(4 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
(Lược một đoạn: Đăm Săn cùng tôi tớ vào rừng chặt cây thần.)
Tôi tớ: “Cây xờ-múc, cây xờ-mun, những cây gốc không thấy, ngọn không có, những cây đã sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là cây xờ-múc ở phía đông nhà, là cây pơ-lang ở phía tây hiên, những cây đã sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là những cây gốc trong suối, thân trong thung, bóng rợp cả một vùng, tên gọi là gì không rõ. Gốc cây người đi quanh phải một năm. Cành cây chim chuyền phải một tháng. Tán cây chim bay hết một hơi. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây cao không cao, thấp không thấp, đủ chọc đến trời. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, đó là cây Tông Lông vốn có tự xưa. Thân do trời trồng, gốc do trời vun, tự nó vực dậy, tự nó vươn lên. Đó là một cây cành lá xum xuê, một cây của vực thẳm khe sâu, gãy phía nào không rõ, ngã phía nào không hay. Cây thần đó ông ạ.”
Đăm Săn: “Bớ các con, vậy thì ta hạ cây này nào. Ai gãy rìu, hay rèn ngay rìu. Ai gãy chà gạc, hãy rèn ngay chà gạc.”
(Lược một đoạn: Hơ Nhị, Hơ Bhị sau nhiều ngày chờ đợi, quyết định vào rừng tìm Đăm Săn.)
Đến lúc họ tới được nơi ở của Đăm Săn thì họ thấy cây bị chặt đã rung lên.
Hơ Nhị: “Ơ nuê, ơ nuê! Sao nuê lại làm như vậy? Đó là cây xờ-múc ở phía đông nhà, là cây pơ-lang ở phía tây hiên, những cây sinh ra bà xưa, ông cũ của chúng tôi đó. Nếu nuê cứ phăm phăm chặt như vậy, chúng tôi sẽ chết mất. Nuê sẽ ăn gan bò trong thau, ăn gan trâu trong mâm, uống rượu ché tuk, ché tang một mình một cần. Thôi nuê ở lại, chúng tôi về đây.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị đứng nhìn Đăm Săn. Chàng vẫn hăm hở chặt, trông chàng cứ như đang trong ngày hội giết lợn giết trâu, ăn đông uống vui mừng mùa khô năm mới vậy.
Đăm Săn: “Bớ các con, bớ các con! Hãy dũi như lợn, hãy báng như dê, hãy tới tấp vung tay búa tay rìu như chớp giật trong đêm tối.”
Tôi tớ: “Ối ông ơi, ối ông ơi! Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây như muốn gãy. Gốc trong suối, thân trong khe, cây đang lung lay muốn gãy rồi ông ạ.”
Đăm Săn: “Cây lung lay muốn gãy nhưng gốc chưa đứt. Bớ tất cả làng ta, hãy cứ dũi như lợn, cứ báng như dê, hãy cứ tới tấp vung tay búa tay rìu như chớp giật trong đêm tối cho ta!”
Dân làng chặt thì cầm đèn sáp. Đăm Săn chặt thì cầm đuốc. Bóng cây tối như đêm. Cây đang đu đưa nhè nhẹ, rồi lắc lư từ gốc đến ngọn. Nó muốn gãy. Hơ Nhị, Hơ Bhị thấy vậy bỏ chạy. Hai chị em sợ quýnh, muốn chạy ra xa, những rồi cứ quấn lấy cây mà chạy. Cây xà xuống đầu hai người.
Đăm Săn: “Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, chạy tránh đi nhanh.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị chạy phía tây, cây ngã theo phía tây. Chạy phía đông, cây ngã theo phía đông. Hai chị em chạy vào vùng Mnông, cây ngả theo vào vùng Mnông. Chạy xuống vùng Bih, cây ngã theo xuống vùng Bih. Chạy ra vùng Adham, cây cũng ngả theo ra vùng Adham.
Đăm Săn: “Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, chạy đường về làng.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị liền chạy theo đường về làng… Hai chị em về gần đến làng thì cây sà xuống quá đầu. Họ vào đến làng thì cây lao xuống. Họ vào tới cửa thì cây ầm ầm sụp đổ, tiếng dội đến trời xanh. Cây cối khắp nơi đều gãy theo. Rừng gần rừng xa đều tan tác. Các cây cổ thụ cũng gãy hết, cành toác ra như bị bão giật, thân gục xuống như bị lốc xô. Hai chị em bị vật lăn ra giữa nhà, bị quật ngửa ra gần cửa. Hơ Nhị thì nằm ở đây, váy tuột đằng váy, áo tuột đằng áo. Hơ Bhị vào đến nhà trong thì lăn ra chết ở cửa buồng. Còn Đăm Săn từ lúc ấy cũng chạy theo sau. Tóc xổ đằng tóc, khăn tuột mặc khăn, thấy váy nhặt váy, thấy áo nhặt áo đem về. Anh chàng chạy suốt, vừa chạy vừa khóc. Về đến nhà, thấy Hơ Nhị nằm chết giữa nhà, liền bế Hơ Nhị vào buồng. Vào đến buồng lại thấy Hơ Bhị nằm chết ở cửa buồng liền đỡ luôn Hơ Bhị lên đùi. Thế là một bên đùi anh chàng đỡ Hơ Bhị, còn một bên đùi thì anh chàng đỡ Hơ Nhị. Tôi trai tớ gái trong nhà có bao nhiêu người đều hớt hải chạy đến xem hai người chị em bị cây đánh khác nào hồn đã rơi mất trong suối, vía đã lạc mất trong rừng. Mọi người oà lên khóc.
Tôi tớ: “Ối anh ơi, ối anh ơi! Hai chị chúng tôi chết hết cả rồi. Chúng tôi ở với ai bây giờ.”
(Lược một đoạn: Đăm Săn khóc thương vợ thâu đêm suốt sáng. Rồi chàng căn dặn mọi người lo ma chay chu đáo, còn chàng sẽ lên trời để gặp ông Trời.)
Ông Trời: “Cháu lên có việc gì đấy, cháu?”
Đăm Săn đứng lặng thinh không nói không rằng. Ông Trời chìa thuốc mời, tức thì chàng tóm lấy đầu ông.
Đăm Săn: “Tôi chém ông đây này, ông ơi!”
Ông Trời: “Chuyện gì mà cháu muốn chém ông vậy cháu?”
Đăm Săn: “Chuyện gì mà tôi muốn chém ông à? Chuyện tôi kêu tôi gọi, ông không thưa. Chuyện tôi khóc tôi than, ông không nghe. Chuyện rượu tôi đem cúng, lợn trâu tôi đem giết để làm lễ, mà cổng chốt ông không mở, cổng sắt ông vẫn đóng chặt. Ông ơi, ông hãy nhìn thằng Đăm Săn cháu ông đây này, nước mũi ròng đầy cả chén hoa, nước mắt rỏ ròng đầy cả bát sứ, lênh láng khắp chiếu chăn. Ối ông ơi, vợ cháu chết mất rồi. Người vợ nấu cơm đơm canh, người vợ dệt khố dệt áo cháu chết mất rồi! Chính ông là người đã treo ching với char, trộn dầu với sơn, xe duyên chắp mối vợ chồng cháu. Chính ông đã ép ngựa phải chịu cương, ép trâu phải chịu thừng, ép duyên trai với gái. Cháu không ưng không chịu thì ông hăm cháu phải hốt phân ngựa phân bò cho Hơ Nhị, Hơ Bhị. Ông bảo cháu chỉ có lấy Hơ Nhị, Hơ Bhị mới trở nên một tù trưởng giàu có, ching lắm char nhiều. Vậy giữa lúc ching cháu đang đổi, char cháu đang sắm, tôi trai tớ gái cháu đang có này, ai là người nấu cơm canh, ai là người dệt khố, dệt áo cho cháu đây, ông?”
Ông Trời: “Ơ cháu! Vậy thì cháu hãy lấy ngải kpo, ngải kpun đem mài trong ba năm, đem tắm trong ba sáng cho Hơ Nhị, Hơ Bhị.”
Đăm Săn: “Cháu còn làm như vậy để làm gì nữa hả ông? Đã chết rồi thì sao còn đứng dậy được? Đã rữa ra rồi thì sao còn sống lại được, sao mặt mày còn được như cũ, thân hình còn được như xưa. Biết chọn váy áo, xuyến vòng như các cô gái còn son nữa chứ?”
Ông Trời: “Vậy thì cháu lấy củ nén cháu phun vào lỗ tai, cháu lấy gừng cháu phun vào lỗ mũi. Chạng vạng tối cháu ra làm phép ở ngoài sàn sân.”
Thế là vì duyên vì số, Hơ Nhị, Hơ Bhị đã lúa mục cỏ nát, bị ma quỷ bắt đi, nay lại được ông Trời cho sống lại.
(Trích Sử thi Đăm Săn)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Vì sao sau khi Đăm Săn đốn hạ cây thần, chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị lại chết?
Câu 3. Chỉ ra một chi tiết kì ảo trong văn bản và phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo đó.
Câu 4. Tóm tắt văn bản trên bằng những sự kiện chính và nhận xét về cốt truyện của văn bản.
Câu 5. Hành động quyết đốn hạ cây thần và bắt vạ ông Trời của Đăm Săn cho thấy chàng là người như thế nào? Những hành động ấy thể hiện điều gì ở con người thời đó?
Trong đời sống con người của chúng ta không phải thứ gì cũng mua được bằng tiền. Chúng ta thường nghĩ rằng có được đồng tiền thì sẽ có được mọi thứ nhưng không , có một số thứ không thể giải quyết được bằng tiền.Những thứ có nhiều tiền cách máy như trăm triệu , trăm tỉ , nghìn tỉ , trăm triệu đô , tỷ đô gọi chung nó là vô giá như sức khoẻ, thời gian ,chính trực , sự thật, đạo đức , giáo dục , chữ tính, tâm thành tĩnh, lương thiện, tốt bụng. Nên hãy bỏ cái quần niệm có tiêng là có tất cả.
Câu 1:
Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng "Có tiền là có tất cả", coi đồng tiền như một thước đo duy nhất cho sự thành công và hạnh phúc. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng, bởi tiền bạc chỉ là một công cụ hỗ trợ để con người có được cuộc sống tiện nghi hơn, nó không thể là yếu tố quyết định tất cả mọi giá trị của cuộc sống. Thứ nhất, những giá trị tinh thần như tình yêu thương, hạnh phúc gia đình, tình bạn chân thành đều là những điều tiền bạc không thể mua được. Một gia đình hạnh phúc không phải là gia đình giàu nhất, mà là nơi mọi người sẽ biết yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Thứ hai, sức khỏe, thứ tài sản quý giá nhất trong đời người, cũng không thể hoàn toàn đảm bảo bằng tiền bạc. Nhiều căn bệnh nan y hay sự suy giảm sức khỏe vì lối sống thiếu lành mạnh, dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng khắc phục. Cuối cùng, chạy theo đồng tiền một cách mù quáng dễ khiến con người đánh mất bản ngã, dẫn đến ham mê vật chất và quên đi những giá trị đạo đức cốt lõi. Vì vậy, thay vì coi tiền là tất cả, chúng ta cần nhìn nhận đúng vai trò của nó và xây dựng cuộc sống dựa trên những giá trị bền vững như tình cảm, tri thức và đạo đức. Tiền bạc chỉ nên đóng vai trò phụ giúp cuộc sống thêm trọn vẹn chứ không phải đích đến tối thượng.
Câu 2:
Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã để lại cho hậu thế nhiều bài thơ sâu sắc, phản ánh chân thực về cuộc sống và tư tưởng của ông. Trong số đó, bài thơ "Thế gian biến đổi" nổi bật với nội dung đầy ý nghĩa triết lý và nghệ thuật đặc sắc, khắc họa rõ nét sự suy tư của nhà thơ về sự thay đổi của cuộc đời và thái độ con người trước những biến thiên của thế gian. Trước hết, xét về nội dung, bài thơ phản ánh một cách trực diện và sâu sắc những mặt trái đang hiện hữu trong xã hội thời bấy giờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng hình ảnh thế gian biến đổi như một quy luật tất yếu: "Thế gian biến cải vũng lên đồi". Đây là cách ông diễn đạt sinh động sự chuyển đổi liên tục của cuộc đời, sự thay đổi không chỉ về mặt thiên nhiên mà cả trong lòng người. "Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi", câu thơ gợi lên hình ảnh về cuộc sống đa sắc màu, nơi con người phải đối mặt với cả niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và bất hạnh. Tất cả những trải nghiệm này đều là những mảnh ghép quan trọng hình thành nên bức tranh thế gian đầy phức tạp. Bên cạnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ngần ngại chỉ ra sự thực phũ phàng về thái độ con người trước tiền bạc và danh lợi. Những câu như: "Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi" đã nói lên sự thật đắng cay rằng lòng người thường thay đổi theo vật chất; khi còn giàu sang, danh vọng thì được người đời vây quanh, nhưng lúc khó khăn, tay trắng lại bị xa lánh. Bài thơ cũng bày tỏ niềm tin của nhà thơ vào giá trị chân thật trong cuộc sống: "Xưa nay đều trọng người chân thật / Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi". Điều này phản ánh một triết lý sống nhân văn, đề cao những phẩm chất cao quý trong con người dù xã hội có biến đổi đến đâu. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi cách sử dụng ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc. Nguyễn Bỉnh Khiêm không cần đến những hình ảnh hoa mỹ hay câu từ cầu kỳ để thể hiện ý tưởng của mình. Ngôn từ ông dùng vừa gần gũi, dễ hiểu lại hàm chứa triết lý sâu xa. Những vần thơ ngắn gọn mà giàu hình ảnh đã truyền tải thông điệp một cách sắc bén và thấm thía. Kết cấu bài thơ mạch lạc với hai phần rõ ràng: phần đầu khái quát sự thay đổi trong thế gian, phần sau hướng đến thái độ con người trước thực trạng ấy. Ngoài ra, nhà thơ còn khéo léo sử dụng các biện pháp đối lập để làm nổi bật sự tương phản trong tâm lý và hành động của con người, góp phần tăng sức gợi hình và sức biểu cảm cho bài thơ. Không dừng lại ở việc chỉ trích hay phê phán những thói đời xấu xí, bài thơ "Thế gian biến đổi" còn là lời khuyên và chiêm nghiệm sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắn nhủ chúng ta rằng hãy sống chân thật, giữ vững phẩm chất đạo đức tốt đẹp dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây không chỉ là thông điệp dành riêng cho xã hội thời ông mà còn là bài học quý giá đối với mỗi con người trong mọi thời đại. Tóm lại, bài thơ "Thế gian biến đổi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một bức tranh sống động về hiện thực xã hội vừa mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về cách ứng xử đạo đức. Với nghệ thuật ngôn từ tinh tế cùng tư tưởng giàu chiều sâu triết lý, nhà thơ đã để lại cho hậu thế một tác phẩm có giá trị vượt thời gian, khiến cho người đọc không chỉ đồng cảm mà còn suy ngẫm về chính mình trong dòng chảy bất tận của cuộc đời.