K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       MỘT TIẾNG RAO ĐÊM       Ai ăn bánh bột lọc không?      Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng!      Không phải giọng của một hầu đứng tuổi      Cao thánh thót hay rồ khan gió bụi      Đây âm thanh của một cổ non tơ      Mà giây ngân còn vương vấn dại khờ      Trên môi mỏng hãy thơm mùi sữa mẹ.      Tiếng rao nhỏ của...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

     MỘT TIẾNG RAO ĐÊM 

     Ai ăn bánh bột lọc không?
     Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng!
     Không phải giọng của một hầu đứng tuổi
     Cao thánh thót hay rồ khan gió bụi
     Đây âm thanh của một cổ non tơ
     Mà giây ngân còn vương vấn dại khờ
     Trên môi mỏng hãy thơm mùi sữa mẹ.
     Tiếng rao nhỏ của một em gái bé
     Không vang lâu, chỉ vừa đủ rao mời
     Mà giọng còn non quá, yếu dần hơi
     Nên cái bánh nửa chừng ra cái bén
     Thôi cũng được, tiếng em vừa ngon đến
     Rao đi em, kẻo nữa quá khuya rồi...

     Anh nằm nghe qua cửa khám, xa xôi
     Tiếng em bước trên đường đêm nho nhỏ
     Nhưng cũng đủ cho lòng anh lắng rõ.
     Anh thấy em, mình gió thổi nghiêng nghiêng
     Như cây dương liễu nhỏ tóc chưa viền
     Manh áo mỏng che không kín ngực
     Đầu không nón, bụi sương thầm chấm ướt
     Đuôi tóc chuôi chừng bảy tám năm thôi!
     Ấy chân em leo lên bước đường đời
     Ngày tháng đó trong mủng vài chục bánh.
     Gia tài đó, mấy đồng xu mỏng mảnh,
     Biết bao giờ mà sướng được em ơi!
     Có ai thương một com bé giữa trời
     Mà thương nữa, cũng đôi người lơ đễnh
     Kêu em lại, mua cho vài chiếc bánh
     Trả vài xu và thoa má, ngọt ngào
     “Ồ cái con bé nó mới ngoan sao
     Chừng ấy tuổi đã làm ăn bán dạo!”

                                     (Trích Một tiếng rao đêm, Tố Hữu)

Chú thích: Bài thơ được sáng tác tại xà lim Quy Nhơn, vào tháng 11 năm 1941. Tác giả nằm trong nhà giam, nghe tiếng rao đêm của một đứa trẻ mới chỉ 7 - 8 tuổi trong đêm khuya vắng (đứa trẻ này chính là con gái của người bạn tù của Tố Hữu). Trong ông dâng lên nỗi xúc động, nghẹn ngào và tiếng thơ Một tiếng rao đêm ra đời là vì thế.  

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ. 

Câu 2. Chỉ ra nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình trong bài thơ. 

Câu 3. Xác định và phân tích biện pháp tu từ trong câu thơ sau: Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng!

Câu 4. Phát biểu chủ đề và tư tưởng của bài thơ. 

Câu 5. Tác giả gửi gắm thông điệp gì qua bài thơ?

17
3 tháng 9 2025

Câu 1. 

Bài thơ Một tiếng rao đêm được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2. 

- Nhân vật trữ tình: người tù nhân bị giam trong xà lim Quy Nhơn.

- Đối tượng trữ tình: em bé rao bán bánh đêm khuya. 

Câu 3. 

- Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng!: tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ (cụ thể là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) khi dùng cụm từ  "ướt lạnh" (cảm nhận bằng xúc giác) để bổ sung ý nghĩa cho "tiếng rao" (một dạng âm thanh phải cảm nhận bằng thính giác). 

- Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: biện pháp tu từ ẩn dụ trong trường hợp này không chỉ có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; mà còn nhấn mạnh cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình khi nghe tiếng rao đêm của một số phận nhỏ bé, đáng thương, vất vả. 

Câu 4. 

- Chủ đề: số phận nhỏ bé, đáng thương của đứa trẻ nghèo. 

- Tư tưởng: tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót thương cho số phận của những đứa trẻ nghèo, đáng thương, vất vả. 

Câu 5. 

Qua bài thơ, tác giả gửi gắm thông điệp: hãy yêu thương, nâng niu, bảo vệ, săn sóc những đứa trẻ để chúng có được những năm tháng tuổi thơ yên vui, hạnh phúc. 

Câu 1

Thể thơ là loại thơ 8 chữ

Câu 2

Nhân vật chữ tình là người anh

Đối tượng chữ tình là người Em

Câu 3

Câu 1. (2 điểm)    Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật Pê-nê-lốp trong đoạn trích dưới đây. UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ     (Tóm tắt đoạn đầu: Sau hơn hai mươi năm xa cách, trải qua bao nỗi gian lao, Uy-lít-xơ mới được trả tự do, quay trở về với gia đình. Giả dạng làm người hành khất, Uy-lít-xơ đã vào được trong ngôi nhà của mình, được Pê-nê-lốp...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

   Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật Pê-nê-lốp trong đoạn trích dưới đây.

UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ

    (Tóm tắt đoạn đầu: Sau hơn hai mươi năm xa cách, trải qua bao nỗi gian lao, Uy-lít-xơ mới được trả tự do, quay trở về với gia đình. Giả dạng làm người hành khất, Uy-lít-xơ đã vào được trong ngôi nhà của mình, được Pê-nê-lốp cho phép ở lại để kể cho nàng nghe những câu chuyện về chồng nàng mà anh ta biết... Nhũ mẫu Ơ-ri-clê báo cho nàng biết Uy-lít-xơ chồng nàng đã trở về và đã trừng trị bọn cầu hôn quấy nhiễu, gây sức ép cho nàng suốt bấy lâu này. Nhưng Pê-nê-lốp không tin. Nàng đã khéo léo thử thách chồng, để Uy-lít-xơ nói ra điều mà chỉ có nàng, chồng nàng cùng một người thị nữ thân cận biết để kiểm chứng thân phận của người hành khất.)

    Pê-nê-lốp thận trọng đáp:

   - Khốn khổ! Tôi không coi thường, coi khinh ngài, cũng không ngạc nhiên đến rối trí đâu. Tôi biết rất rõ ngài như thế nào khi ngài từ giã I-tác ra đi trên chiếc thuyền có mái chèo dài. Vậy thì, Ơ-ri-clê! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây nên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường.

    Nàng nói vậy để thử chồng, nhưng Uy-lít-xơ bỗng giật mình nói với người vợ thận trọng:

    - Nàng ơi, nàng vừa nói một điều làm cho tôi chột dạ. Ai đã xê dịch giường tôi đi chỗ khác vậy? Nếu không có thần linh giúp đỡ thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này. Nếu thần linh muốn xê dịch đi thì dễ thôi, nhưng người trần dù đang sức thanh niên cũng khó lòng lay chuyển được nó. Đây là một chiếc giường kì lạ, kiến trúc có điểm rất đặc biệt, do chính tay tôi làm lấy chứ chẳng phải ai. Nguyên trong sân nhà có một cây ô-liu lá dài; nó mọc lên, khoẻ, xanh tốt và to như cái cột. Tôi kẻ vạch gian phòng của vợ chồng mình quanh cây ô-liu ấy, rồi xây lên với đá tảng đặt thật khít nhau. Tôi lợp kĩ gian phòng, rồi lắp những cánh cửa bằng gỗ liền, đóng rất chắc. Sau đó tôi chặt hết cành lá của cây ô-liu lá dài, cố đẽo thân cây từ gốc cho thật vuông vắn rồi nảy đường mực, làm thành một cái chân giường và lấy khoan khoan lỗ khắp xung quanh. Tôi bào tất cả các bộ phận đặt trên chân giường đó, lấy vàng bạc và ngà nạm vào trang trí, và cuối cùng tôi căng lên mặt giường một tấm da màu đỏ rất đẹp. Đó là điểm đặc biệt mà tôi vừa nói với nàng. Nhưng nàng ơi, tôi muốn biết cái giường ấy hiện còn ở nguyên chỗ cũ, hay đã có người chặt gốc cây ô-liu mà dời nó đi nơi khác. 

    Người nói vậy, và Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, nàng thấy Uy-lít-xơ tả đúng mười mươi sự thật. Nàng bèn chạy ngay lại, nước mắt chan hoà, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng và nói: 

    - Uy-lít-xơ! Xin chàng chớ giận thiếp, vì xưa nay chàng vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan. Ôi! Thần linh đã dành cho hai ta một số phận xiết bao cay đắng vì người ghen ghét ta, không muốn cho ta được sống vui vẻ bên nhau, cùng nhau hưởng hạnh phúc của tuổi thanh xuân và cùng nhau đi đến tuổi già đầu bạc. Vậy giờ đây, xin chàng chớ giận thiếp, cũng đừng trách thiếp về nỗi gặp chàng mà thiếp không âu yếm chàng ngay. Thiếp luôn luôn lo sợ có người đến đây, dùng lời đường mật đánh lừa, vì đời chẳng thiếu gì người xảo quyệt, chỉ làm điều tai ác... Giờ đây, chàng đã đưa ra những chứng cớ rành rành, tả lại cái giường không ai biết rõ, ngoài chàng với thiếp và Ác-tô-rít, một người thị tì của cha thiếp cho khi thiếp về đây... Vì vậy chàng đã thuyết phục được thiếp và thiếp phải tin chàng, tuy lòng thiếp rất đa nghi. 

    Nàng nói vậy, khiến Uy-lít-xơ càng thêm muốn khóc. Người ôm lấy người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời chung thuỷ của mình mà khóc dầm dề. [...] Pê-nê-lốp cũng vậy, được gặp lại chồng, nàng sung sướng xiết bao, nàng nhìn chồng không chán mắt và hai cánh tay trắng muốt của nàng cứ ôm lấy cổ chồng không nỡ buông rời.

(Hô-me-rơ, Ô-đi-xê, theo bản dịch của Phan Thị Miến, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)

Câu 2. (4 điểm)

  Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của anh/ chị về vấn đề sử dụng AI và việc phát triển bản thân. 

1
11 tháng 1

Hh xvhhfxvhhfguyyhxvhhfxvhhfguyyhhfxcvhh  e

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRUYỆN NGƯ TINH     Ở ngoài biển Đông có con cá đã thành tinh, mình như rắn dài hơn năm mươi trượng, chân nhiều như rết, biến hóa thiên hình vạn trạng, linh dị khôn lường, khi đi thì ầm ầm như mưa bão, lại ăn thịt người nên ai cũng sợ...     Có hòn đá Ngư tinh, răng đá lởm chởm cắt ngang bờ bể, ở dưới đá có hang, cá tinh sống...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.

TRUYỆN NGƯ TINH

    Ở ngoài biển Đông có con cá đã thành tinh, mình như rắn dài hơn năm mươi trượng, chân nhiều như rết, biến hóa thiên hình vạn trạng, linh dị khôn lường, khi đi thì ầm ầm như mưa bão, lại ăn thịt người nên ai cũng sợ...

    Có hòn đá Ngư tinh, răng đá lởm chởm cắt ngang bờ bể, ở dưới đá có hang, cá tinh sống ở trong đó. Thuyền dân đi qua chỗ này thường hay bị cá tỉnh làm hại. Vì sóng gió hiểm trở, không có lối thông, dân muốn mở đường đi khác nhưng đá rắn chắc khó đẽo. Một đêm, có tiên đến đục đá làm cảng để cho người đi dễ dàng qua lại. Cảng sắp làm xong, cá tinh bèn hóa làm con gà trắng gáy ở trên núi. Quần tiên nghe tiếng ngỡ rằng đã rạng đông nên cùng bay lên trời (nay gọi là cảng Phật Đào). Long Quân thương dân bị hại, bèn hóa phép thành một chiếc thuyền lớn, hạ lệnh cho quỷ Dạ Xoa ở dưới thủy phủ cấm thần biển không được nổi sóng, rồi chèo thuyền đến bờ hang đá, cá tỉnh, thần giả vờ cầm một người sắp ném vào cho nó ăn. Cá tinh há miệng định nuốt, Long Quân cầm một khối sắt nung đỏ ném vào miệng cá. Cá tinh chồm lên quẫy mình quật vào thuyền. Long Quân cắt đứt đuôi cá, lột da phủ lên trên núi nay chỗ đó gọi là Bạch Long Vĩ, còn cái đầu trôi ra ngoài bể biến thành con chó. Long Quân bèn lấy đá ngăn bể rồi chém nó. Nó biến thành cái đầu chó, nay gọi là Núi Đầu Chó (Cẩu Đầu Sơn), còn thân mình trôi ra ngoài Mạn Cầu, chỗ đó nay gọi là Cẩu Mạn Cầu.

(Trích Lĩnh Nam Chích Quái)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Tìm câu văn mô tả ngoại hình của Ngư tinh. 

Câu 3. Chỉ ra một chi tiết kì ảo có trong văn bản và nêu tác dụng của chi tiết kì ảo đó. 

Câu 4. Việc Long Quân diệt trừ Ngư tinh thể hiện khát vọng nào của con người thuở sơ khai?

Câu 5. Việc lồng ghép những địa danh có thật trong tác phẩm có tác dụng gì? 

1
11 tháng 1

Ckl


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.  DỚT TRỪNG PHẠT PRÔ-MÊ-THÊ1           Prô-mê-thê đã lấy ngọn lửa hồng thiêng liêng, báu vật riêng có của các vị thần đem trao cho loài người. Việc làm đó khiến thần Dớt, đấng phụ vương của các thần và người trần thế, căm tức đến điên đầu sôi máu. Dớt phải trừng phạt loài người để cho Prô-mê-thê biết rằng Dớt là...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

DỚT TRỪNG PHẠT PRÔ-MÊ-THÊ1

          Prô-mê-thê đã lấy ngọn lửa hồng thiêng liêng, báu vật riêng có của các vị thần đem trao cho loài người. Việc làm đó khiến thần Dớt, đấng phụ vương của các thần và người trần thế, căm tức đến điên đầu sôi máu. Dớt phải trừng phạt loài người để cho Prô-mê-thê biết rằng Dớt là một kẻ có quyền lực, rằng sự hy sinh tận tụy của Prô-mê-thê cho cuộc sống của loài người là vô ích. Tuy loài người trở thành bất tử nhờ ngọn lửa của Prô-mê-thê nhưng tội ác và tai họa cùng với biết bao điều xấu xa, điên đảo cũng trở thành người bạn đường bất tử của loài người. Vì lẽ đó loài người chẳng thể có được cuộc sống đạo đức, văn minh, hạnh phúc như Prô-mê-thê mong muốn. Dớt phải trừng phạt Prô-mê-thê để cho loài người biết cái giá phải trả cho hành động táo tợn, phạm thượng, dám cướp đoạt báu vật thiêng liêng độc quyền của thần thánh, ngọn lửa hồng không mệt mỏi, là đắt đến như vậy. Những kẻ nào nuôi giữ tấm lòng thương yêu loài người, hằng ham muốn thay đổi số phận loài người hãy lấy đó làm gương.

Dớt ra lệnh bắt Prô-mê-thê giải đến một đỉnh núi cao chót vót trong dãy núi Cau-xcây, xiềng chặt Prô-mê-thê vào đó. Hê-phai-tớt, vị thần Thợ Rèn danh tiếng, trước đây đã sáng tạo ra người thiếu nữ Pan-đô-ra, nay đảm nhận việc đóng đanh xiềng Prô-mê-thê vào núi đá. Prô-mê-thê bị đày đọa, ban ngày dưới nắng bỏng cháy da, ban đêm dưới sương tuyết rét buốt thấu xương. Chưa hết, ngày ngày Dớt còn sai một con đại bàng có đôi cánh rộng và dài đến mổ bụng ăn buồng gan của Prô-mê-thê. Dớt tưởng rằng dùng những cực hình đó, Prô-mê-thê sẽ phải khuất phục quy hàng mình, Prô-mê-thê sẽ phải từ bỏ lòng thương yêu loài người và thái độ chống đối đầy kiêu hãnh và thách thức đối với Dớt và thế giới thần linh. Nhưng Prô-mê-thê vẫn là Prô-mê-thê, trước sau như một không hề run sợ đầu hàng Dớt. Và thật là kỳ diệu và lạ lùng biết bao, buồng gan của Prô-mê-thê cũng bất tử như Titan Prô-mê-thê! Ban ngày con ác điểu ăn đi bao nhiêu thì ban đêm buồng gan của Prô-mê-thê lại mọc lại bấy nhiêu, nguyên vẹn, tươi mới, không hề mang dấu vết của một sự tổn thương, xúc phạm nào.

Prô-mê-thê biết trước số phận của Dớt: Nếu Dớt lấy nữ thần Thê-tít, một nữ thần Biển, thì đứa con trai, kết quả của cuộc hôn nhân này, lớn lên sẽ lật đổ ngôi báu của cha nó giành lấy quyền cai quản thế giới thần linh và loài người như xưa kia cha nó đã từng làm đối với ông nó, Crô-nớt. Quả thật là một sự hiểu biết vô cùng quý báu, có thể nói là vô giá đối với Dớt. Dớt mà biết được điều này thì hẳn rằng hắn sẽ càng hống hách, kiêu căng tàn bạo hơn nữa. Nhưng Dớt không biết. Đúng hơn Dớt chỉ biết có một nửa, nghĩa là Dớt chỉ biết con mình sẽ lật đổ mình, cướp ngôi của mình. Nhưng đứa con ấy do người vợ nào, nữ thần nào kết duyên với Dớt sinh ra thì Dớt không biết. Thế giới thần thánh của đỉnh Ô-lim-pớt có biết bao nhiêu vị nữ thần: A-phrô-đai, A-thê-na, Thê-tít, Đi-mê-tê, Át-tơ-mít, ba chị em Mo-rít vân vân và vân vân, biết tránh ai và lấy ai? Đó chính là điều Dớt vô cùng quan tâm và hết sức lo lắng. Dớt tưởng rằng cứ xiềng Prô-mê-thê vào núi đá, đày đọa Prô-mê-thê, dùng con ác điểu tra tấn hành hạ Prô-mê-thê thì đến một ngày nào đó, Prô-mê-thê phải van xin Dớt tha tội, Prô-mê-thê phải khai báo cho Dớt biết tỏ tường điều bí ẩn mà Prô-mê-thê bấy lâu vẫn giấu kín. Nhưng Dớt đã tính lầm. Hàng bao thế kỷ trôi qua, Prô-mê-thê vẫn không hề nao núng, nhượng bộ Dớt. Cuối cùng chính Dớt phải khuất phục trước sức mạnh ý chí của Prô-mê-thê.

(Lược một đoạn: Về sau, người anh hùng Hê-ra-clét trên còn đường thực hiện 12 chiến công đã giải thoát cho Prô-mê-thê khỏi xiềng xích của thần Dớt.)

(Trích Thần thoại Hy Lạp, theo file.nhasachmienphi)

Chú thích: Prô-mê-thê là vị thần tạo ra loài người từ bùn đất. Vì thương loài người nhỏ bé, yếu ớt nên thần đã ăn cắp lửa của Dớt cho loài người. 

Câu 1. Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Vì sao Dớt trừng phạt Prô-mê-thê?

Câu 3. Dớt đã trừng phạt Prô-mê-thê bằng cách nào?

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường kì ảo và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản.

Câu 5. Nhận xét, đánh giá về cốt truyện của văn bản.

1
3 tháng 9 2025

Câu 1. 

Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản là tự sự.

Câu 2 :

Lí do Dớt trừng phạt Prô-mê-thê: Prô-mê-thê đã ăn cắp lửa của thần Dớt cho con người. Do đó, Dớt trừng phạt thần là để buộc Prô-mê-thê phải quy phục. 

Câu 3.

- Hình phạt Dớt dành cho Prô-mê-thê:

+ Ra lệnh đóng đinh, xiềng Prô-mê-thê trên một đỉnh núi cao chót vót trong dãy núi Cau-xcây.

+ Đày đọa Prô-mê-thê: ban ngày dưới nắng bỏng cháy da, ban đêm dưới sương tuyết rét buốt thấu xương.

+ Ngày ngày sai một con đại bàng có đôi cánh rộng và dài đến mổ bụng ăn buồng gan của Prô-mê-thê.

Câu 4.

- Một trong những chi tiết kì ảo sau:

+ Buồng gan bất tử của Prô-mê-thê tự mọc lại sau khi bị ăn.

+ Loài người trở nên bất tử nhờ ngọn lửa thiêng.

- Tác dụng: làm tăng tính hấp dẫn, li kì cho văn bản, giúp văn bản thu hút người đọc hơn. 

Câu 5. 

- Đặc điểm của cốt truyện: các sự kiện được sắp xếp theo thời gian tuyến tính, các sự kiện có mối quan hệ nhân quả với nhau.

- Đánh giá về cốt truyện: việc sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính giúp cho bạn đọc dễ nắm bắt, theo dõi mạch truyện. 

Given words: charity shop; second-hand; ecological footprint; fossil fuel; deforestation; eco-friendly Sue: What furniture are we gonna need in our new house? Dad: Well, we're not going to buy completely new ones for you. I'm planning to take you to a (1) .............. that sells second-hand furniture. I'm sure there will be a lot of lovely beds and tables there.  Sue: Oh, no. Why can't I get new furniture? I don't want pre-owned stuff. Dad: You know, when shopping for used furniture, you can...
Đọc tiếp

Given words: charity shop; second-hand; ecological footprint; fossil fuel; deforestation; eco-friendly
Sue: What furniture are we gonna need in our new house?
Dad: Well, we're not going to buy completely new ones for you. I'm planning to take you to a (1) .............. that sells second-hand furniture. I'm sure there will be a lot of lovely beds and tables there.
 Sue: Oh, no. Why can't I get new furniture? I don't want pre-owned stuff.
Dad: You know, when shopping for used furniture, you can often find reasonably priced but high quality items. Although it may be someone’s trash, it can truly be your treasure
Sue: Come on,Dad. I can give you my savings!
Dad: It's not really about money, honey. It's mainly because when we opt for used furniture, there is little to no (2) ................. . Did you know that the furniture industry is an enormously wasteful one? From textiles and woods to plastics and resins, it takes a lot to create the items in our home, especially if they're built to last only a few years before breaking or looking out of date. Buying new furniture contributes to the (3) ............. industry and to (4) .............. . Buying (5) ..................... ones reduces demand for new resources!
Sue: I understand that thrift shopping is (6) .................., sustainable and everything, but all of my best friends will come to our housewarming and they will laugh at me for having used items! Can you please buy me new ones, Dad?

1
25 tháng 9 2024

1 charity shop

2 ecological footprint

3 fossil fuel

4 deforestation

6 eco-friendly

14 tháng 1

II. PHẦN VIẾT

Câu 1:

Bài thơ Haiku của Kobayashi Issa: "Đẹp vô cùng / nhìn qua cửa giấy rách / ô kìa sông Ngân" là một tuyệt tác về sự phát hiện cái đẹp trong cái nghèo khó. Hình ảnh "cửa giấy rách" gợi lên thực tại thiếu thốn, đơn sơ của cuộc sống đời thường. Thế nhưng, chính từ vết rách ấy, một chân trời diệu kỳ đã mở ra với hình ảnh "sông Ngân" lấp lánh trên cao. Tác giả không than vãn về hoàn cảnh mà dùng cái nhìn lạc quan, đầy chất thơ để bắt trọn vẻ đẹp vĩnh hằng của vũ trụ. Bài thơ khẳng định một triết lý nhân sinh sâu sắc: cái đẹp không ở đâu xa, nó tồn tại ngay trong những điều giản dị nhất, chỉ cần ta có một tâm hồn rộng mở và tình yêu thiên nhiên tha thiết để cảm nhận.

Câu 2:

Trong nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại, sức mạnh của đồng tiền là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, một bộ phận giới trẻ hiện nay đang rơi vào lối sống thực dụng, quá đề cao vật chất đến mức mù quáng với quan niệm: "Có tiền mua tiên cũng được". Đây là một cái nhìn lệch lạc, dễ dẫn đến những hành vi thiếu chuẩn mực và làm xói mòn các giá trị đạo đức cao quý.

Trước hết, ta cần hiểu rằng tiền bạc chỉ là phương tiện để duy trì cuộc sống, không phải là mục đích cuối cùng của sự tồn tại. Tiền có thể mua được một ngôi nhà sang trọng nhưng không mua được một gia đình hạnh phúc; mua được thuốc tốt nhưng không mua được sức khỏe; mua được sự nể sợ nhưng chẳng bao giờ mua được lòng tôn trọng chân thành. "Tiên" trong câu tục ngữ trên tượng trưng cho những điều kỳ diệu, hạnh phúc và những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những thứ ấy vốn dĩ không thể định giá bằng vật chất.

Việc coi trọng đồng tiền quá mức sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Khi tin rằng tiền có thể giải quyết được tất cả, con người dễ trở nên hống hách, coi thường người khác và sẵn sàng chà đạp lên pháp luật, đạo đức để đạt được mục đích. Chúng ta đã thấy không ít những bạn trẻ có lời nói thiếu chuẩn mực, hành xử vô văn hóa chỉ vì cậy mình có điều kiện kinh tế. Điều này không làm họ cao sang hơn mà trái lại, chỉ khiến họ trở nên nghèo nàn về tâm hồn và bị xã hội xa lánh.

Thực tế, những giá trị làm nên cốt cách con người như tri thức, lòng nhân hậu, sự trung thực và lòng tự trọng đều phải được xây dựng bằng sự rèn luyện, tu dưỡng chứ không thể "mua" bằng tiền. Một tấm bằng có thể mua, nhưng kiến thức trong đầu thì không. Một vị trí cao có thể mua, nhưng tài năng lãnh đạo thì không. Nếu cứ mải mê chạy theo đồng tiền mà bỏ quên việc bồi đắp tâm hồn, chúng ta sẽ sớm trở thành những "cỗ máy" vô cảm và trống rỗng.

Tóm lại, đồng tiền chỉ thực sự có giá trị khi nó được sử dụng bởi những người có đạo đức và mục đích tốt đẹp. Đừng để mình trở thành nô lệ của đồng tiền hay tin vào ảo tưởng "mua tiên". Hãy trân trọng những giá trị tinh thần, tình cảm và không ngừng hoàn thiện bản thân, vì đó mới là tài sản quý giá nhất mà không một khoản tiền nào có thể đánh đổi được.


16 tháng 1

Câu 1

Bài haiku của Kobayashi Issa gợi ra một vẻ đẹp rất đặc biệt – vẻ đẹp được nhìn qua sự thiếu thốn và bất toàn của con người. Hình ảnh “đẹp vô cùng” mở ra cảm xúc thẩm mĩ mãnh liệt, nhưng ngay sau đó, vẻ đẹp ấy lại được nhìn “qua cửa giấy rách”. Chi tiết “cửa giấy rách” không chỉ là một thực tại nghèo khó, đơn sơ mà còn là biểu tượng cho số phận con người nhỏ bé, mong manh trước cuộc đời. Qua khe cửa ấy, con người hướng ánh nhìn ra “sông Ngân” – dải ngân hà xa xôi, vĩnh hằng và tráng lệ. Sự đối lập giữa cái tạm bợ, hữu hạn của kiếp người với vẻ đẹp bao la của vũ trụ đã làm nổi bật chiều sâu triết lí của bài thơ. Issa không than vãn hay bi lụy trước nghịch cảnh, trái lại, ông tìm thấy cái đẹp ngay trong hoàn cảnh thiếu thốn. Bài thơ cho thấy một tâm hồn thanh cao, biết vượt lên điều kiện vật chất để hòa mình với thiên nhiên, đồng thời gửi gắm thông điệp: cái đẹp chân chính không bị giới hạn bởi hoàn cảnh sống, mà phụ thuộc vào cách con người cảm nhận thế giới bằng một tâm hồn tinh tế và nhân hậu.

Câu 2

Trong xã hội hiện đại, đồng tiền đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống vật chất và mở ra nhiều cơ hội cho con người. Tuy nhiên, không ít người, đặc biệt là một bộ phận giới trẻ, lại tuyệt đối hóa sức mạnh của đồng tiền, cho rằng “có tiền mua tiên cũng được”. Quan niệm ấy không chỉ phiến diện mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy đáng lo ngại, cần được nhìn nhận và điều chỉnh.

Trước hết, không thể phủ nhận rằng tiền bạc mang lại sự tiện nghi và giúp con người giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống. Có tiền, ta có thể học tập tốt hơn, chăm sóc sức khỏe tốt hơn và hỗ trợ những người xung quanh. Tuy nhiên, tiền bạc không phải là thước đo duy nhất của giá trị con người. Nhân cách, đạo đức, lòng tự trọng và cách ứng xử văn minh là những giá trị cốt lõi không thể mua được bằng tiền. Thực tế cho thấy, dù giàu có đến đâu, một người thiếu chuẩn mực đạo đức vẫn khó nhận được sự tôn trọng chân thành từ người khác.

Bên cạnh đó, quan niệm “có tiền mua tiên cũng được” dễ dẫn đến lối sống thực dụng, coi nhẹ các chuẩn mực đạo đức. Khi đồng tiền được đặt lên trên tất cả, con người có thể sẵn sàng đánh đổi tình cảm, danh dự, thậm chí vi phạm pháp luật để đạt được lợi ích cá nhân. Không ít vụ việc tiêu cực trong xã hội bắt nguồn từ việc chạy theo vật chất mà bỏ quên giá trị con người, gây tổn hại cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Rõ ràng, tiền bạc nếu không được kiểm soát bằng đạo đức sẽ trở thành công cụ làm tha hóa con người.

Hơn nữa, những điều quý giá nhất trong cuộc sống lại không thể mua bằng tiền. Tình yêu thương chân thành, sự tin cậy, tình bạn bền vững hay sự bình yên trong tâm hồn đều cần được xây dựng từ sự tử tế và chân thành. Một lời xin lỗi đúng lúc, một hành động giúp đỡ vô tư hay sự tôn trọng người khác không hề tốn tiền, nhưng lại có giá trị lâu dài hơn mọi của cải vật chất. Chính những điều ấy mới tạo nên hạnh phúc bền vững cho con người.

Vì vậy, thay vì tuyệt đối hóa đồng tiền, mỗi người cần có cái nhìn đúng đắn và cân bằng hơn. Tiền bạc là phương tiện, không phải mục đích cuối cùng của cuộc sống. Chỉ khi đồng tiền được đặt trong khuôn khổ của đạo đức và nhân văn, nó mới thực sự phát huy giá trị tích cực. Từ bỏ quan niệm “có tiền mua tiên cũng được” cũng chính là lựa chọn một cách sống lành mạnh, biết trân trọng nhân cách, tình người và những giá trị không thể định giá bằng vật chất.


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.  NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC    Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt của chung ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của "Lục Vân Tiên", hiểu "Lục Vân Tiên" khá...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC

   Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt của chung ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của "Lục Vân Tiên", hiểu "Lục Vân Tiên" khá thiên lệch về nội dung và nghệ thuật còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp.

   Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược. Ông vốn là một nhà nho sinh trưởng ở đất Đồng Nai hào phóng, lại sống giữa lúc đất nước lâm nguy, vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước để giữ ngai vàng, nhưng khắp nơi, nhân dân và sĩ phu anh dũng đứng lên đánh giặc cứu nước. Vì mù cả hai mắt, hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn. Những tác phẩm đó, ngoài những giá trị văn nghệ, còn quý giá ở chỗ nó soi tỏ tâm hồn trong sáng, cao quý lạ thường của tác giả và ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại!

   "Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã!". Đời sống và hoạt động của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương anh dũng. Cảnh đất nước cũng như cảnh riêng càng long đong, đen tối, thì khí tiết của người chí sĩ yêu nước càng cao cả, rạng rỡ: "Sự đời thà khuất đôi tròng thịt/ Lòng đạo xin tròn một tấm gương!".

   Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì nghĩa lớn. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng: "Học theo ngòi bút chí công/ Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân thu!" hay: "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."

   Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và Nguyễn Đình Chiểu trọng chức trách của mình chừng nào thì càng khinh miệt bọn lợi dụng văn chương để làm việc phi nghĩa chừng nấy: "Thấy nay cũng nhóm văn chương/ Vóc dê da cọp khôn lường thực hư!" [...]

   Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút - tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu - đã diễn tả, thật sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước. Chúng ta hãy đọc lại nhiều đoạn trong bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" [...] Bài văn ấy của Nguyễn Đình Chiểu làm chúng ta nhớ bài "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Hai bài văn hai cảnh ngộ, hai thời buổi nhưng một dân tộc. Bài cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà. Bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc... muôn kiếp nguyện được trả thù kia...".

   Có lẽ dưới suối vàng, linh hồn của Nguyễn Đình Chiểu và những nghĩa quân lúc bây giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ.

(Bài viết vào tháng 7/1963 nhân dịp kỉ niệm 75 ngày mất của Nguyễn Đinh Chiểu, in trong: Tuyển tập Phạm Văn Đồng, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008)

Câu 1. Văn bản trên bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Xác định hai câu văn mà người viết đã sử dụng trong bài để nêu nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 3. Nêu nhận xét về việc lựa chọn và sử dụng bằng chứng của người viết trong văn bản.

Câu 4. Mục đích so sánh hai văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) và Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) là gì?

Câu 5. Kết thúc văn bản, tác giả viết: "Có lẽ dưới suối vàng, linh hồn của Nguyễn Đình Chiểu và những nghĩa quân lúc bấy giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ". Hãy liên hệ với thực tiễn hiện nay để đưa ra lí lẽ/ bằng chứng khẳng định sau hơn nửa thế kỉ (tính từ khi tác giả viết bài này - năm 1963), niềm tin, niềm hi vọng của tác giả đã trở thành hiện thực.

1
16 tháng 1

Câu 1.

Văn bản bàn về vị trí, vai trò và giá trị to lớn của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học – văn nghệ dân tộc Việt Nam. Qua đó, tác giả khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao sáng của văn học yêu nước, không chỉ bởi giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà còn bởi tư tưởng yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường và nhân cách cao đẹp của một nhà thơ – chiến sĩ trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy.

Câu 2.

Hai câu văn thể hiện rõ nhất nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu là:

  • “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược.”
  • “Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng.”

Hai câu văn này vừa khái quát được nội dung tư tưởng chủ đạo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, vừa nhấn mạnh rõ tính chất chiến đấu mạnh mẽ, quyết liệt của ngòi bút yêu nước.

Câu 3.

Người viết đã lựa chọn và sử dụng bằng chứng một cách tiêu biểu, xác thực và có sức thuyết phục cao. Các bằng chứng được đưa ra vừa phong phú, vừa cụ thể, bao gồm: dẫn chứng từ cuộc đời, hoàn cảnh lịch sử, các tác phẩm tiêu biểu và những câu thơ giàu giá trị tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu. Đặc biệt, việc trích dẫn trực tiếp những câu thơ giàu khí phách đã làm nổi bật tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu kiên cường và nhân cách cao cả của nhà thơ, giúp lập luận trở nên sinh động, giàu cảm xúc và có sức lay động sâu sắc.

Câu 4.

Việc so sánh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo nhằm khẳng định vị trí to lớn của Nguyễn Đình Chiểu trong truyền thống văn học yêu nước của dân tộc. Qua đó, tác giả làm nổi bật sự tương đồng về tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và tầm vóc tư tưởng của hai tác giả ở hai thời đại khác nhau. Đồng thời, sự so sánh này cũng giúp làm rõ nét riêng của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: đó là khúc ca bi tráng ca ngợi những người anh hùng nông dân tuy thất thế nhưng vô cùng hiên ngang, bất khuất.

Câu 5.

Sau hơn nửa thế kỉ kể từ khi bài viết ra đời, niềm tin và niềm hi vọng của tác giả Phạm Văn Đồng đã trở thành hiện thực. Ngày nay, Nguyễn Đình Chiểu được khẳng định vững chắc là một danh nhân văn hóa dân tộc, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước và nhân cách Việt Nam. Các tác phẩm của ông được nghiên cứu, giảng dạy rộng rãi trong nhà trường; tên tuổi của ông được tôn vinh trong đời sống văn hóa – tinh thần của dân tộc. Điều đó chứng tỏ ánh sáng từ tâm hồn và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu vẫn tiếp tục lan tỏa, soi sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, đúng như niềm tin sâu sắc mà tác giả từng gửi gắm.


24 tháng 9 2024

Gúp với ạ !