K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.  CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP        […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.        Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

       […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.

       Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của người kể chuyện “được đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần”. Chỉ cần ba câu văn ngắn gọn, người kể chuyện đã gợi cho người đọc một không gian rất gần gũi, thân thuộc với con người. Thế nhưng không gian ấy dường như đối lập với suy nghĩ của ông Diểu, nhân vật chính trong truyện.

       Đọc truyện, người đọc không khỏi ám ảnh cảnh đi săn của ông Diểu. Khi thiên nhiên căng tràn sức sống, xanh tươi, mưa xuân ấm áp, rừng ẩm ướt cũng là thời điểm ông Diểu chọn đi săn và xem đó là cái thú đáng sống. […] Xưa nay, con người luôn có khát vọng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, khẳng định sức mạnh và lòng quả cảm của con người. Thế nhưng tàn sát, hủy hoại thiên nhiên ấy lại là tội lỗi. Tiếng gọi buồn thảm, đau đớn của khỉ đực, tiếng rú thê thảm của khỉ con dưới vực sâu xoáy vào lòng người đọc tiếng gọi của rừng sâu, ám ảnh người đi săn. Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật. […] Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông: “Ông Diểu sợ hãi run lên.”, “Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng.”. Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình. Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.

       Vẻ đẹp của sự hướng thiện

       Đi săn vào một ngày xuân đối với ông Diểu là điều đáng sống, là cơ hội để ông Diểu “khoe” cái sự dẻo dai, nhanh nhẹn và lòng dũng cảm của mình ở tuổi sáu mươi. Thế nhưng khi hạ gục được con mồi, ông Diểu lại hoảng sợ nghĩ mình đang làm điều ác. Chứng kiến sự hoảng loạn của đàn khỉ, khỉ cái liều mạng quay lại cứu khỉ đực ông Diểu day dứt: “Ông sẽ chết trước hai năm nếu bắn khỉ cái.”. Ông Diểu đã tha cho khỉ cái vì sự cuồng nhiệt hi sinh, bởi lòng cao thượng của nó. Gặp lại con khỉ đực ông vừa mới bắn đang nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh, nhìn khỉ đực bị thương giương ánh mắt cầu khẩn về phía mình, ông Diểu thương hại vơ nắm cỏ Lào vò nát, nhai kĩ đắp vết thương, cởi quần lót bó vết thương cho khỉ đực. Ông Diểu vừa bế khỉ đực vừa tìm đường xuống núi với ý nghĩ sẽ bắt con khỉ đực về, mặc cho ông phải bỏ lại quần áo. Nhưng khi thấy khỉ cái lẽo đẽo đằng sau, lầm lũi xuyên rừng, ông Diểu thấy lòng buồn tê tái, sống mũi cay cay. Ông đã quyết định phóng sinh khỉ đực, rẽ sang lối đi khác. Điều gì đã khiến nhân vật hướng thiện nếu không phải là tình yêu? Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng gợi cho nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật những rung cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên. Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật.

       Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người

       Truyện kết thúc bằng hình ảnh ông Diểu trở về nhà qua lối đi khác: “Lối đi đầy bụi gai, nhưng loài hoa tử huyền nhiều không kể xiết.”, “Hoa tử huyền màu trắng, vị mặn, nhỏ như đầu tăm ba chục năm kết muối một lần, điềm báo may mắn, đất nước thanh bình.”. Lối đi khác mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thay đổi nhận thức và hành động của nhân vật. Loài hoa tử huyền mang ý nghĩa biểu tượng cho những điều tốt đẹp. Một người như ông Diểu khao khát chinh phục tự nhiên, ý thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, có tấm lòng hướng thiện sẽ đón nhận những điều tốt lành trong cuộc đời.

       Khép lại trang truyện “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình thay đổi nhận thức và vẻ đẹp trong tâm hồn của của nhân vật yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp. Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện. Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”.

(Chu Thị Hảo, đăng trên taodan.com.vn, bài đăng ngày 18/9/2024)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.

Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.

Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.

Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.

54
14 tháng 12 2025

câu 1: Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng"

Câu 2 : Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.

câu 3

Mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất.

  • Nhan đề "Vẻ đẹp của sự hướng thiện" bao quát được nội dung chính của văn bản. Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "làm điều ác" (đi săn) sang hành động "hướng thiện" (cứu khỉ) của nhân vật ông Diểu. Hành động hướng thiện này chính là điểm mấu chốt tạo nên "vẻ đẹp" trong tâm hồn nhân vật mà văn bản muốn nhấn mạnh và phân tích.

Câu 4

BPTT : Liệt Kê

Tác dụng

Tăng sức gợi hình gợi cảm : Liệt kê hàng loạt các hình ảnh (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú) giúp người đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về không gian rừng núi, sự phong phú của thế giới tự nhiên và các âm thanh đang diễn ra.

Nhấn mạnh sự đối lập và xung đột

Làm nổi bật nguyên nhân

Câu 5

Mục Đích : Nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, kêu gọi nhận thức về trách nhiệm của con người đối với sự sống và môi trường tự nhiên.

Quan điểm : Quan điểm tiến bộ, nhân văn và tích cực. Người viết tin rằng: Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng thức tỉnh lương tri của con người (Quan điểm Thiên nhiên thức tỉnh nhận thức). Sự thay đổi, hướng thiện là một quá trình đáng trân trọng và cần được nhìn nhận một cách nhân ái (Quan điểm Hướng thiện là vẻ đẹp).

Tình cảm :

Trân trọng, ngợi ca và yêu mến đối với thiên nhiên và những hành động thiện lương. Thể hiện sự đồng cảm với quá trình chuyển biến nội tâm phức tạp của nhân vật ông Diểu, kết hợp với thái độ phê phán nhẹ nhàng hành động hủy hoại thiên nhiên ban đầu của con người.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

-Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua vẻ đẹp thiên nhiên, sự hướng thiện của con người và sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên.

Câu 2.

-Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:

“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”

Câu 3.

Mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung văn bản:

-Nhan đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận là “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng.

-Nội dung văn bản phân tích cụ thể các biểu hiện của cái đẹp, làm sáng tỏ và khẳng định ý nghĩa của nhan đề.

Câu 4.

-Biện pháp liệt kê được sử dụng ở các chi tiết: “chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, ba con khỉ” và “tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con”.

-Tác dụng: làm nổi bật sự phong phú, sinh động của thiên nhiên và tạo sự đối lập giữa vẻ đẹp yên bình của rừng với bạo lực săn bắn, qua đó nhấn mạnh sự thức tỉnh lương tri của nhân vật ông Diểu.

Câu 5.

-Mục đích, quan điểm: khẳng định giá trị thẩm mĩ và nhân văn của truyện ngắn, đề cao vẻ đẹp thiên nhiên và khả năng cảm hóa, hướng con người đến điều thiện.

-Tình cảm: thể hiện sự trân trọng thiên nhiên, sự đồng cảm với nhân vật và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Đề thi đánh giá năng lực

10 tháng 11 2024

  \(x=3y\) và y = 5\(x\)  thay y = 5\(x\) vào \(x\) = 3y ta có: \(x\) = 3.5\(x\) 

    ⇒ \(x\)   = 15\(x\) ⇒ \(x-15x\) = 0 ⇒ \(-14\)\(x\) = 0 ⇒ \(x=0\)

Thay \(x\) = 0 vào y = 5\(x\) ta được:  y= 5.0 = 0

Vậy \(x=3\)y; y = 5\(x\) thì y = 0 

 

22 tháng 4

Sau khi học Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, em thấy chính nghĩa là sự bảo vệ lẽ phải, công lí và cái thiện, dám đấu tranh với cái xấu, cái ác để đem lại sự công bằng cho con người. Hình tượng Ngô Tử Văn cho thấy người sống có chính nghĩa phải có bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự kiên định, bởi con đường bảo vệ điều đúng đắn thường không dễ dàng, thậm chí có thể phải đối mặt với hiểm nguy, thiệt thòi hay mất mát. Tuy nhiên, chính nghĩa không có nghĩa là hành động mù quáng, bất chấp mọi hậu quả, mà phải gắn với sự tỉnh táo, trách nhiệm và mục đích tốt đẹp. Đứng về cái thiện là điều cần thiết, nhưng cũng cần có cách ứng xử đúng, có suy nghĩ và có niềm tin vững vàng để việc làm ấy thật sự mang lại giá trị. Vì vậy, em cho rằng chính nghĩa luôn phải đứng về cái thiện, nhưng để bảo vệ cái thiện một cách bền vững thì con người không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần cả trí tuệ và sự sáng suốt.

8 tháng 11 2024

em chỉ thử làm thôi ạ:

Tương tự như thế vậy xuống 100m thì tăng 0,6 độ C và xuống 1000m thì tăng 6 độ C

22 tháng 4

Trong phần 2 và phần 3 của văn bản Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, các câu chủ yếu được viết bằng kiểu câu trần thuật theo mục đích nói, vì tác giả chủ yếu kể lại sự việc, ghi lại suy nghĩ, cảm xúc và những điều đã diễn ra. Ngoài ra có thể có một số câu cảm thán nếu đoạn văn bộc lộ cảm xúc mạnh như xót xa, thương nhớ, xúc động, và có thể có câu nghi vấn nhưng thường là để tự hỏi, tự bộc lộ tâm trạng chứ không nhằm hỏi người khác. Vì vậy, nếu hỏi khái quát thì trả lời là phần 2, phần 3 chủ yếu dùng câu trần thuật, xen một số câu cảm thán, có thể có câu nghi vấn tu từ nếu văn bản có xuất hiện. Nếu cần xác định chính xác từng câu, hãy gửi nguyên văn phần 2 và phần 3.

eodheoebjsidbdoabsvrk

II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM) Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:     Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra...
Đọc tiếp

II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:

    Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.

(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân toàn tập, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về vấn đề ý thức tự học ở giới trẻ.

3
22 tháng 12 2025

Câu 1: Bài làm: 

"Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con Tàu" ("Tiếng hát con tàu" - Chế Lan Viên). Tây Bắc từ lâu đã được xem như một mành đất hứa cho văn chương nghệ thuật, bởi vùng núi ấy không chỉ để lại nhiều ân tình mà còn khiến cho các nhà văn, nhà thơ có được những nguồn cảm hứng bất tận. Nếu như Nguyễn Huy Tưởng đã có cho mình cuốn tiểu thuyết "Bốn năm sau", Tô Hoài ghi dấu ấn với "Vợ chồng A Phủ" thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mành đất này với tập "Tùy bút Sông Đà" mà linh hồn là bài kí "Người lái đò Sông Đà". Thường thức bài kí, người đọc không khỏi ấn tượng với vẻ đẹp của con sông Đà và trong mạch nguồn cảm hứng ấy, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà không chỉ bằng đôi mắt của người lữ hành mà còn bằng trái tim của một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp tuyệt đích. Ở đoạn trích này, con sông Đà hiện ra trước hết trong trạng thái tĩnh lặng đến hóa cổ kính, “lặng tờ” như thể đã bất biến từ “đời Trần, đời Lê”, khiến dòng chảy không chỉ trôi trong không gian mà còn thấm sâu vào chiều dài lịch sử dân tộc. Sự tĩnh lặng ấy mở ra một thế giới thiên nhiên nguyên sơ, tinh khiết và chưa bị bàn tay con người chạm tới: nương ngô non đầu mùa, cỏ gianh ra nõn búp, đàn hươu thơ ngộ cúi mình trong sương đêm. Những hình ảnh ấy không chỉ giàu sức gợi mà còn mang vẻ đẹp của buổi ban sơ, của “bờ tiền sử”, “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, khiến sông Đà như bước ra từ huyền thoại. Thiên nhiên trong trang văn Nguyễn Tuân không vô tri mà đầy linh hồn: con hươu biết “nhìn không chớp mắt”, dòng sông biết “lắng nghe”, biết “nhớ thương” những hòn đá thác nơi thượng nguồn xa xôi. Đặc biệt, cách so sánh sông Đà với “một người tình nhân chưa quen biết” đã nâng dòng sông lên tầm một sinh thể có cảm xúc, có chiều sâu tâm trạng, vừa e ấp, kín đáo vừa gợi thương gợi nhớ. Tất cả đã làm nên một bức tranh sông Đà vừa trữ tình, vừa giàu chất thơ, thấm đẫm chất văn hóa và tâm hồn Việt, qua đó khẳng định tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân, người đã gửi cả tình yêu đất nước, niềm say mê thiên nhiên và phong cách tài hoa của mình vào từng con chữ.



Câu 2: Bài làm: 

Trong kỉ nguyên tri thức bùng nổ và biến đổi không ngừng, ý thức tự học không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện sống còn đối với mỗi người trẻ trên hành trình khẳng định giá trị bản thân. Tự học chính là khả năng chủ động tìm kiếm tri thức, rèn luyện kĩ năng và hoàn thiện nhân cách mà không phụ thuộc hoàn toàn vào sự dẫn dắt của người khác. Khi nhà trường chỉ có thể trao cho người học “chiếc chìa khóa”, thì tự học chính là cánh cửa mở ra thế giới rộng lớn của hiểu biết và trưởng thành.

Trước hết, ý thức tự học giúp giới trẻ làm chủ việc học và cuộc đời mình. Trong thời đại công nghệ số, kiến thức luôn được cập nhật, nếu chỉ trông chờ vào bài giảng trên lớp, người trẻ sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau. Tự học giúp họ chủ động đào sâu vấn đề, mở rộng tư duy, biến kiến thức tiếp nhận thụ động thành hiểu biết của riêng mình. Quan trọng hơn, quá trình tự học rèn luyện tính kiên trì, tinh thần trách nhiệm và khả năng tự quản lí, những phẩm chất không thể thiếu để thành công trong học tập cũng như nghề nghiệp sau này.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít bạn trẻ hiện nay chưa coi trọng tự học. Nhiều người học đối phó, học để thi, lệ thuộc hoàn toàn vào thầy cô, sách giải hay các nguồn “tóm tắt nhanh” trên mạng. Sự hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và lối sống hưởng thụ khiến không ít bạn trẻ ngại suy nghĩ, lười đọc, thiếu chiều sâu tri thức. Hệ quả là kiến thức hổng, tư duy hạn chế, thiếu bản lĩnh trước những lựa chọn quan trọng của cuộc đời.

Nguyên nhân của thực trạng ấy không chỉ đến từ bản thân người trẻ mà còn từ gia đình và xã hội. Sự bao bọc quá mức của cha mẹ, cách dạy học nặng về truyền thụ, nhẹ về khơi gợi tư duy, cùng với áp lực điểm số đã vô tình làm giảm tinh thần tự học. Dù vậy, trách nhiệm lớn nhất vẫn thuộc về chính người trẻ, bởi không ai có thể học thay hay sống thay họ.

Nhận thức được tầm quan trọng của tự học, mỗi bạn trẻ cần thay đổi thái độ và phương pháp học tập. Tự học không phải là học một cách cô lập mà là biết đặt câu hỏi, biết tìm kiếm, biết chọn lọc thông tin và biến tri thức thành hành động. Người trẻ cần xây dựng mục tiêu rõ ràng, thói quen đọc sách, khả năng tự đánh giá và tinh thần học hỏi suốt đời. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt và nuôi dưỡng đam mê học tập.

Ý thức tự học chính là thước đo bản lĩnh của giới trẻ trong thời đại mới. Khi biết tự học, người trẻ không chỉ tích lũy tri thức mà còn học cách làm chủ tương lai, tự tin bước đi trên con đường của chính mình và đóng góp giá trị bền vững cho xã hội.

22 tháng 12 2025

Câu 1 (2 điểm): Phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích. ​Vẻ đẹp lặng tờ, hoang dại: Cảnh ven sông được miêu tả "lặng tờ" như từ đời Trần đời Lê, mang vẻ đẹp của một "bờ tiền sử", "nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". ​Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng: Hình ảnh những nương ngô nhú lá non, những con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông như bạc rơi thoi. ​Vẻ đẹp đầy sức sống nhưng êm đềm: Sông Đà lúc này không còn hung bạo mà trở nên "lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi", mang tâm hồn của một người tình nhân chưa quen biết. ​Câu 2 (4 điểm): Nghị luận về vấn đề ý thức tự học ở giới trẻ. ​Mở bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc học và đặc biệt là ý thức tự học trong kỷ nguyên tri thức. ​Thân bài: ​Giải thích: Tự học là quá trình chủ động chiếm lĩnh tri thức mà không cần sự thúc ép. ​Thực trạng: Một bộ phận giới trẻ chủ động học hỏi qua internet, sách báo; nhưng cũng có bộ phận thụ động, ỷ lại vào công nghệ. ​Ý nghĩa: Tự học giúp con người nắm vững kiến thức bền vững, rèn luyện tư duy độc lập và khả năng thích nghi cao. ​Giải pháp: Cần xây dựng mục tiêu học tập rõ ràng, rèn luyện tính kỷ luật và ham học hỏi. ​Kết bài: Liên hệ bản thân và khẳng định: "Tự học là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công".

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau: ... Kim đồng hồ tích tắc, tích tắc Hai tiếng động nhỏ bé kia Hơn mọi ầm ào gào thét Là tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người Đó là thời gian Nó báo hiệu mỗi giây phút qua đi không trở lại Nhắc nhở cái gì đang đợi ta ở cuối Nhưng anh, anh chẳng sợ nó đâu Thời gian – đó là chiều dài những ngày ta sống bên...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

... Kim đồng hồ tích tắc, tích tắc

Hai tiếng động nhỏ bé kia

Hơn mọi ầm ào gào thét

Là tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người

Đó là thời gian

Nó báo hiệu mỗi giây phút qua đi không trở lại

Nhắc nhở cái gì đang đợi ta ở cuối

Nhưng anh, anh chẳng sợ nó đâu

Thời gian  đó là chiều dài những ngày ta sống bên nhau

Thời gian  đó là chiều dày những trang ta viết.

(Trích Cho Quỳnh những ngày đi xa, Di cảo Lưu Quang Vũ, NXB Trẻ, 2028, tr.29  30)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Vì sao tiếng Kim đồng hồ tích tắc lại trở thành tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người?

Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong trường hợp sau:

Hai tiếng động nhỏ bé kia

Hơn mọi ầm ào gào thét

Câu 4. Lưu Quang Vũ có cách cảm nhận thời gian như thế nào trong hai câu thơ cuối?

Câu 5. Theo anh/chị, hai cách cảm nhận về thời gian trong đoạn trích sẽ chi phối như thế nào tới đời sống con người?

11
22 tháng 12 2025

Câu 1: Thể thơ tự do

Câu 2: Tiếng kim đồng hồ trở nên khủng khiếp vì nó không chỉ đo thời gian mà nhắc con người về sự trôi đi không thể đảo ngược của đời sống. Trong tĩnh lặng, mỗi tiếng “tích tắc” gõ vào nỗi cô đơn, lo âu và chờ đợi, khiến con người ý thức rõ về sự hữu hạn của mình. Nó đều đặn, vô cảm, không dừng lại — như thời gian, vẫn trôi dù ta sợ hãi hay tiếc nuối.

câu 3: Hai câu thơ sử dụng biện pháp tu từ so sánh kết hợp với tương phản.

Tác giả đặt “hai tiếng động nhỏ bé” đối lập với “mọi ầm ào gào thét” để làm nổi bật nghịch lí: cái rất nhỏ, rất khẽ lại có sức ám ảnh mạnh mẽ hơn mọi âm thanh ồn ào. Qua đó, câu thơ khắc sâu tác động ghê gớm của tiếng động tưởng như vô hình, đồng thời gợi ra sức nặng tinh thần và nỗi ám ảnh âm thầm trong tâm hồn con người.

Câu 4: Trong hai câu thơ cuối, Lưu Quang Vũ cảm nhận thời gian không còn là dòng chảy vô nghĩa, mà là chất liệu sáng tạo và hành động. Từ những sự vật và ngày tháng bình thường, nhỏ bé, con người có thể biến thời gian thành hành trình, thành khát vọng lên đường, thành ý nghĩa sống. Thời gian vì thế mang giá trị chủ động, tích cực, gắn với dấn thân và lựa chọn của con người.

Câu 5: Hai cách cảm nhận về thời gian trong đoạn trích chi phối sâu sắc đời sống con người. Khi thời gian được cảm nhận như sự trôi đi không trở lại, nó đánh thức ý thức về giới hạn đời người, khiến con người biết trân trọng từng khoảnh khắc, sống tỉnh thức hơn. Khi thời gian được nhìn như chiều dài yêu thương và chiều dày sáng tạo, nó thôi thúc con người hành động, cống hiến và biến điều bình thường thành ý nghĩa. Sự kết hợp hai cách nhìn ấy giúp con người sống có trách nhiệm, có khát vọng và không hoài phí thời gian của chính mình.

22 tháng 12 2025

​Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Thể thơ tự do.

Câu 2. Vì sao tiếng "Kim đồng hồ tích tắc" lại trở thành "tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người"?

​Về nghệ thuật: Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức biểu cảm cho nỗi lo âu trước dòng thời gian.là vĩnh viễn mất đi, không bao giờ trở lại. Nó nhắc nhở con người về sự hữu hạn của kiếp người và cái kết (cái chết) đang đợi ở phía cuối con đường.

Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong trường hợp: "Hai tiếng động nhỏ bé kia / Hơn mọi ầm ào gào thét" ​Tác dụng: ​Về nội dung: Nhấn mạnh sức ám ảnh và sự tác động mạnh mẽ của tiếng kim đồng hồ (thời gian) đối với tâm trí con người. Dù âm thanh thực tế rất nhỏ bé nhưng giá trị biểu đạt về sự mất mát lại lớn lao hơn bất kỳ tiếng động ồn ào nào khác. ​Về nghệ thuật: Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức biểu cảm cho nỗi lo âu trước dòng thời gian.


II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM) Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu tác hại của việc lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau: Đoạn trích 1: NHÀ MẸ LÊ Thạch Lam      Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và...
Đọc tiếp

II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu tác hại của việc lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau:

Đoạn trích 1:

NHÀ MẸ LÊ

Thạch Lam

     Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

     Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

(Trích Nhà mẹ LêTuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2015, trang 28 - 29)

Đoạn trích 2:

LÀM MẸ

Nguyễn Ngọc Tư

   (Lược phần đầu: Dì Diệu và chú Đức lấy nhau đã nhiều năm nhưng không có con vì năm cưới chú, việc cắt khối u buồng trứng đã khiến dì không thể tự sinh con. Bởi niềm khao khát về đứa con chưa lúc nào nguôi nên dì bàn với chú Đức tìm người mang thai hộ. Chị Lành gánh nước thuê vì hoàn cảnh gia đình ngặt nghèo nên nhận lời giúp chú dì. Em bé trong bụng chị Lành ngày một lớn đem đến niềm vui vô bờ cho chú dì, và cũng dấy lên tình mẫu tử ở chị Lành.)

   Và khi tháng Ba đi qua, đứa bé bắt đầu báo hiệu sự sống. Chị Lành khoe:

   – Nó đạp rồi, chị Diệu, nó đạp đây nè.

   Dì Diệu hớn hở vén bụng chị Lành lên, dưới làn da căng mẫn, đứa bé con chòi đạp rối rít. Chị Lành cười giòn:

   – Nó mạnh quá chị ha....

   Dì Diệu cười, rồi làm như một cơn gió từ đâu xộc tới, tim dì riết lại một nỗi đau. Dì thèm biết bao nhiêu cái cảm giác che chở cho một sinh linh sống trong mình, để được thèm tới cùng, tới chảy nước dãi món ngọt, món chua, để có thể cảm nhận từ trái tim chứ không phải bằng bàn tay đôi bàn chân bé bỏng quẩy đạp bụng mình thon thót. Đó là những thứ cảm giác thiêng liêng không vay mượn, thuê mướn được: cảm giác làm mẹ. Dì bắt đầu lo lắng, mình đã làm một việc đúng không.

   Chỉ còn một tháng hai mươi ngày nữa, đứa bé sẽ ra đời. Dì Diệu tính từng ngày, từng bữa. Chị Lành tính từng ngày từng bữa. Người trông cho mau, người trông đừng bao giờ đến. Dì Diệu cố quên cái vẻ mặt buồn bã, van nài của chị Lành. Chị biết, khi đứa bé khóc ngoe ngoe cất tiếng khóc chào đời, là chị với nó sẽ phải chia lìa. Hợp đồng đã ghi rõ ràng như vậy. Chị thấy thương mình, thương con và thương dì Diệu. Chị rối rít ăn, rối rít ngủ vì biết rằng mai nầy rồi chẳng còn nhau...

(Nguyễn Ngọc Tư, Làm mẹ, Tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, 5/2024)

0
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau: CHÙA VẠN NIÊN – NGÔI CHÙA CỔ NGÀN NĂM TUỔI BÊN BỜ HỒ TÂY       Chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, chùa Vạn Niên vẫn giữ nguyên nét cổ kính, trầm mặc giữa không gian hối hả, nhộn nhịp của Hà thành.       Dưới triều đại Lý Thuận Thiên vào năm 1014, Thiền sư Hữu Nhai Tăng đã xin vua lập giới đàn tại vị trí hiện...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

CHÙA VẠN NIÊN  NGÔI CHÙA CỔ NGÀN NĂM TUỔI BÊN BỜ HỒ TÂY

      Chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, chùa Vạn Niên vẫn giữ nguyên nét cổ kính, trầm mặc giữa không gian hối hả, nhộn nhịp của Hà thành.

      Dưới triều đại Lý Thuận Thiên vào năm 1014, Thiền sư Hữu Nhai Tăng đã xin vua lập giới đàn tại vị trí hiện tại của chùa Vạn Niên. Kể từ đó, ngôi chùa này đã được xây dựng và tồn tại mãi cho đến tận ngày hôm nay. 

  Chùa Vạn Niên là một công trình nghệ thuật bằng gỗ với hoa văn họa tiết vừa bản địa, vừa tiếp nhận văn hóa phương Đông. Các nếp nhà được xây dựng hướng Đông theo bố cục mặt bằng gồm tam quan, chùa chính điện Mẫu (thờ Bà chúa Liễu Hạnh), nhà tăng, nhà phụ. Bao quanh kiến trúc là vườn cây cổ thụ tôn thêm vẻ đẹp và tạo sự u tịch, tĩnh lặng nơi cửa thiền, làm nên một tổng thể di tích văn hóa, nghệ thuật đặc sắc, hài hòa. Chùa Vạn Niên đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1996.

      Qua hơn 1.000 năm, ngôi chùa đã được được trùng tu và tôn tạo nhiều lần. Các kiến trúc tam quan, tiền đường, nhà Tổ, nhà khách, lầu Quan Âm, các mảng hoa văn truyền thống trên cột, kèo... được chạm trổ tỉ mỉ, sử dụng đề tài trang trí quen thuộc của người Việt như Tứ Linh và Tứ Quý.

    Tuy nằm ngay bên mặt đường Lạc Long Quân luôn tấp nập người, xe qua lại, nhưng phía sau cổng chùa là sự cổ kính, thanh tịnh… Không gian chùa không lớn nhưng được bao trùm một màu xanh mát của những cây cổ thụ nhiều năm tuổi.

      Theo Thăng Long cổ tích khảo, thì "Chùa ở bờ Tây hồ Tây... Lý Thuận Thiên năm thứ 5 (1014), Hữu Nhai tăng thống xin tâu lập giới đàn tại đây, thụ giới cho các Tăng đồ. Vua xuống chiếu ban cho. Bấy giờ, danh tăng Lâm Tuệ Sinh, Thảo Đường thời Lý kế thừa trụ trì ở đây".

      Hiện chùa còn giữ bộ di vật với hơn 40 pho tượng tròn và 10 đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn có giá trị lịch sử - văn hóa nghệ thuật cao. Tại chùa có bức tượng phật Thích Ca, cao hơn 1,3m và nặng 600kg, được làm từ ngọc Phỉ Thúy (Jadeit tự nhiên), làm cho bộ di vật của ngôi chùa thêm độc đáo.

      Chùa Vạn Niên đang ngày một khang trang và được nhiều Phật tử gần xa biết đến. Không chỉ là điểm đến tâm linh mà chùa còn trở thành một địa điểm du lịch được du khách trong và ngoài nước lựa chọn khi đến thăm Thủ đô. Tuy có nhiều đổi mới nhưng chùa vẫn giữ được nét đẹp cổ kính và độc đáo về văn hóa kiến trúc xen giữa lòng thủ đô hiện đại và phát triển.

(Theo Huyền Hoa, https://danviet.vn/chua-van-nien-ngoi-chua-co-ngan-nam-tuoi-ben-bo-ho-tay-20240429084512746.htm)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn): 

Câu 1. Văn bản đề cập đến thông tin nào? 

Câu 2. Liệt kê các chi tiết, sự kiện xác thực được nhắc tới trong văn bản. 

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: Tuy nằm ngay bên mặt đường Lạc Long Quân luôn tấp nập người, xe qua lại, nhưng phía sau cổng chùa là sự cổ kính, thanh tịnh…

Câu 4. Việc kết hợp thủ pháp trần thuật với miêu tả trong văn bản có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của văn bản?

Câu 5. Theo anh/chị, hình ảnh chùa Vạn Niên nói riêng và những công trình văn hóa lâu đời nói chung tồn tại trong cuộc sống xô bồ, hối hả hiện nay có ý nghĩa như thế nào?

0