K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

16 tháng 4

Câu 1.
Gọi số proton của M là ZM, của X là ZX

Vì trong hạt nhân M, số nơtron nhiều hơn số proton 4 hạt nên
NM = ZM + 4
⇒ A_M = ZM + NM = 2ZM + 4

Vì trong hạt nhân X, số nơtron bằng số proton nên
NX = ZX
⇒ A_X = ZX + NX = 2ZX

Tổng số proton trong MX2 là 58 nên
ZM + 2ZX = 58 (1)

M chiếm 46,67% khối lượng trong MX2 nên
A_M / (A_M + 2A_X) = 46,67% = 7/15 (2)

Thay A_M = 2ZM + 4, A_X = 2ZX vào (2):
(2ZM + 4) / (2ZM + 4 + 4ZX) = 7/15

Rút gọn:
15(2ZM + 4) = 7(2ZM + 4 + 4ZX)
30ZM + 60 = 14ZM + 28 + 28ZX
16ZM + 32 = 28ZX
4ZM + 8 = 7ZX (3)

Từ (1):
ZM = 58 - 2ZX

Thế vào (3):
4(58 - 2ZX) + 8 = 7ZX
232 - 8ZX + 8 = 7ZX
240 = 15ZX
ZX = 16

Suy ra
ZM = 58 - 2.16 = 26

Vậy
A_M = 2.26 + 4 = 56
A_X = 2.16 = 32

Câu 2.
Nguyên tố có Z = 26 là Fe
Nguyên tố có Z = 16 là S

Vậy công thức phân tử của hợp chất là
FeS2

Giải thích, FeS2 chính là pirit sắt, từng được dùng để tạo tia lửa trong cơ chế đánh lửa của súng cổ.

26 tháng 11 2024

Đây là bài văn nhé:>>>

Phân tích bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ là một tác phẩm nổi bật, thể hiện sự cảm thông sâu sắc và nỗi tiếc thương của tác giả đối với người vợ hiền, qua đó phản ánh những giá trị nhân văn sâu sắc trong tình vợ chồng, sự hy sinh và tình nghĩa. Bài thơ có nét đặc trưng của thể thơ trữ tình, mang đậm cảm xúc và được viết dưới hình thức một lời thở than đầy xót xa.

1. Bố cục và hình thức:

Bài thơ chia thành hai phần chính:

  • Phần một: Mở đầu bài thơ, tác giả mô tả tình cảm và sự thương xót của mình đối với người vợ hiền. Những lời ca ngợi về phẩm hạnh của người vợ, những công lao của bà đối với gia đình, với chồng con.
  • Phần hai: Tiếp theo, tác giả bày tỏ sự tiếc nuối và đau đớn khi mất đi người vợ yêu thương, đây là phần thể hiện cảm xúc tiếc thương và sự ân hận.
2. Nội dung và ý nghĩa:

Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh người vợ hiền, là một người phụ nữ có đức hạnh, chăm lo cho gia đình, luôn hi sinh và chịu đựng trong âm thầm. Từ cách miêu tả của tác giả, người vợ hiện lên như một biểu tượng của lòng hy sinh vô bờ bến, tận tụy với gia đình, hết lòng yêu thương chồng con.

“Khóc người vợ hiền” là nỗi xót xa của người chồng khi mất đi người vợ, một người phụ nữ hiền lành, đức độ, không một lời kêu ca, oán trách. Đây cũng là hình ảnh đặc trưng của người phụ nữ trong xã hội cũ – những người luôn làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình mà không bao giờ đòi hỏi sự công nhận.

Tú Mỡ không chỉ thương tiếc về sự ra đi của người vợ mà còn bày tỏ nỗi ân hận vì không thể đền đáp lại những công lao của bà khi còn sống. Điều này thể hiện qua những câu thơ đầy tiếc nuối và day dứt. Nỗi đau của tác giả không chỉ là sự mất mát về mặt vật chất mà còn là sự đánh mất đi một tình yêu thương, một nguồn động viên lớn lao trong cuộc sống.

3. Cảm xúc và thái độ của tác giả:

Qua bài thơ, cảm xúc của tác giả rất mạnh mẽ và sâu sắc. Tú Mỡ thể hiện sự đau đớn, tiếc nuối qua những lời thơ thành thật, chân tình. Nhân vật "tôi" trong bài thơ không chỉ khóc thương cho người vợ đã khuất mà còn tự trách bản thân vì đã không làm tròn bổn phận với người vợ hiền, không trân trọng những gì bà đã hy sinh.

Thái độ của tác giả trong bài thơ vừa là sự tôn trọng đối với người vợ, vừa là sự tự nhận thức về những thiếu sót của chính mình. Điều này khiến bài thơ không chỉ là lời khóc than cho một người đã khuất mà còn là bài học về lòng biết ơn và sự trân trọng đối với những người thân yêu xung quanh.

4. Nghệ thuật và cách diễn đạt:

Tú Mỡ sử dụng nhiều biện pháp tu từ để làm nổi bật cảm xúc trong bài thơ. Lối viết mộc mạc, giản dị nhưng lại rất sâu lắng, dễ dàng đi vào lòng người đọc. Hình ảnh người vợ hiền được khắc họa với những từ ngữ hết sức trang trọng và kính cẩn, qua đó thể hiện sự kính trọng của tác giả đối với người vợ.

Bài thơ cũng có sự lặp lại của các câu từ như "khóc người vợ hiền" để nhấn mạnh nỗi đau đớn và sự tiếc thương vô hạn của tác giả. Những câu thơ nhẹ nhàng nhưng chất chứa tình cảm sâu sắc, khiến cho người đọc dễ dàng cảm nhận được sự mất mát và đau đớn trong lòng tác giả.

5. Kết luận:

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ không chỉ thể hiện sự đau thương, tiếc nuối về một người vợ đã khuất mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của tình yêu, sự hy sinh và lòng biết ơn trong mối quan hệ vợ chồng. Bài thơ là sự thể hiện sâu sắc về những cảm xúc chân thành của một người chồng đối với người vợ hiền, qua đó cũng phản ánh những giá trị nhân văn trong xã hội xưa.

Có thể tham khảo haa🐟🐟🐟

26 tháng 11 2024

Đoạn văn nee=)))

Bài thơ "Khóc người vợ hiền" của Tú Mỡ thể hiện nỗi đau xót và sự tiếc nuối của người chồng khi mất đi người vợ hiền. Trong bài thơ, người vợ được miêu tả là một người phụ nữ tận tụy, chăm lo cho gia đình mà không đòi hỏi sự công nhận. Nỗi đau của tác giả không chỉ vì sự ra đi của bà mà còn vì sự ân hận và tự trách, khi không thể đền đáp xứng đáng cho những hy sinh của vợ. Những câu thơ của Tú Mỡ đơn giản nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc về tình cảm vợ chồng và giá trị của sự hy sinh trong tình yêu.

Có thể tham khảo thêm cách này aa🐟🐟🐟

24 tháng 12 2025

Câu 1

Bài thơ "Quê hương" của Giang Nam là khúc ca đầy xót xa nhưng cũng chan chứa tình yêu sâu nặng với quê hương, nơi gắn kết máu thịt qua bi kịch chiến tranh. Nét đặc sắc nhất ở nội dung là sự chuyển biến tình cảm: từ yêu quê hương bởi vẻ đẹp bình dị, quen thuộc (chim, bướm, đòn roi) sang yêu quê hương vì "trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi" - một tình yêu thiêng liêng, gắn liền với sự hy sinh của người em du kích, biến quê hương thành nơi chôn cất một phần thân thể mình. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh chân thực nhưng đầy sức gợi như nỗi đau "chết nửa con người",kết hợp giữa miêu tả cảnh và bộc lộ cảm xúc, tạo nên giọng thơ da diết, vừa gần gũi vừa day dứt, thể hiện nỗi đau chung của dân tộc qua số phận cá nhân.

Câu 2

Mạng xã hội mở ra không gian kết nối rộng lớn, nhưng đôi khi lại trở thành mảnh đất màu mỡ cho những định kiến, đặc biệt là sự phân biệt vùng miền. Thói quen này, dù vô tình hay cố ý, đang làm tổn thương và chia rẽ cộng đồng, đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải nhận thức và từ bỏ để xây dựng một môi trường mạng lành mạnh, đoàn kết.

Hiện nay trên mạng xã hội, chúng ta dễ dàng bắt gặp những bình luận, bài viết mang tính quy chụp, gán nhãn cho người ở một vùng miền nhất định có thể như người miền N khó tính , người miền B khó tính. Sự phân biệt này xuất phát từ những trải nghiệm cá nhân hạn hẹp, định kiến văn hóa truyền miệng, hoặc những câu chuyện phiến diện được lan truyền.Những phát ngôn thiếu kiểm soát có thể gây tổn thương tâm lý, ảnh hưởng đến mối quan hệ và tạo ra những hiểu lầm không đáng có. Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của phân biệt vùng miền trên mạng xã hội là việc chế giễu giọng nói. Ở Việt Nam, các giọng nói của người miền Bắc, miền Trung và miền Nam thường xuyên trở thành đối tượng để mọi người bình luận, chê bai hoặc thậm chí chế nhạo. Những người nói giọng Bắc, giọng Nam hay giọng Trung đều có thể bị gọi là "kỳ quặc", "khó nghe" hoặc "không giống ai". Những nhận xét này không chỉ gây tổn thương cho người bị nhắc đến mà còn góp phần duy trì những định kiến sai lầm về sự khác biệt vùng miền. Điều này thể hiện một sự thiếu tôn trọng đối với nền văn hóa đa dạng của đất nước, đồng thời cũng làm sâu sắc thêm sự chia rẽ trong cộng đồng.

Vấn đề này không chỉ gây ra sự tổn thương cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các cộng đồng trong xã hội. Mạng xã hội, đáng lẽ phải là nơi kết nối mọi người, tạo ra sự đồng cảm và chia sẻ, lại trở thành một không gian thù địch, nơi mà sự phân biệt vùng miền được cổ xúy và lan rộng. Điều này không chỉ gây ra sự mất đoàn kết mà còn làm tổn hại đến tinh thần đoàn kết dân tộc, một yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội vững mạnh.

Để khắc phục tình trạng phân biệt vùng miền trên mạng xã hội, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức về việc cư xử văn minh, tôn trọng sự khác biệt và đa dạng của các vùng miền. Các cơ quan chức năng cũng cần phải có những biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc xử lý những hành vi vi phạm, đồng thời tăng cường giáo dục về văn hoá, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng. Chỉ khi mọi người nhận thức được rằng sự khác biệt về vùng miền không phải là điều đáng bị phân biệt, mà là một nét đẹp đa dạng, thì mạng xã hội mới có thể trở thành một không gian tích cực và lành mạnh cho tất cả mọi người.

25 tháng 12 2025

Câu1:

Bài làm

Nhà thơ Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh năm 1929. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm đi vào lòng người. Phong cách thơ của Giang Nam luôn mang bóng hình của quê hương, đất nước. Và Quê hương chính là một trong những tác phẩm thơ nổi bật của ông

Quê hương được sáng tác trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Năm 1960, thời điểm giặc Mỹ bắn phá dữ dội miền Bắc và chiến trường cực kỳ ác liệt ở miền Nam, nhà thơ nhận được tin vợ và con bị giết hại trong nhà tù. Đau xót và căm uất vô cùng, những vần thơ trào ra giống như những hàng nước mắt ép chặt những đau khổ, tổn thương của nhà thơ. Song thật may mắn vì đây chỉ là một sự nhầm lẫn, năm 1962, vợ con ông đã được thả do địch không tìm được căn cứ để kết tội. Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Giang Nam.

Viết về quê hương, một đề tài không mới mẻ, song Giang Nam đã có cách khai thác rất mới. Ông không miêu tả quê hương với cánh cò bay lả, với cây đa, giếng nước mà quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ, những thuở chăn trâu cắt cỏ với đám bạn trong làng .Tình yêu với quê hương bắt đầu tự nhiên và giản dị như thế, yêu qua từng trang sách, những con chữ đầu tiên, thế rồi tình yêu ấy cứ lớn dần, lớn dần theo năm tháng. Những kỷ niệm tuổi thơ ùa về với biết bao ký ức vui buồn: những ngày trốn học bị mẹ bắt đánh đòn, cô gái nhà bên khúc khích cười ôi thương thương quá đi thôi. Cô bé nhà bên ấy có lẽ là nhân vật trữ tình gắn bó thân thuộc với tác giả từ trong ký ức tuổi thơ đến khi trưởng thành

Bài thơ khắc họa hình ảnh quê hương bình dị, gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng như tiếng ve, bãi mía, con đê, và đặc biệt là hình bóng "cô bé nhà bên" – biểu tượng của tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa nảy nở, gắn bó trong khói lửa kháng chiến. Nỗi nhớ quê hương không chỉ dừng lại ở cảnh vật mà còn là nỗi nhớ về "một phần xương thịt" của em, thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc, gắn liền với con người và lịch sử. 

Nhà thơ sử dụng thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt, tạo nên dòng cảm xúc phóng khoáng, chân thật như lời tâm tình. Giọng thơ bồi hồi, xao xuyến, kết hợp hài hòa giữa tự sự và miêu tả. Các biện pháp nghệ thuật như liệt kê ("bãi mía", "con đê", "tiếng ve") làm bức tranh quê hương thêm sống động. Những hình ảnh gần gũi, bình dị ("cô bé", "mắt đen tròn", "gánh thóc") và ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc đã chạm đến trái tim người đọc. Bài thơ không chỉ gợi nỗi nhớ mà còn khẳng định tình yêu quê hương là tình yêu con người, tình yêu đất nước, là sợi dây vô hình kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai.". 

Bài thơ Quê hương của Nhà thơ Giang Nam dù đã trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời đại. Nhưng với bất cứ ai khi đọc lên đều không khỏi cảm thấy xót xa, bùi ngùi, đau đớn khi mất đi người yêu, mất đi ruột thịt của mình. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

Câu 2:

Trong xã hội hiện đại, khi mà đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ và hội nhập quốc tế, nạn "phân biệt vùng miền" vẫn là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Dù ở bất kỳ thời kỳ nào, tình trạng phân biệt vùng miền cũng đã tồn tại, nhưng trong bối cảnh hiện nay, vấn đề này đang ngày càng trở nên nhức nhối và cần được nhận thức và giải quyết kịp thời. "Phân biệt vùng miền" ở đây không chỉ là sự phân biệt về địa lý mà còn là sự phân biệt về văn hóa, cách sống, và thậm chí là lối suy nghĩ giữa các khu vực trong cùng một quốc gia.

Vấn đề phân biệt vùng miền giữa các bạn trẻ ngày nay thường thể hiện qua cách nhìn nhận về một số đặc điểm của người từ các vùng khác nhau như giọng nói, cách ăn uống, thói quen sinh hoạt, hay thậm chí là những "huyền thoại" về các vùng đất. Có không ít bạn trẻ phân biệt đối xử với những người đến từ các vùng khác, coi họ là "dân tỉnh lẻ", "dân miền núi", "dân miền Nam", "dân miền Bắc" theo kiểu mỉa mai, hoặc thậm chí là khinh miệt, tạo ra rào cản giữa các nhóm người. Điều này không chỉ xảy ra trong giao tiếp giữa các nhóm bạn mà còn có thể xuất hiện trong học tập, công việc hay thậm chí trong các mối quan hệ xã hội.

Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là sự phân biệt qua giọng nói. Giới trẻ có xu hướng coi giọng nói miền Nam, miền Trung là "kém sang" hay "không hợp thời". Họ đánh giá người khác qua giọng nói, ngữ điệu mà không hiểu rằng đó chỉ là sự khác biệt về văn hóa, không phải là yếu tố quyết định giá trị con người. Thậm chí, nhiều bạn trẻ có cái nhìn sai lệch về những vùng miền khác, cho rằng người miền Tây, miền Trung là "quê mùa", "lạc hậu" chỉ vì những phong tục, tập quán khác biệt.

Nạn phân biệt vùng miền không chỉ tạo ra những khoảng cách trong giao tiếp mà còn dẫn đến sự chia rẽ, mất đoàn kết trong xã hội. Điều này có thể ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang phát triển và hướng đến hội nhập quốc tế. Khi mà mỗi cá nhân trong xã hội lại cố gắng nhìn nhận và đánh giá người khác qua những yếu tố vùng miền, họ vô tình tạo ra những rào cản trong việc xây dựng tình bạn, tình đồng nghiệp, và tình đoàn kết.

Ngoài ra, sự phân biệt vùng miền cũng gây tổn hại đến sự tự tin và lòng tự trọng của những người bị phân biệt. Một người có thể cảm thấy tự ti về nguồn gốc của mình, cảm thấy mình không đủ giá trị, không xứng đáng với sự tôn trọng và tình bạn từ những người khác chỉ vì nơi mình sinh ra và lớn lên. Điều này không chỉ làm giảm đi sự tự tin của bản thân mà còn làm mất đi cơ hội hòa nhập và phát triển.

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân biệt vùng miền trong giới trẻ là sự thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa của các vùng miền khác. Các bạn trẻ ngày nay, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, nhiều khi thiếu sự giao lưu, tìm hiểu về các đặc điểm, giá trị văn hóa của các vùng miền khác. Điều này khiến họ dễ dàng có những nhận thức sai lầm và những định kiến không đáng có đối với những người từ các vùng miền khác.

Bên cạnh đó, truyền thông và mạng xã hội cũng góp phần vào việc phát tán những định kiến và quan điểm phân biệt vùng miền. Những câu nói đùa, những meme hay video chế giễu các đặc điểm văn hóa của các vùng miền đôi khi vô tình tạo ra những hình ảnh sai lệch, làm gia tăng sự phân biệt. Việc thiếu những chương trình giáo dục về sự hòa nhập và tôn trọng sự khác biệt văn hóa cũng góp phần tạo ra tình trạng này.

Để giải quyết nạn phân biệt vùng miền, trước tiên, cần phải nâng cao nhận thức của giới trẻ về sự tôn trọng, hiểu biết và yêu thương những giá trị văn hóa khác biệt. Các trường học, gia đình và xã hội cần tích cực tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, các chương trình dạy về lịch sử, văn hóa của các vùng miền để học sinh và sinh viên có thể hiểu rõ hơn về sự phong phú và đa dạng của dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần phải tự giác loại bỏ những quan điểm, định kiến sai lầm, biết tôn trọng sự khác biệt và làm phong phú thêm mối quan hệ xã hội của mình qua việc tiếp xúc, giao lưu với những người đến từ các vùng miền khác. Chính sự giao thoa văn hóa, sự chia sẻ và học hỏi từ nhau sẽ giúp chúng ta hiểu và cảm thông cho những khác biệt, từ đó xóa bỏ được sự phân biệt vô lý.


Nạn phân biệt vùng miền trong giới trẻ ngày nay là một vấn đề cần được giải quyết kịp thời để xây dựng một xã hội đoàn kết, hòa hợp. Việc tôn trọng và yêu mến sự đa dạng văn hóa của đất nước sẽ giúp giới trẻ nhận thức được giá trị của mỗi vùng miền và góp phần xây dựng một cộng đồng mạnh mẽ, văn minh. Chúng ta cần phải xây dựng một xã hội mà trong đó mọi cá nhân đều được tôn trọng và có cơ hội phát triển bình đẳng, không bị phân biệt bởi bất kỳ yếu tố nào, kể cả nguồn gốc vùng miền.



Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:                     Quê hương  Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc! Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích...             *** Cách...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

                   Quê hương 

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...

            ***

Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

            ***

Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
- Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...

Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.

                                      1960

                              - Giang Nam -

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Chỉ ra dấu hiệu nhận diện thể thơ đó.

Câu 2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?

Câu 3. Trong dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình, "cô bé nhà bên" được gợi tả qua những chi tiết, hình ảnh nào? Em có cảm nhận gì về cô gái đó?

Câu 4. Xác định và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ có trong khổ thơ cuối của bài thơ. 

Câu 5. Hai dòng thơ cuối: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì?

37
26 tháng 11 2024

Đã ai làm j cậu đâu mà cậu nói vậy ?

18 tháng 12 2025

Câu 1thể thơ tự do cách xác định là số dòng , chữ không cố định , nhịp điệu tự do

Câu 2 cảm hứng chủ đạo : miêu tả vẻ đẹp quê hương tình yêu quê hương sâu sắc , nỗi nhớ da diết, sự xót xa đau đớn trước mất mát chiến tranh

Câu 3 có cô bé nhà bên nhìn tộ cười khúc khích, mắt đen tròn ,… cảm thấy cô gái là người hay cười dễ gần đôi khi ngại ngùng trước người mình thương nhưng lại dũng cảm sẵn sàng ra chiến trường để đánh giặc

Câu 4 biện phaps tu từ liệt kê : khắc họa rõ nét bức tranh quê hương bình dị tuổi thơ hồn nhiên tình cảm gắn bó sâu sắc pha trộn giữa nỗi buồn mất mát

Câu 5 tình cảm sâu sắc chân thành dành cho cô gái sự gắn kết máu thịt , tình yêu quê hương không còn là khái niệm trừu tượng nữa mà trở nên cụ thể , kết tinh bằng sự hy sinh

26 tháng 11 2024

Trong đời sống con người của chúng ta không phải thứ gì cũng mua được bằng tiền. Chúng ta thường nghĩ rằng có được đồng tiền thì sẽ có được mọi thứ nhưng không , có một số thứ không thể giải quyết được bằng tiền.Những thứ có nhiều tiền cách máy như trăm triệu , trăm tỉ , nghìn tỉ , trăm triệu đô , tỷ đô gọi chung nó là vô giá như sức khoẻ, thời gian ,chính trực , sự thật, đạo đức , giáo dục , chữ tính, tâm thành tĩnh, lương thiện, tốt bụng. Nên hãy bỏ cái quần niệm có tiêng là có tất cả.

3 tháng 1

Câu 1:

Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng "Có tiền là có tất cả", coi đồng tiền như một thước đo duy nhất cho sự thành công và hạnh phúc. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng, bởi tiền bạc chỉ là một công cụ hỗ trợ để con người có được cuộc sống tiện nghi hơn, nó không thể là yếu tố quyết định tất cả mọi giá trị của cuộc sống. Thứ nhất, những giá trị tinh thần như tình yêu thương, hạnh phúc gia đình, tình bạn chân thành đều là những điều tiền bạc không thể mua được. Một gia đình hạnh phúc không phải là gia đình giàu nhất, mà là nơi mọi người sẽ biết yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Thứ hai, sức khỏe, thứ tài sản quý giá nhất trong đời người, cũng không thể hoàn toàn đảm bảo bằng tiền bạc. Nhiều căn bệnh nan y hay sự suy giảm sức khỏe vì lối sống thiếu lành mạnh, dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng khắc phục. Cuối cùng, chạy theo đồng tiền một cách mù quáng dễ khiến con người đánh mất bản ngã, dẫn đến ham mê vật chất và quên đi những giá trị đạo đức cốt lõi. Vì vậy, thay vì coi tiền là tất cả, chúng ta cần nhìn nhận đúng vai trò của nó và xây dựng cuộc sống dựa trên những giá trị bền vững như tình cảm, tri thức và đạo đức. Tiền bạc chỉ nên đóng vai trò phụ giúp cuộc sống thêm trọn vẹn chứ không phải đích đến tối thượng.

Câu 2:

Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã để lại cho hậu thế nhiều bài thơ sâu sắc, phản ánh chân thực về cuộc sống và tư tưởng của ông. Trong số đó, bài thơ "Thế gian biến đổi" nổi bật với nội dung đầy ý nghĩa triết lý và nghệ thuật đặc sắc, khắc họa rõ nét sự suy tư của nhà thơ về sự thay đổi của cuộc đời và thái độ con người trước những biến thiên của thế gian. Trước hết, xét về nội dung, bài thơ phản ánh một cách trực diện và sâu sắc những mặt trái đang hiện hữu trong xã hội thời bấy giờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng hình ảnh thế gian biến đổi như một quy luật tất yếu: "Thế gian biến cải vũng lên đồi". Đây là cách ông diễn đạt sinh động sự chuyển đổi liên tục của cuộc đời, sự thay đổi không chỉ về mặt thiên nhiên mà cả trong lòng người. "Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi", câu thơ gợi lên hình ảnh về cuộc sống đa sắc màu, nơi con người phải đối mặt với cả niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và bất hạnh. Tất cả những trải nghiệm này đều là những mảnh ghép quan trọng hình thành nên bức tranh thế gian đầy phức tạp. Bên cạnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ngần ngại chỉ ra sự thực phũ phàng về thái độ con người trước tiền bạc và danh lợi. Những câu như: "Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi" đã nói lên sự thật đắng cay rằng lòng người thường thay đổi theo vật chất; khi còn giàu sang, danh vọng thì được người đời vây quanh, nhưng lúc khó khăn, tay trắng lại bị xa lánh. Bài thơ cũng bày tỏ niềm tin của nhà thơ vào giá trị chân thật trong cuộc sống: "Xưa nay đều trọng người chân thật / Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi". Điều này phản ánh một triết lý sống nhân văn, đề cao những phẩm chất cao quý trong con người dù xã hội có biến đổi đến đâu. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi cách sử dụng ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc. Nguyễn Bỉnh Khiêm không cần đến những hình ảnh hoa mỹ hay câu từ cầu kỳ để thể hiện ý tưởng của mình. Ngôn từ ông dùng vừa gần gũi, dễ hiểu lại hàm chứa triết lý sâu xa. Những vần thơ ngắn gọn mà giàu hình ảnh đã truyền tải thông điệp một cách sắc bén và thấm thía. Kết cấu bài thơ mạch lạc với hai phần rõ ràng: phần đầu khái quát sự thay đổi trong thế gian, phần sau hướng đến thái độ con người trước thực trạng ấy. Ngoài ra, nhà thơ còn khéo léo sử dụng các biện pháp đối lập để làm nổi bật sự tương phản trong tâm lý và hành động của con người, góp phần tăng sức gợi hình và sức biểu cảm cho bài thơ. Không dừng lại ở việc chỉ trích hay phê phán những thói đời xấu xí, bài thơ "Thế gian biến đổi" còn là lời khuyên và chiêm nghiệm sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắn nhủ chúng ta rằng hãy sống chân thật, giữ vững phẩm chất đạo đức tốt đẹp dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây không chỉ là thông điệp dành riêng cho xã hội thời ông mà còn là bài học quý giá đối với mỗi con người trong mọi thời đại. Tóm lại, bài thơ "Thế gian biến đổi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một bức tranh sống động về hiện thực xã hội vừa mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về cách ứng xử đạo đức. Với nghệ thuật ngôn từ tinh tế cùng tư tưởng giàu chiều sâu triết lý, nhà thơ đã để lại cho hậu thế một tác phẩm có giá trị vượt thời gian, khiến cho người đọc không chỉ đồng cảm mà còn suy ngẫm về chính mình trong dòng chảy bất tận của cuộc đời.


(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Tiền tài như phấn thổ?  Tiền tài như phấn thổ Nghĩa trọng tợ thiên kim Con le le mấy thuở chết chìm Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi?       Khi còn nhỏ, tôi thường nghe mẹ hát như vậy. Phấn thổ tức là bụi đất. Cứ theo câu "trọng nghĩa khinh tài" mà giải, tiền bạc quả thật là đáng xem thường.     ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Tiền tài như phấn thổ? 

Tiền tài như phấn thổ
Nghĩa trọng tợ thiên kim
Con le le mấy thuở chết chìm
Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi?

      Khi còn nhỏ, tôi thường nghe mẹ hát như vậy. Phấn thổ tức là bụi đất. Cứ theo câu "trọng nghĩa khinh tài" mà giải, tiền bạc quả thật là đáng xem thường. 

      Thời gian qua đi, tôi lớn lên và nhìn thấy cuộc đời dường như không giống câu ca dao mẹ hát. Chúng ta vẫn được dạy rằng đồng tiền dễ làm tha hóa con người, rằng hãy tránh xa những người xem đồng tiền là trọng. Nhưng tôi chưa từng thấy ai kiềm tiền bằng trí lực của mình một cách chính đáng mà không xem trọng đồng tiền, dù họ giàu hay nghèo. Người ta nói đồng tiền là nguồn gốc của tội lỗi, nhưng nếu đúng như vậy thì tại sao nhà thờ và nhà chùa vẫn tiếp nhận nó như một thứ lễ vật?

      Chúng ta thường có cái nhìn ngưỡng mộ khi nghe ai đó nói rằng: "Tôi không quan tâm đến tiền bạc", nhưng rồi tôi đọc được câu này của Oscar Wilde: "Khi còn trẻ, tôi thường nghĩ rằng tiền bạc là thứ quan trọng nhất trong đời sống, bây giờ khi tôi già, tôi biết là đúng như vậy".

      Tôi đã sống qua nhiều năm tháng mới nhận ra bản chất của đồng tiền, và tôi ước gì khi tôi mới mười bảy tuổi, có ai đó nói cho tôi biết ý nghĩa đích thực của tiền, thứ mà chúng ta sẽ chạm đến mỗi ngày trong suốt cuộc đời, thậm chí có thể nhiều gấp nhiều lần chạm vào bàn tay người mình thương yêu.

      Tôi thực sự ưa thích cách nhìn về đồng tiền của nhân vật Francisco de Anconia trong tiểu thuyết Atlas Shrugged (Ayn Rand). Nhà tư bản công nghiệp này nói rẳng: "Tiền bạc đòi hỏi anh nhận ra rằng con người phải làm việc để đạt được lợi ích chứ không phải để chịu tổn hại... Những người thật sự ham mê tiền bạc nỗ lực làm việc để kiếm được tiển, và họ biết rằng mình xứng đáng có được nó".

      Phải chăng chúng ta nên trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó: Một công cụ dùng để trao đổi các giá trị tương xứng. Đừng khoác cho nó uy lực mà nó không có, cũng đừng gán cho nó tội lỗi mà nó không phạm. Cái làm con người sa ngã không phải là sức mạnh của đồng tiền, mà là những tham vọng không chính đáng của chính bản thân ta: Có được những thứ không phải của mình, sở hữu những thứ vượt quá công sức của mình, danh tiếng mà mình không xứng đáng, vật chất mà mình chưa đủ khả năng mua...

      Mẹ tôi dạy rằng hãy luôn xài ít hơn số tiền mình kiếm được. Trong khi phần đông chúng ta thường xài nhiều hơn số tiền mình làm ra. Một người bạn của tôi tâm sự rằng đôi khi cô thấy mình là kẻ ngốc, vì sung sướng nhét một đống Credit Card(1) trong ví để rồi mua những thứ mình không cần, bằng số tiền mình không có (mà vay qua credit card), cốt chỉ để chứng tỏ với những người không quen. Sau đó è cổ ra cày trả nợ. Có phải là vô nghĩa hay không? Đó cũng là sự khác nhau giữa Credit Card và Debit Card(2). Tôi ghi nhớ kinh nghiệm đau thương của cô nên quyết định làm Debit Card thay vì Credit Card. Có nhiều xài nhiều, có ít xài ít, không có thì đi "window shopping"(3) cho vui vậy thôi. Ngân hàng chắc buồn nhưng tôi thì ngủ yên. 

      Trong bài hát This is the Life của Al Yankovic có một câu rất hay: "So if money can't buy happiness, I guess I'll have to rent it" (Nếu tiền không thể mua được hạnh phúc, chắc tôi phải thuê thôi). Nhưng tôi tin rằng cái gì người ta có bán thì tiền đều có thể mua được. Chắc chắn như vậy. "Tiền không mua được hạnh phúc" chẳng phải vì tiền không có đủ sức mạnh mà vì không ai bán hạnh phúc. Giả sử tôi có đủ tiền để trả cho hạnh phúc của bạn, và nếu bạn thực sự hạnh phúc, bạn có bán nó cho tôi không? Người ta dám bán cả các ngôi sao trên trời nhưng tôi tin không ai bán hạnh phúc nếu như họ có nó.

      Ngoại trừ trong các quảng cáo. Tôi thấy trên Internet người ta bán một căn nhà vách đất ở miền nông thôn
nước Pháp với lời rao: "Chúng tôi bán hạnh phúc, và bạn đan được miễn phí ngôi nhà". Thật tài tình. Đó là lý do khiến chúng ta gần như phát điên lên vì shopping. Áo quần, xe cộ, đồ hi-tech... Nhưng vấn đề nằm ở chỗ đôi khi ta không biết chắc mình đang mua cái gì. Có khi nào bạn trả tiền cho một chiếc mũ bảo hiểm và nghĩ rằng mình đã mua được sự an toàn tuyệt đối không? Chúng ta vẫn nghe nhắc rằng: "Tiền có thể mua được ngôi nhà nhưng không mua được gia đình; mua được thuốc men nhưng không mua được sức khỏe; mua được sách nhưng không mua được tri thức; mua được chức tước nhưng không mua được sự kính trọng...". Đó là những lời thực sự đáng ghi nhớ. 

      Một người quen của tôi có cái bình sứ do tổ tiên để lại, vẫn dùng để cắm hoa trên bàn thờ. Một hôm có người hỏi mua, anh mừng quá bán luôn. Sau anh mới biết cái bình đáng giá gấp 30 lần số tiền anh được trả. Quả đắng ấy anh nuốt mãi không trôi.

      Điều tương tự cũng có thể xảy ra với những giá trị khác. Giả sử người ta có thể mua bán tình yêu, tình bạn, danh dự... Hãy cho tôi biết đổi tình bạn lấy một cái nhà là lợi hay thiệt? Nếu đổi tình yêu lấy danh tiếng? Hay hạnh phúc gia đình lấy địa vị xã hội? Đổi mối tình chân thật lấy một bóng sắc thoáng qua? Đổi sự tôn trọng lấy những lời tung hô? Đổi sự chính trực để lấy vài trăm triệu đồng thì khôn ngoan hay là không? Hạnh phúc của người yêu ta với hạnh phúc của người ta yêu, bên nào nhẹ hơn, bên nào thì nặng? Câu trả lời có thể khác nhau với mỗi người, nhưng có một sự thật là việc đánh giá sai giá trị của "món hàng" không những khiến ta bị thiệt hại mà còn khiến người khác nhìn ta như một kẻ thiếu khôn ngoan. Nhiều bi kịch xảy ra chỉ vì người ta đánh giá sai các giá trị khi đổi chác, những tiếc nuối, xót xa, hối hận, giày vò cũng bắt đầu từ đó. Vậy thì hãy sai bản chấc rằng ta đánh giá đúng giá trị của những gì mình muốn mua, hoặc bán. Để sau một cuộc đối chắc thứ có được vẫn tương xứng với những gì mà ta đã trao đi.

"Tiền tài như phấn thổ"

      Tôi hỏi mẹ sao cứ hát hoài câu đó, vì tôi không thể coi đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình như bụi đất được. Mẹ tôi trả lời rằng câu hát ấy không có ý nói tiền là thứ đáng coi khinh. Nó chỉ nhắc ta nhớ rằng: Đồng tiền có thể bị mất giá, nên những gì tiền mua được cũng có thể bị mất giá. Những tờ tiền có thể tan thành bụi đất, và những thứ mua được bằng tiền cũng vậy.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Thế giới, 2022, tr.148 - 153)

Chú thích: 

(1) Credit Card: Loại thẻ tín dụng dùng trước trả sau.

(2) Debit Card: Loại thẻ tín dụng có bao nhiêu tiền chỉ dùng được bấy nhiêu.

(3) Window shopping: Đi xem hàng chứ không mua. 

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Mục đích của tác giả qua văn bản trên là gì?

Câu 4. Nhận xét về cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em có suy nghĩ như thế nào về đoạn văn sau: Phải chăng chúng ta nên trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó: Một công cụ dùng để trao đổi các giá trị tương xứng. Đừng khoác cho nó uy lực mà nó không có, cũng đừng gán cho nó tội lỗi mà nó không phạm. Cái làm con người sa ngã không phải là sức mạnh của đồng tiền, mà là những tham vọng không chính đáng của chính bản thân ta: Có được những thứ không phải của mình, sở hữu những thứ vượt quá công sức của mình, danh tiếng mà mình không xứng đáng, vật chất mà mình chưa đủ khả năng mua...?

8
7 tháng 1 2025

Câu 1: văn bản trên thuộc văn bản nghị luận

7 tháng 1 2025

Câu 2: những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn là: nghị luận, tự sự, biểu cảm                                                       Câu 3: Mục đích của tác giả qua văn bản trên là:Giải thích bản chất thật sự của đồng tiền, xem nó như một công cụ trao đổi giá trị tương xứng, không nên thần thánh hóa hay xem thường. Phê phán những tham vọng không chính đáng, nhấn mạnh rằng lỗi lầm không nằm ở đồng tiền mà ở cách con người sử dụng nó. Hướng đến lối sống có trách nhiệm, sử dụng đồng tiền hợp lý, biết đánh giá đúng giá trị của những thứ mình có và muốn sở hữu.                                                                  Câu 4:Cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản:Lập luận chặt chẽ: Tác giả đưa ra vấn đề, phân tích đa chiều, và kết luận thuyết phục. Dẫn chứng đa dạng: Tác giả sử dụng các câu chuyện cá nhân, trích dẫn từ văn học (Oscar Wilde, Francisco de Anconia), và những quan sát thực tế để làm sáng tỏ luận điểm.                  Câu 5:Đoạn văn này thể hiện quan điểm đúng đắn và sâu sắc về bản chất của đồng tiền. Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Đồng tiền không có lỗi, cách chúng ta kiếm, sử dụng, và đánh giá nó mới quyết định đồng tiền là tốt hay xấu. Biết hài hòa giữa nhu cầu cá nhân và giá trị đạo đức sẽ giúp cuộc sống cân bằng và ý nghĩa hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 1. (2 điểm)       Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen chêm xen tiếng nước ngoài vào lời nói trong quá trình giao tiếp. Câu 2. (4 điểm)       Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng “ly khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.                  Tống biệt hành Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

      Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen chêm xen tiếng nước ngoài vào lời nói trong quá trình giao tiếp.

Câu 2. (4 điểm)

      Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng “ly khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm. 

                Tống biệt hành

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dửng…

- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

 Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

 Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giờ chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

 Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say. 

2
25 tháng 11 2024

Đúng nhưng mà vẩn đúng:)))

25 tháng 11 2024

Hi :)))

x là gì ?

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO       Ngày 23/11, tại sân Đại triều điện Thái Hòa - Đại nội Huế (TP Huế) UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lễ đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO cho “Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng Cung Huế”, công bố hoàn thành dự án “Bảo...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO

      Ngày 23/11, tại sân Đại triều điện Thái Hòa - Đại nội Huế (TP Huế) UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lễ đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO cho “Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng Cung Huế”, công bố hoàn thành dự án “Bảo tồn, tu bổ tổng thể di tích điện Thái Hoà” và động thổ công trình “Tu bổ, phục hồi, tôn tạo di tích điện Cần Chánh”. Sự kiện được tổ chức nhân dịp 79 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/1945 - 23/11/2024).

Ngữ văn 10, Đọc hiểu văn bản thông tin, olm 

Ảnh: Trao bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO cho "Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng Cung Huế"  

      Đến dự có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long, Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế, Lê Trường Lưu, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Văn Phương, ông Nguyễn Khoa Điềm - Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương, ông Jonathan Wallace Baker - Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương…

      Cửu Đỉnh - Hoàng cung Huế do vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào năm 1835 - 1837 và được đặt trước sân Thế Tổ Miếu nhằm biểu thị sự trường tồn của triều đại, sự giàu đẹp và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Cửu Đỉnh - Hoàng cung Huế thể hiện trình độ đúc đồng tinh xảo của những người thợ thủ công ở Việt Nam với 162 họa tiết chạm khắc nhiều chủ đề khác nhau trên Cửu Đỉnh cùng nhiều giá trị ẩn sâu phía sau đã đưa Cửu Đỉnh vượt ra ngoài tầm vóc của quốc gia. Đây là nguồn tư liệu độc đáo, quý hiếm được giới nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài rất quan tâm bởi nó mang giá trị nội dung về lịch sử, văn hóa giáo dục, địa lý, phong thủy, y dược, nghệ thuật thư pháp.

      Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng đã lưu trữ các giá trị về mối quan hệ giao thoa và tiếp xúc văn hóa xã hội của đất nước Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Á. Song hành cùng những thăng trầm của một triều đại, với bao biến cố của thời cuộc và biến thiên của thời gian vẫn còn vẹn nguyên tượng trưng cho vương quyền và sự tồn tại của triều đại phong kiến ở các nước Á đông.

      Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Phương - Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, trong lịch sử Việt Nam, Huế từng là trung tâm văn hóa chính trị của xứ Đàng Trong vào thời các chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất. Dưới bàn tay của các nghệ nhân, của các thợ lành nghề và công sức, trí tuệ, tài năng của cả dân tộc Việt Nam đã để lại cho Huế một quần thể kiến trúc tiêu biểu với sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc và thiên nhiên, là bức tranh rõ nét về chân dung kinh đô xưa của Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam, chứa đựng những sắc thái văn hoá rất riêng của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế.

     Cũng tại buổi lễ, tỉnh Thừa Thiên Huế đã công bố hoàn thành dự án “Bảo tồn, tu bổ tổng thể di tích điện Thái Hoà” và động thổ công trình “Tu bổ, phục hồi, tôn tạo di tích điện Cần Chánh”.

(Theo Báo Văn nghệ, ngày 24/11/2024)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên.

Câu 2. Sự việc chính nào được đề cập trong văn bản?

Câu 3. Theo em, vì sao văn bản Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO lại được coi là một bản tin?

Câu 4. Mục đích của tác giả qua bài viết này là gì?

Câu 5. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. 

1
3 tháng 9 2025

Câu 1. 

Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.

Câu 2. 

Sự việc chính: Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO.

Câu 3. 

Văn bản được coi là một bản tin vì:  

– Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về việc Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO vào ngày 23/11/2024.

– Các thông tin được đưa ra trong văn bản đều có tính chân thực, chính xác, có số liệu, minh chứng rõ ràng, cụ thể.

– Đặc biệt, gắn với thời điểm ra đời của văn bản, bản tin này đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như tính hàm súc, ngắn gọn; tính chính xác, tin cậy; tính thời sự.

Câu 4. 

– Mục đích của tác giả qua bài viết:

+ Cung cấp thông tin một cách chính xác, nhanh chóng cho bạn đọc về sự kiện Huế đón bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO vào ngày 23/11/2024. 

+ Thông báo về việc tỉnh Thừa Thiên Huế đã hoàn thành dự án “Bảo tồn, tu bổ tổng thể di tích điện Thái Hoà” và động thổ công trình “Tu bổ, phục hồi, tôn tạo di tích điện Cần Chánh”.

+ Dung lượng ngắn gọn, ngôn ngữ dễ hiểu, trong sáng và có sự kết hợp với phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 5. 

– Phương tiện phi giao tiếp trong văn bản: Ảnh trao bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO cho "Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng Cung Huế".

– Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản:

+ Giúp văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về buổi lễ trao bằng công nhận Di sản Tư liệu của UNESCO.

16 tháng 4

Câu 1. Thói quen thức khuya và sử dụng điện thoại quá nhiều đang trở thành một vấn đề phổ biến ở giới trẻ hiện nay và cần được thay đổi vì những tác hại nghiêm trọng của nó, trước hết thức khuya làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như gây mệt mỏi, suy giảm trí nhớ, ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, bên cạnh đó việc sử dụng điện thoại trong thời gian dài, đặc biệt vào ban đêm còn gây hại cho mắt, làm giảm chất lượng giấc ngủ và dễ dẫn đến nghiện công nghệ, không chỉ vậy thói quen này còn khiến việc học tập và sinh hoạt bị đảo lộn, giảm hiệu quả làm việc và khiến con người trở nên thụ động, tuy nhiên nhiều người vẫn duy trì thói quen này do chưa ý thức được hậu quả hoặc thiếu khả năng kiểm soát bản thân, vì vậy mỗi người cần xây dựng cho mình lối sống lành mạnh như đi ngủ đúng giờ, hạn chế sử dụng điện thoại trước khi ngủ, thay vào đó có thể đọc sách hoặc nghỉ ngơi để thư giãn, đồng thời cần có ý thức tự giác và quyết tâm thay đổi để bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn

25 tháng 11 2024

câu 1 :

Việc gìn giữ những giá trị truyền thống của dân tộc là điều vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại. Những giá trị này không chỉ là bản sắc văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc, mà còn là nền tảng vững chắc giúp mỗi cá nhân định hướng cuộc sống và phát triển bền vững. Giá trị truyền thống như tôn trọng gia đình, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, hay các lễ hội, phong tục tập quán đã được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Chúng góp phần xây dựng nên một cộng đồng vững mạnh, giữ cho các thế hệ trẻ hiểu rõ về cội nguồn, tự hào về dân tộc, và có trách nhiệm bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những giá trị truyền thống càng cần được giữ gìn để không bị phai mờ, giúp mỗi dân tộc duy trì sự riêng biệt và bản sắc văn hóa đặc sắc của mình. Đặc biệt, việc bảo tồn các giá trị truyền thống còn giúp tạo nên sự ổn định trong xã hội, nuôi dưỡng tâm hồn và tạo động lực để chúng ta vươn tới tương lai.

câu 2:

Bài văn nghị luận phân tích bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương

Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương, qua vài câu ngắn gọn, đã bộc lộ một cách tinh tế những cảm xúc, suy nghĩ của tác giả về mối quan hệ giữa con người và tình yêu. Với sự mộc mạc của lời thơ, Hồ Xuân Hương đã khéo léo sử dụng hình ảnh "trầu" để gửi gắm những suy tư về tình duyên, tình yêu, đồng thời thể hiện quan điểm của mình về sự gắn bó và duyên nợ giữa con người với nhau.

Về nội dung:

Bài thơ mở đầu với hình ảnh "quả câu nho nhỏ miếng trầu hôi" – đây là hình ảnh gợi nhắc về miếng trầu, một biểu tượng đặc trưng trong đời sống văn hóa của người Việt. Miếng trầu không chỉ là một thức quà bình dị trong giao tiếp mà còn là biểu tượng của sự gắn kết, của tình nghĩa. Câu thơ đầu tiên không chỉ nói về miếng trầu mà còn có thể hiểu là lời mời gọi, mở ra một không gian giao tiếp, một dịp để gắn kết tình cảm.

Tiếp đến, câu thơ "Này của Xuân Hương mới quệt rồi" mang một âm điệu tự nhiên, giản dị nhưng cũng rất duyên dáng, như thể tác giả đang tự mời mình vào một cuộc trò chuyện, một cuộc đối thoại sâu sắc với người đọc. "Xuân Hương" ở đây không chỉ là tên tác giả mà còn mang nghĩa biểu tượng cho một người phụ nữ đang mời gọi tình yêu, một tình cảm nồng nàn, chân thành.

Câu thơ thứ ba, "Có phải duyên nhau thì thắm lại," cho thấy quan niệm của tác giả về tình yêu, về mối quan hệ giữa hai người. "Duyên" ở đây được hiểu như một điều kiện cần thiết, một yếu tố không thể thiếu để tình yêu nảy nở và bền chặt. Duyên không phải là sự gặp gỡ ngẫu nhiên mà là một mối liên kết sâu xa giữa hai tâm hồn, giúp họ vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống.

Câu cuối, "Đừng xanh như lá, bạc như vôi," là một hình ảnh ẩn dụ đầy sâu sắc. "Xanh như lá" có thể hiểu là tình yêu non nớt, thiếu sự chín muồi, dễ dàng phai tàn khi gặp phải thử thách. "Bạc như vôi" lại là hình ảnh của sự phai nhạt, tan biến sau thời gian dài, không còn gì nguyên vẹn. Câu thơ này là lời nhắc nhở về sự bền vững của tình yêu, rằng tình yêu không chỉ cần duyên mà còn cần sự chung thủy, bền bỉ để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Tình yêu ấy cần phải "thắm lại," nghĩa là phải nuôi dưỡng và chăm sóc để mãi mãi tươi đẹp.

Về nghệ thuật:

Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, với nhịp điệu nhẹ nhàng, du dương nhưng cũng không thiếu sự sâu sắc, tinh tế. Thể thơ này giúp bài thơ dễ dàng đi vào lòng người đọc, đồng thời thể hiện sự mượt mà, dịu dàng, phù hợp với nội dung tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm.

Hồ Xuân Hương sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng, đậm chất văn hóa dân gian như "trầu" và "quả câu" để truyền tải thông điệp về tình yêu, sự gắn kết giữa con người. Sự lựa chọn những hình ảnh giản dị nhưng đầy hàm ý đã khiến bài thơ không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Câu cú trong bài thơ rất gợi cảm và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Cách sử dụng hình ảnh "xanh như lá, bạc như vôi" thể hiện sự am hiểu sâu sắc của tác giả về sự mong manh của tình cảm con người, cũng như những biến chuyển của tình yêu trong cuộc đời. Từ đó, bài thơ không chỉ là một lời mời trầu đơn giản mà còn là một lời nhắn nhủ, một suy ngẫm về tình yêu và mối quan hệ giữa người với người.

Kết luận:

Qua bài thơ "Mời trầu," Hồ Xuân Hương đã khéo léo kết hợp giữa hình ảnh giản dị và những thông điệp sâu sắc về tình yêu, về sự gắn bó giữa con người với nhau. Bài thơ không chỉ làm sáng tỏ quan niệm của tác giả về tình yêu mà còn thể hiện sự tinh tế trong việc lựa chọn hình ảnh, ngôn từ. Tác phẩm này đã chứng minh tài năng của Hồ Xuân Hương trong việc vận dụng ngôn ngữ thơ để phản ánh những vấn đề sâu xa của cuộc sống, tình yêu và con người, đồng thời làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

20 tháng 12 2025

Câu 2

Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương thể hiện niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của một trái tim nồng nàn và giàu cá tính. Trong thời cuộc nơi mà nhiều nhà thơ thể hiện cảm xúc, suy tư và yêu thương về tình yêu, Hồ Xuân Hương đã sáng tạo nên một tác phẩm tinh tế, phản ánh tâm hồn nhạy cảm và chân thành của người phụ nữ tài ba. Cuộc đời của Hồ Xuân Hương có nhiều gặp gỡ, nhưng tình cảm của bà đều không được bền lâu. Những người bạn tình, dù là trong tuổi trẻ hay là những mối quan hệ phức tạp, đều không đạt được hạnh phúc lâu dài. Sự giỡn cợ của Chiêu Hổ và kiếp làm lẽ tủi nhục trăm bề trong sự lạnh lẽo của Tổng Cóc làm tan nát trái tim của Xuân Hương. Cuộc sống của bà đầy những đau thương và lừng lẫy giữa cuộc đời vô thường. Cuộc sống của Xuân Hương đã gặp nhiều biến động và thách thức, nhưng sự lạnh lùng và cô đơn của bà được thể hiện trong những đêm trường ôm hận một mình. Xuân Hương tìm kiếm sự động viên và an ủi cho bản thân mình trong những bài thơ của mình. Trái tim của bà cảm nhận sự chua chát và cay đắng từ những mối tình đã qua. Bài thơ "Mời trầu" có thể ra đời trong giai đoạn mà nữ sĩ như Hồ Xuân Hương đang tìm kiếm sự chân thành và động viên trong cuộc sống. Bà đã ý thức rằng sự kết hợp với một người bạn đồng điệu và chi kỷ có thể mang lại hạnh phúc lâu dài hơn so với những mối tình nồng cháy thời tuổi trẻ. Những lời nói tâm tình trong bài thơ là biểu hiện của sự trung thực, khiêm tốn và chân thành của Hồ Xuân Hương. Bà tự mình mô tả về mình một cách thẳng thắn, không che giấu những khía cạnh thực tế và cảm xúc riêng tư của mình. Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi. Trong cái bình thường đơn giản của miếng trầu, đó không chỉ là một điều đơn giản thông thường. Bên dưới vẻ bề ngoài hiền lành đó, ẩn chứa một ý nghĩa sâu sắc mà không phải ai cũng có thể hiểu được. Điều này không phải là điều ngẫu nhiên, mà là sự sáng tạo của Xuân Hương trong cách nhìn nhận và tả dụ về tình yêu. Không nên lầm tưởng rằng ý xuân của Xuân Hương chỉ là vẻ nho nhỏ và hôi hương của miếng trầu. Xuân Hương đã kết hợp với cái hồn cau trầu keo sơn gắn bó sâu sắc với dân tộc Việt Nam để nói về tình yêu của mình một cách độc đáo và thi vị. Điều này đồng thời thể hiện sự tinh tế và tài năng nghệ thuật của bà, khi chọn lựa phong cách của dân tộc để truyền đạt thông điệp của mình. Độc đáo trong tác phẩm của Xuân Hương không chỉ đến từ nội dung mà còn từ phong cách riêng biệt - phong cách mà chỉ riêng bà mới có. Bằng cách này, Xuân Hương đã làm cho bức tranh tình yêu của mình trở nên không chỉ là độc đáo mà còn mang đậm dấu ấn cá nhân, làm nổi bật tên tuổi và tài năng của mình trong văn học Việt Nam. Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Hồ Xuân Hương, trong sự thể hiện cái tôi của mình, đã tạo nên một bức tranh tâm hồn vô cùng chuẩn nhị, độc đáo và duyên dáng. Nhà thơ không ngần ngại trải lòng mình, bày tỏ tâm tư, tình cảm một cách chân thật. Quan trọng hơn, bà không lạc quan hoá, không tô điểm hình thức. Sự khách quan trong cách diễn đạt cảm xúc là điều làm nổi bật và độc đáo. Xuân Hương không mê tít bề ngoài, mà cô đặt tâm huyết vào sự chân thành. Cách bày tỏ tình cảm bằng từ ngữ như "quệt" là một phát minh ngôn ngữ đầy sáng tạo. Đó không chỉ là một từ vựng, mà còn là biểu hiện của cái chấp nhận bản thân, cái duyên dáng và sự quý phái. Bằng cách này, bà mang đến một chút dễ thương, thấm đẫm tình yêu và tự hào trong cái quệt đầy cá tính. Có lẽ, những từ ngữ khác nếu được áp dụng sẽ không thể thay thế được vì chúng không thể nào chứa đựng được cái tâm, cái ý mà câu thơ muốn truyền đạt. Cách diễn đạt động từ "quệt" là một ngôn ngữ riêng của Xuân Hương, là chất liệu đặc biệt của tác phẩm. Tuy tô vẻ chân tình một cách bình thản, nhưng bên trong, giọng điệu nhẹ nhàng của bà lại chứa đựng bao cảm xúc, bao nỗi niềm. Sự tinh tế trong từng cung bậc cảm xúc làm cho người đọc không chỉ cảm nhận được sự chân thành mà còn được đắm chìm trong một không gian tâm hồn phong phú và sâu sắc. Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Có lẽ duyên nhau là một cái gì đó mà người đó, người hẹn ước, cùng tâm sự, cùng đồng tình thì mới thấu hiểu được Hồ Xuân Hương cần gì trong "chữ duyên" đó. Đối với bà, người đồng cảm không chỉ là người để cùng xướng họa, ngâm thơ, mà còn là người tri kỷ tri âm, người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn cuộc sống. Người bạn tri kỷ này không chỉ là đối tác mà còn là người gắn bó, tin tưởng và yêu thương, tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ và chân thành. Trái tim của người phụ nữ này chỉ cần được thấu hiểu như vậy thì đã thấy quá khó khăn và xa vời. Nhiều lần, trong sâu thẳm tâm hồn, bà muốn dứt bỏ nhưng không thể, vì trái tim vẫn không ngừng khao khát và ước muốn. Xuân Hương trong tình yêu như đắm say và lo sợ đồng thời, như sợ rằng tình yêu của mình sẽ mất đi vẻ tươi thắm và đơn thuần như ngày ban đầu. Bà sợ sự chia lìa, phai bạc, như những người yêu thương sâu đậm thường lo sợ một ngày mai không còn được nguyên vẹn và tươi mới như ban đầu. Bài thơ chứa đựng nỗi lo lắng về sự phai nhòa và thay đổi của tình yêu, nhưng cũng thể hiện sự khát khao giữ cho nó nguyên vẹn và bền vững. Người như "con thỏ giỡn với bong trăng" của bài thơ đó chính là người phụ nữ có trái tim trong sáng, đầy lòng tin, đã phụ lòng tin của mình một cách chân thành. Câu "tưởng giếng nước sâu, em nối sợi gầu dài – ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây" của ca dao cũng được sử dụng để bày tỏ nỗi lòng tiếc nuối về sự hòa hợp không giữ được một tình yêu chân thật và trung thành. Vì thế, trước những khó khăn trong tình duyên, trái tim khắc khoải của Xuân Hương lên tiếng đòi hỏi chính đáng. Đòi hỏi này không đến nỗi nào, chỉ là muốn nhấn mạnh rằng ai yêu tâm hồn và tình cảm của Hồ Xuân Hương bằng tất cả tâm hồn và tình cảm chân thành của mình, sẽ được nữ sĩ đón nhận. Hồ Xuân Hương tối kỵ sự giả dối, và trong tình yêu, không có chỗ cho sự giả dối. Bà muốn người ta đến với nhau bằng tình yêu nồng thắm, chân thành, vì chỉ có như vậy, cuộc sống, con người và tình yêu mới thực sự có ý nghĩa. Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương đang là một lời mời trân trọng đến với tình yêu, và những người yêu thơ, yêu Hồ Xuân Hương, hãy đón nhận điều đó.

Câu 1 .

Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ lại có một bản sắc, một nét đẹp văn hóa khác nhau. Chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa của mình cũng như quảng bá những nét đắc sắc đó đến với bạn bè năm châu. Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng vùng miền của cả đất nước ta. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa dân tộc còn là những giá trị tạo nên sự khác biệt của mỗi quốc gia, sự phong phú trong lối sống, sinh hoạt tập thể của con người và tạo nên sự đa dạng màu sắc cho cuộc sống. Bản sắc văn hóa dân tộc có tầm quan trọng lớn lao đối với cuộc sống của mỗi người nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung. Bản sắc văn hóa dân tộc hay cụ thể hơn là văn hóa vùng miền là nơi con người giao lưu văn hóa, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mình, cũng là nơi con người gắn kết với nhau, vui đùa. Bản sắc văn hóa dân tộc còn là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam ta đang bị mai một, mất dần đi hoặc suy thoái, biến tướng thành nhiều thể loại khác. Chính vì thế, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải có ý thức tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi người học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu, tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.