điều quan trọng là dám bước vào “cơn mưa” ấy với bản lĩnh và niềm tin.

“Khiêu vũ trong mưa” là hình ảnh ẩn dụ cho việc chủ động thích nghi, biến nghịch cảnh thành trải nghiệm có ý nghĩa. Người biết sống tích cực sẽ không gục ngã trước thất bại mà xem đó là bài học để trưởng thành. Lịch sử và thực tế đã chứng minh nhiều con người thành công nhờ dám đối diện thử thách: những vận động viên vượt chấn thương để chạm tới huy chương, những học sinh nghèo nỗ lực học tập để đổi thay số phận. Chính tinh thần lạc quan giúp họ mạnh mẽ hơn sau mỗi lần vấp ngã.

Ngược lại, nếu chỉ than thân trách phận, con người dễ rơi vào bi quan, bỏ lỡ cơ hội hoàn thiện mình. Cuộc sống hiện đại đầy biến động: áp lực học tập, công việc, dịch bệnh, thiên tai… Tất cả đều là “những cơn bão” không thể tránh. Thái độ đúng đắn không phải trốn chạy mà là rèn luyện kĩ năng, ý chí để vượt qua. Biết tìm niềm vui trong gian khó, ta sẽ giữ được cân bằng và khám phá nhiều giá trị mới.

Tuy nhiên, “khiêu vũ trong mưa” không có nghĩa là liều lĩnh bất chấp, mà cần đi cùng sự tỉnh táo và chuẩn bị. Mỗi người phải trang bị tri thức, sức khỏe, kĩ năng sống và sự sẻ chia với cộng đồng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường để thế hệ trẻ học cách đối diện thử thách một cách nhân văn.

Là học sinh, em nhận thấy mình phải tập sống chủ động: không nản chí khi điểm số chưa như ý, không né tránh khó khăn mà cố gắng từng ngày. Em sẽ rèn luyện ý chí, nuôi dưỡng ước mơ và lan tỏa năng lượng tích cực tới bạn bè. Bởi chỉ khi dám “khiêu vũ trong mưa”, ta mới cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc sống.

Câu nói của Vivian Greene nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở hoàn cảnh thuận lợi mà ở cách con người đối diện hoàn cảnh. Hãy sống bản lĩnh, lạc quan để biến mỗi cơn mưa cuộc đời thành điệu nhảy của niềm tin và hi vọng.


Câu 1:

Bài thơ "Những người đàn bà bán ngô nướng" của Nguyễn Đức Hạnh là một tiếng lòng xót xa và trân trọng đối với những thân phận lao động nghèo. Về nội dung, tác phẩm khắc họa hình ảnh người phụ nữ lam lũ, "nhem nhuốc" bên lề đường, nhưng ẩn sâu bên trong là cả một tấm lòng hy sinh cao cả: "bán dần từng mảnh đời mình nuôi con". Bài thơ không chỉ tả thực cái nghèo mà còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn — những giá trị "ngọt lành, nóng hổi" bền bỉ như hương vị của bắp ngô nướng dù trải qua "cháy" vẫn "còn thơm". Về nghệ thuật, thể thơ tự do giúp mạch cảm xúc tuôn trào tự nhiên. Tác giả sử dụng thành công thủ pháp đối lập giữa cái nhìn "thờ ơ" của người đời với sự tận hiến của người mẹ, cùng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như "mảnh đời", "hạt ngô - giọt lệ". Qua đó, bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc niềm thấu cảm sâu sắc và bài học về thái độ trân trọng đối với những giá trị bình dị mà thiêng liêng trong cuộc sống.




1 tháng 2

Câu 1:

Bài thơ “Tự miễn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu chiều sâu tư tưởng, thể hiện rõ phong cách sống giản dị, khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm cao cả của Người. Qua bài thơ, Bác bày tỏ thái độ tự giác từ chối những sự ưu đãi, chăm sóc đặc biệt dành cho cá nhân mình, bởi trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều gian khổ, nhân dân còn chịu nhiều thiếu thốn, Người không cho phép bản thân hưởng thụ hơn đồng bào. “Tự miễn” không phải là sự khắc khổ cực đoan, mà là biểu hiện của lối sống vì dân, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Giọng thơ nhẹ nhàng, mộc mạc nhưng chứa đựng sức thuyết phục lớn, toát lên vẻ đẹp nhân cách cao quý của một vị lãnh tụ luôn tự soi xét bản thân, luôn giữ mình trong khuôn khổ đạo đức cách mạng. Qua đó, bài thơ không chỉ phản ánh tâm hồn thanh cao của Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm bài học sâu sắc cho mỗi người: sống giản dị, biết tự điều chỉnh bản thân, không sa vào đặc quyền, đặc lợi, luôn đồng cảm và sẻ chia với nhân dân. Chính những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại làm nên tầm vóc lớn lao của Bác trong lòng dân tộc.

Câu 2:

Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Không ai sinh ra đã bước đi trên con đường bằng phẳng, cũng không có thành công nào đến mà không phải trả giá bằng khó khăn và nỗ lực. Thử thách có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: là biến cố lớn của dân tộc, là những gian nan của thời đại, hoặc chỉ là những trở ngại nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày. Dù ở hình thức nào, thử thách cũng mang trong mình một ý nghĩa quan trọng: tôi luyện ý chí, giúp con người trưởng thành và nhận ra giá trị thật sự của bản thân. Chính trong nghịch cảnh, con người mới hiểu mình là ai và có thể đi xa đến đâu.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng thử thách chính là phép thử khắc nghiệt nhưng cần thiết để làm nên những bước ngoặt lớn lao. Trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dân tộc ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: ách thống trị tàn bạo của thực dân phong kiến, nạn đói khủng khiếp năm 1945 cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, lực lượng cách mạng còn non trẻ, thiếu thốn đủ bề. Nhưng chính trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta đã được hun đúc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thử thách không quật ngã được dân tộc, mà trái lại, đã làm bùng lên khát vọng độc lập, tự do, dẫn tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám. Trong đời sống cá nhân, thử thách cũng hiện diện ở những điều tưởng như rất nhỏ: áp lực học tập, những lần thất bại, những kỳ thi quan trọng như kỳ thi đại học. Có người từng chùn bước trước điểm số không như mong muốn, từng hoang mang trước tương lai mờ mịt, nhưng chính những khó khăn ấy buộc con người phải nỗ lực hơn, kỷ luật hơn và trưởng thành hơn. Không ít người đã vấp ngã trong lần thi đầu tiên, để rồi đứng dậy mạnh mẽ hơn và chạm tay tới ước mơ bằng chính nghị lực của mình.

Như vậy, thử thách trong cuộc sống không phải là điều để sợ hãi, mà là cơ hội để con người rèn luyện bản thân và khẳng định giá trị sống. Nếu không có thử thách, con người sẽ dễ bằng lòng với hiện tại, thiếu bản lĩnh trước sóng gió. Điều quan trọng không phải là tránh né khó khăn, mà là học cách đối diện, vượt qua và bước tiếp với niềm tin vững vàng. Khi hiểu đúng ý nghĩa của thử thách, ta sẽ nhận ra rằng mỗi gian nan đi qua đều để lại một bài học quý giá, giúp con người sống sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn tới thành công.



Câu 1:

Bài thơ "tự khuyên mình "(tự miễn) Của Hồ Chí Minh một làm bản lĩnh thép, Thể hiện tinh thần lạc quan và ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù tày. Mở đầu bài thơ, tác giả mượn quy luật của thiên nhiên: "ví không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân "để dẫn dắt một chân lý cuộc đời. Hình ảnh ấn dụ đông tàn đại diện cho những gian khổ ,khắc nghiệt ,còn "ngày xuân" chính là biểu tượng của thành công và tương lai tươi sáng. Qua đó bác khẳng định gian truân không phải là giao cảm mà là tiền đề tất yếu để ý tới vinh quang. Đến hai câu cuối, ý thơ chuyển từ quy luật khách quan sang tự rèn luyện chủ quan: "nghĩ mình trong bước gian truân /tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao".Đối với người, khó khăn không chỉ là thử thách mà còn là "trường học "để tôi luyện ý chí. Điệp từ và cấu trúc đối lập đã làm nổi bật triết lý khổ tận cam lai hết khổ sự sẽ đến lúc vui sướng. Bài thơ không chỉ là lời động viên bản thân trong chốn lao tù mà còn là bài học sâu sắc cho chúng ta về thái độ sống: cần giữ vững niềm tin và bản lĩnh để biến nghịch cảnh thành động lực vươn lên với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc tự khuyên mình mãi là bài ca về tinh thần lạc quan cách mạng.

Câu 2:

Trong cuộc sống của mỗi người, con đường đi tới thành công chưa bao giờ là một đường thẳng trải đầy hoa hồng. Để chạm tới đỉnh vinh quang hay đơn giản là sự trưởng thành, chúng ta đều phải bước qua những khúc quanh đầy xỏi đá . Đó chính là những thử thách phân tích yếu và mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của con người.

Trước hết, thử thách chính là "thước đo "chính xác nhất cho năng lực và bản lĩnh của mỗi cá nhân. Nếu cuộc sống cứ mãi bình lặng , chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giới hạn của bản thân mình ở đâu. Giống như viên kim cương chỉ có thể toả sáng sau quá trình chịu áp lực cực lớn, con người cũng chỉ thực sự bộc lộ những tổ chất tiềm ẩn khi rơi vào nghịch cảnh. Khi đối mặt với khó khăn, chúng ta buộc phải suy nghĩ, sáng tạo và vận động hết công suất để tìm ra lối thoát. Chính là quá trình giúp ta rèn luyện sự kiên trì, lòng dũng cảm và tích lũy được những kinh nghiệm quý báo mà không trường lớp nào có thể giảng dạy được. Bên cạnh đó thủ thách còn giúp chúng ta nhìn nhận cuộc sống 1 cách sâu sắc hơn. Như Bác hồ đã từng viết trong bài thơ tự miễn: "vì không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân". Những gian nan chính là trình để cho sự thành công. Nếu không có những ngày đông giá rét, chúng ta sẽ chẳng thể cảm nhận được cái ấm áp và rực rỡ của mùa xuân. Tương tự, nếu không trải qua thất bại, ta sẽ không biết quý trọng hương vị của chiến thắng. Thử thách dạy ta biết khiêm tốn, biết trân trọng những gì mình đang có và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn đối với những người cũng đang gặp khó khăn xung quanh mình. Hơn thế nữa, thử thách là môi trường để rèn luyện tinh thần lạc quan và niềm tin một người có bản lĩnh không phải là người chưa từng thất bại, mà là người dám đứng lên từ chính những đổ nát của thử thách. Thay vì coi khó khăn là một tảng đá ngán đường, những người thành công thường coi đó là những nấc thang để bước cao hơn. Khi vượt qua một thử thách , Niềm tin vào bản thân sẽ được cũng cố, tạo ra một nguồn năng lượng nội tại mạnh mẽ để ta sẵn sàng Đối mặt với những cơn bão lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn không ít người chọn cách trốn tránh hoặc dễ dàng gục ngã trước thử thách. Thái độ bi quan, chán nản chỉ khiến con người trở nên yếu đuối và dần bị tụt lại phía sau. Chúng ta cần hiểu rằng, thử thách không sinh ra để tiêu diệt chúng ta, mà để giúp chúng ta "thay đổi da thịt "trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình.

Thử thách là một gia vị không thể thiếu để tạo nên sự đậm đà cho món ăn cuộc đời. Đừng cầu nguyện cho cuộc sống không có khó khăn, hãy cầu nguyện cho mình có một đôi vai đủ sức gánh vác và một tinh thần thép để vượt qua mọi sóng gió. Hãy đón nhận thử thách với tâm thế của một chiến sĩ bởi phía sau mỗi "cảnh đông tàn "chắc chắn sẽ có ngày xuân huy hoàng đang "chờ đợi.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:                                 TỰ MIỄN                         (Tự khuyên mình) Phiên âm:                Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,                Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;                Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,                Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương. Dịch nghĩa:        ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

                                TỰ MIỄN

                        (Tự khuyên mình)

Phiên âm:

               Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

               Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

               Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

               Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

Dịch nghĩa:

               Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,

               Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;

               Tai ương rèn luyện ta,

               Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.

Dịch thơ:

                     Ví không có cảnh đông tàn,

               Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

                     Nghĩ mình trong bước gian truân,

               Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

170
25 tháng 1 2025

1 PTBT Chính đc sử dụng trong bài thơ là biểu cảm kết hợp với tự sự

2 thất ngôn tứ tuyết

3 là tương phản

4. là cơ hội để rèn luyện,thử thách bản thân

5 Khó khăn,thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống và là cơ hội đề con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn

1 tháng 2

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

Câu 2:

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt đường luật

Câu 3:

- Biện pháp tu từ: phép đối

+ "Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh"

(Ví có cảnh đông tàn tiều tụy)

+ "Tương vô xuân noãn đích huy hoàng" (Thì đâu có cảnh xuân ấm áp huy hoàng)

- Phân tích:

+ Sự đối lập giữa "đông hàn" (mùa đông lạnh lẽo, tiêu điều) và "xuân noãn" (mùa xuân ấm áp, huy hoàng) tạo nên hình ảnh tương phản mạnh mẽ.

+ Hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: cảnh đông tàn (gian truân, tai ương) là tiền đề để có được mùa xuân huy hoàng (thành công, cuộc sống tươi đẹp).

Câu 4:

- Đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa:

+ Đối với nhân vật trữ tình (Hồ Chí Minh), tai ương có ý nghĩa tích cực là cơ hội để rèn luyện và tôi luyện bản lĩnh, tinh thần, ý chí thêm vững vàng, kiên cường.

+ Câu thơ "Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng" thể hiện rõ điều này. Thay vì bi quan, nản lòng, Bác Hồ coi những gian nan trong tù ngục là môi trường để tự thử thách, từ đó khiến tinh thần mình trở nên mạnh mẽ hơn. 

Câu 5:

- Bài học ý nghĩa nhất là về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Bài thơ dạy chúng ta rằng trong cuộc sống gian truân, thử thách là điều không thể tránh khỏi nhưng chính những khó khăn đó lại là chất xúc tác, là cơ hội để mỗi người tự rèn luyện, trưởng thành và vươn đến thành công, hạnh phúc. Chúng ta cần giữ vững niềm tin, ý chí và không ngừng nỗ lực vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống.





13 tháng 4 2025

Câu 1

Bài thơ "Ca sợi chỉ" của Hồ Chí Minh mượn hình ảnh sợi chỉ để gửi gắm thông điệp sâu sắc về sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc. Ban đầu, sợi chỉ tượng trưng cho mỗi cá nhân yếu ớt, nhỏ bé, “ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời”. Nhưng khi các sợi chỉ “họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều”, chúng dệt nên tấm vải “bền hơn lụa, lại điều hơn da” đó là hình ảnh ẩn dụ cho một tập thể vững chắc khi biết gắn bó, đoàn kết. Hồ Chí Minh sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, để làm nổi bật sự chuyển hóa từ yếu ớt đến mạnh mẽ của sợi chỉ, đồng thời nhấn mạnh vai trò của đoàn kết trong công cuộc kháng chiến. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng đầy sức gợi, kết thúc bằng lời kêu gọi chân thành “Việt Minh hội ấy mau mau phải vào” như một lời nhắn gửi thiết tha tới toàn dân. Qua đó, bài thơ không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn là bài học sâu sắc về tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng


Câu 2

Trong cuộc sống, không ai có thể sống và phát triển một mình. Mỗi người đều là một phần của tập thể, cộng đồng. Vì thế, đoàn kết , gắn bó, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau luôn là yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh. Ông cha ta đã từng dạy “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" Câu nói giản dị ấy đã khẳng định vai trò to lớn của sự đoàn kết trong cuộc sống con người

Trước hết, đoàn kết giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Khi mỗi người biết cùng nhau chia sẻ, hỗ trợ, mọi công việc dù khó khăn đến đâu cũng sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Một cá nhân có thể yếu ớt, nhưng khi nhiều người cùng đồng lòng, họ sẽ tạo nên một sức mạnh vững chắc. Cũng như những sợi chỉ nhỏ bé, khi kết lại với nhau sẽ dệt nên tấm vải bền đẹp, con người khi gắn bó sẽ tạo nên một tập thể mạnh mẽ

Trong lịch sử dân tộc, tinh thần đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu giúp nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù. Từ thời Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, toàn dân đã cùng nhau đứng lên bảo vệ đất nước. Sự gắn bó, đồng lòng của nhân dân từ miền xuôi đến miền ngược, từ già đến trẻ đã tạo nên sức mạnh vô địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta"

Không chỉ trong chiến tranh, đoàn kết còn rất quan trọng trong học tập và làm việc. Một lớp học chỉ có thể tiến bộ khi các bạn biết giúp đỡ nhau cùng học tốt. Một nhóm làm việc chỉ hiệu quả khi các thành viên biết lắng nghe, phối hợp. Gia đình cũng chỉ hạnh phúc khi mọi người biết yêu thương, nhường nhịn. Như vậy, đoàn kết chính là chìa khóa để xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và xã hội văn minh

Ngược lại, nếu thiếu đoàn kết, con người dễ rơi vào mâu thuẫn, tranh cãi, thậm chí chia rẽ. Một tập thể không có sự gắn bó sẽ yếu ớt, dễ tan rã. Lợi ích chung bị ảnh hưởng, mục tiêu lớn không thể thực hiện được. Vì vậy, mỗi người cần học cách tôn trọng, lắng nghe và đặt lợi ích tập thể lên trên cá nhân để xây dựng sự đoàn kết vững chắc

Tóm lại, đoàn kết là sức mạnh to lớn giúp con người vượt qua khó khăn, tạo nên những thành tựu lớn lao. để lớp học, trường học phát triển, mỗi học sinh cần đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết chính là góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh và tốt đẹp hơn


14 tháng 4 2025

Câu1:

Bài thơ "Ca sợi chỉ" của tác giả Hồ Chí Minh là một tác phẩm mang nhiều bài học sâu sắc, thể hiện tư tưởng nhân đạo và tinh thần cách mạng của Bác Hồ. Sợi chỉ là một vật nhỏ bé, quen thuộc, giản dị và thiết thực trong đời sống, tác giả Hồ Chí Minh đã gửi gắm những bài học về tinh thần đoàn kết, gắn bó và trách nhiệm trong công việc chung của tập thể. Những câu thơ “ Càng dài lại càng mỏng manh,

             Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!

               Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

      Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                 Dệt nên tấm vải mỹ miều,

        Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da"

Qua lối miêu tả chiều dài và cách nhìn nhận sợi chỉ từ góc nhìn của người ngoài, tác giả đã lấy hình ảnh sợi chỉ để gợi ra hình ảnh con người, phần nào làm rõ khả năng của một cá nhân khi ở riêng lẻ và khi ở trong tập thể. Nhấn mạnh sức mạnh chung, đồng thời là trách nhiệm của một cá nhân với tập thể. Bài thơ sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc, gần gũi, đồng thời là ngôn ngữ mộc mạc giàu sức miêu tả, khiến thông điệp truyền tải trở nên sâu sắc nhưng dễ cảm nhận. 2 câu thơ cuối           

              "Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

    Việt Minh hội ấy mau mau phải vào."

Là 1 lời kêu gọi xuyên thời gian, kêu gọi nhân dân trong quá khứ và khơi gợi mãnh liệt tình yêu nước của những người trẻ hiện tại của chủ tịch Hồ Chí Minh. "Ca sợi chỉ" không chỉ là một bài thơ giàu nghệ thuật mà còn là lời nhắn gửi về tinh thần trách nhiệm, đoàn kết và ý nghĩa của sự cống hiến trong cuộc sống.

Câu 2:

Đoàn kết là một trong những phẩm chất quan trọng nhất để xây dựng nên một tập thể vững mạnh và xã hội phát triển. Từ ngàn đời nay, ông cha ta đã khẳng định: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, nhấn mạnh vai trò to lớn của tinh thần đoàn kết trong đời sống con người. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, sự gắn bó, đồng lòng giữa các cá nhân cũng luôn là nền tảng tạo nên thành công.

Đoàn kết không chỉ đơn thuần là việc cùng làm một việc gì đó, mà còn là sự thấu hiểu, cảm thông, sẵn sàng chia sẻ và cùng hướng tới một mục tiêu chung. Khi mọi người biết gạt bỏ lợi ích cá nhân, biết hỗ trợ và nâng đỡ lẫn nhau, thì sức mạnh được tạo ra sẽ lớn hơn rất nhiều so với nỗ lực riêng lẻ. Một tập thể thống nhất sẽ có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách mà nếu đi một mình, ta khó có thể vượt qua. Câu chuyện bó đũa vẫn luôn là minh chứng rõ ràng nhất: một chiếc đũa dễ bị bẻ gãy, nhưng cả bó đũa thì lại rất cứng cáp.

Trong lịch sử dân tộc, tinh thần đoàn kết đã làm nên những chiến thắng vẻ vang. Nhờ sự đồng lòng của toàn dân mà chúng ta đã vượt qua những thời kỳ gian khổ, chiến thắng thực dân, đế quốc, giành lại độc lập tự do. Không có sự đoàn kết, sẽ không có một Việt Nam vững mạnh và kiên cường như hôm nay. Trong thời kỳ hiện đại, khi đại dịch COVID-19 lan rộng, tinh thần đoàn kết của người dân cả nước – từ bác sĩ, chiến sĩ, đến những người dân thường đã góp phần kiểm soát dịch bệnh và lan tỏa tình người giữa cuộc sống đầy biến động.

Không chỉ trên bình diện quốc gia, đoàn kết còn cần thiết trong từng môi trường nhỏ hơn như trường lớp, cơ quan, hay chính gia đình. Một lớp học có tinh thần gắn bó, biết hỗ trợ nhau trong học tập sẽ tạo nên môi trường tích cực, thân thiện. Một gia đình đoàn kết là nền tảng để nuôi dưỡng yêu thương, giáo dục con người. Một tập thể làm việc biết cùng hướng về mục tiêu chung sẽ luôn phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn.

Tuy nhiên, xây dựng sự đoàn kết không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi mỗi người phải biết tôn trọng người khác, biết lắng nghe, chia sẻ và hy sinh cái tôi cá nhân vì lợi ích chung. Sự đoàn kết thực sự đến từ sự chân thành, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng cao.

      Đoàn kết là một sức mạnh to lớn, là chiếc cầu nối giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể. Trong thời đại ngày nay, khi thế giới ngày càng phức tạp và cạnh tranh gay gắt, tinh thần đoàn kết lại càng trở nên cần thiết. Là một người trẻ, chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của đoàn kết, và góp phần xây dựng một xã hội yêu thương, gắn bó và vững mạnh hơn

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:                                CA SỢI CHỈ                        Mẹ tôi là một đoá hoa,                Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.                        Xưa tôi yếu ớt vô cùng,                Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.                        Khi tôi đã thành chỉ rồi,              ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

                               CA SỢI CHỈ

                       Mẹ tôi là một đoá hoa,

               Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.

                       Xưa tôi yếu ớt vô cùng,

               Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.

                       Khi tôi đã thành chỉ rồi,

               Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,

                       Mạnh gì sợi chỉ con con,

               Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!

                       Càng dài lại càng mỏng manh,

               Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!

                       Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

               Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                       Dệt nên tấm vải mỹ miều,

               Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

                       Đố ai bứt xé cho ra,

               Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

                       Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,

               Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.

                       Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

               Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

                       Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

               Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

                       Dệt nên tấm vải mỹ miều,

               Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

                       Đố ai bứt xé cho ra,

               Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

313
24 tháng 2 2025

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.

Câu 2:

Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.

Câu 3:

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là nhân hóa, sợi chỉ cũng có ý thức, có bạn bè: 

Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Thể hiện rằng khi hợp lại, những sợi chỉ có thể có sức mạnh phi thường.

=> Tình đoàn kết.

*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh: 

Dệt nên tấm vải mỹ miều,

Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.

Câu 4:

- Đặc tính của sợi chỉ: Mỏng manh nhưng dẻo dai, có thể hợp lại với các sợi chỉ khác để tạo nên cái đẹp và sự bền vững.

- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết.

Câu 5:

- Bài học: Sức mạnh của tình đoàn kết tạo ra những thắng lợi vẻ vang.

- Ý nghĩa: Phải biết yêu đồng bào, yêu dân tộc, biết nhường nhịn và cùng nỗ lực để đạt đến thành công.

24 tháng 2 2025

Câu 2 bông hoa

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ cho thấy thái độ của người đi đường với người đàn bà bán ngô nướng. Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:  Người đi qua thờ ơ Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ cho thấy thái độ của người đi đường với người đàn bà bán ngô nướng.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ: 

Người đi qua thờ ơ
Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống
Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm
Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con

Câu 4. Trình bày mạch cảm xúc của bài thơ. 

Câu 5. Nêu một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc bài thơ và lí giải. 

Bài đọc:

         Những người đàn bà bán ngô nướng

Những người đàn bà bán ngô nướng
Bày số phận mình bên đường
Những nhem nhuốc bên ngoài che dấu
Bao ngọt lành, nóng hổi bên trong

Người đi qua thờ ơ
Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống
Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm
Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con

Tôi ngồi xuống hai bàn tay ấp ủ
Một tuổi thơ lam lũ ruộng bùn
Cắn vào kí ức
Từng hạt ngô rơi
         Những kỉ niệm lon ton
Những hạt ngô - những giọt lệ của mẹ
Những mắt tròn xoe đói khát em thơ
Không dám cắn nữa
            áp bắp ngô lên má
Hình như là nồng ráp ổ rơm?
Hình như là bờ vai cha mằn mặn
Che gió mùa, ấp ủ… nửa đêm…
Người bán Ngô thổi hồng bếp lửa
Xoay những mảnh đời dù cháy vẫn còn thơm!

         (Nguyễn Đức Hạnh, trích Khoảng lặng, NXB Đại học Thái Nguyên, 2016, tr.107-108)

5

Câu 1: thể thơ tự do

Câu 2: thái độ người đi đường thờ ơ

Câu 3: biện pháp tu từ: nhân hóa

4 tháng 2


Câu 1. Thể thơ của văn bản

→ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2. Những từ ngữ thể hiện thái độ của người đi đường

Các từ ngữ:

  • “thờ ơ”
  • “rẻ rúng cầm lên vứt xuống”

→ Thể hiện thái độ lạnh nhạt, vô cảm, coi thường của một bộ phận người qua đường đối với người đàn bà bán ngô nướng.

Câu 3. Biện pháp tu từ và tác dụng

Biện pháp:

  • Ẩn dụ: “Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” → “bán mảnh đời” ẩn dụ cho việc lao động nhọc nhằn, đánh đổi sức lực và tuổi xuân để mưu sinh.
  • Đối lập: giữa thái độ “thờ ơ, rẻ rúng” của người qua đường với sự hi sinh thầm lặng của người mẹ.

Tác dụng:

  • Làm nổi bật nỗi cơ cực của người phụ nữ nghèo.
  • Tố cáo sự vô cảm của xã hội.
  • Khơi gợi lòng thương cảm, trân trọng đối với những người lao động lam lũ.

Câu 4. Mạch cảm xúc của bài thơ

→ Mạch cảm xúc đi từ:

  • Sự quan sát hình ảnh những người đàn bà bán ngô nướng bên đường;
  • → Xót thương, day dứt trước cuộc mưu sinh nhọc nhằn và thái độ vô cảm của người đời;
  • → Cuối cùng là sự thấu hiểu, trân trọng và biết ơn đối với những hi sinh thầm lặng của người mẹ, người phụ nữ lao động.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Thông điệp em tâm đắc:

→ Cần biết yêu thương, trân trọng những người lao động nghèo, đừng sống vô cảm trước nỗi khổ của người khác. Bởi đằng sau những gánh hàng nhỏ bé là cả một cuộc đời hi sinh vì con cái và gia đình.

Lí giải:

Sự thờ ơ của con người có thể làm nỗi đau thêm nặng nề, còn một chút cảm thông sẽ sưởi ấm những phận đời cơ cực.


20 tháng 1 2025

Lớp 12 ☠

9 tháng 2

huhu

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội.  Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn.  Câu...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. 

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản và lí giải. 

Bài đọc:

Sống mòn

       Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.

       Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.

       Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...

       Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?

(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)

Chú thích: 

(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.

26
20 tháng 1 2025

Ưạ

4 tháng 2


Câu 1. Ngôi kể

→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội

  • “sống rụt rè hơn, sền so hơn, sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
  • “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê”
  • “chẳng có việc gì làm, sẽ ăn bám vợ”

→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.

Câu 3. Biện pháp tu từ

“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

  • Biện pháp: so sánh – ẩn dụ “phế nhân”.
  • Tác dụng: nhấn mạnh cảm giác vô dụng, tuyệt vọng của Thứ; thể hiện bi kịch người trí thức trước xã hội cũ.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ

  • Ở Sài Gòn: nhiều ước mơ, tin vào tương lai.
  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, thực dụng, cam chịu, chỉ lo cơm áo.

→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Văn bản gửi gắm thông điệp:

→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.

Lí giải:

Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.