Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trước khi đột biến
- Ta có: \(A=A_1+T_1\) mà do \(A_1=T_1\) \(\rightarrow\) \(A=2A_1\) \(\left(1\right)\)
- Có thêm: \(G=G_1+X_1\) \(=2A_1+3T_1=5A_1\left(2\right)\)
- Từ \(\left(1\right)\left(2\right)\) ta suy ra: \(2A+3G=2128\Leftrightarrow\) \(2.2A_1+3.5A_1=2128\) \(\Rightarrow A_1=112\left(nu\right)\)
Sau đột biến
- Do đột biến không làm thay đổi chiều dài (nên số $Nu$ cũng không thay đổi) và làm giảm đi 2 liên kết $hidro$ \(\rightarrow\) Đột biến thay thế \(2\) \(\left(G-X\right)\) bằng \(2\) \(\left(A-T\right)\)
\(\Rightarrow\left\{{}\begin{matrix}A=2.112+2=226\left(nu\right)\\G=5.112-2=558\left(nu\right)\end{matrix}\right.\)
335 > 325 = (25)5 = 225
127 < 128 ⇒ 1273 < 1283 = (27)3 = 221 < 225 < 335
Vậy 335 > 1273
- Lúc cơ thể hoạt động, lao động: xảy ra sự $oxy$ hóa đường $glucozo$ để tạo ra năng lượng cần thiết cho sự co cơ đồng thời sản phẩm phân hủy quá trình này là \(CO_2\) tích lũy dần trong máu.
- Do đó: \(CO_2+H_2O\rightarrow CO_3H_2|^{H^+}_{HCO_3^-}\)
- Khi \(H^+\) được tạo ra sẽ kích thích thụ quan gây ra xung thần kinh hướng tâm, truyền về trung khu hô hấp và tuần hoàn nằm trong hành tủy, truyền tới trung khu giao cảm và theo dây giao cảm đến tim, mạch máu đến cơ làm tăng nhịp, lực co tim và mạch máu đến cơ dãn ra để cung cấp \(O_2\) cần cho nhu cầu năng lượng co cơ, đồng thời chuyển nhanh sản phẩm phân hủy đến các cơ quan bài tiết.
Gen đột biến là một khái niệm trong di truyền học, nó diễn tả sự thay đổi ngẫu nhiên trong DNA của một cá thể. Gen đột biến có thể xảy ra tự nhiên hoặc do tác động của các yếu tố môi trường, chất độc, tia X, hoặc lỗi trong quá trình sao chép DNA.
Gen đột biến có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và hoạt động của gen, gây ra sự thay đổi trong tính trạng di truyền của cá thể. Nếu gen đột biến xảy ra trong tế bào sinh dục, nó có thể được truyền cho thế hệ sau thông qua quá trình sinh sản.
Gen đột biến có thể có tác động tích cực, tiêu cực hoặc không có tác động đáng kể đến cá thể. Trong một số trường hợp, gen đột biến có thể gây ra các bệnh di truyền hoặc tăng khả năng phát triển bệnh. Tuy nhiên, gen đột biến cũng có thể tạo ra sự đa dạng di truyền và có vai trò quan trọng trong tiến hóa sinh học...
a) Kết quả phép lại được giải thích bằng nguyên lý quy luật Mendel về sự trội hoàn toàn và phân li của các gen. Theo đó, gen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với gen a quy định thân thấp, và gen B quy định quả đỏ trội hoàn toàn so với gen b quy định quả vàng.
Trong trường hợp này, cây mẹ có kiểu gen là P (AA, BB) và cây cha có kiểu gen là P (AA, BB). Khi hai cây giao phấn, chúng sẽ cho con cái F1 mang kiểu gen PA (Aa, Bb). Tuy nhiên, trong trạng thái dị hợp, các cặp gen này không thể tách ra trong quá trình giảm phân tiếp theo để tạo ra tổ hợp gen mới. Do đó, khi tiến hành phụ phôi giữa các cây F1, chúng chỉ có thể kết hợp các gen A và B theo công thức: AB, Ab, aB, ab.
Khi xem xét phần trăm các kiểu hình ở F1, ta nhận thấy % thân cao, quả đỏ là:
% thân cao = \(\dfrac{\text{(số cây thân cao, quả đỏ}}{\text{tổng số cây Fo}}\times100\text{%}\)
= \(\dfrac{860}{860+434}\times100\text{%}\)
≈ 66.45%
Tương tự, % thân cao, quả vàng là:
% thân cao, quả vàng = \(\dfrac{434}{860+434}\times100\text{%}\)
≈ 33.55%
a) Để tính số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn của gen, ta có: - Mạch đơn thứ nhất của gen có 260 A và 380 G. - Gen này phiên mã cần môi trường nội bào cung cấp 600 U. - Mạch đơn của gen gồm 2 chuỗi nuclêotit, mỗi chuỗi có số lượng nuclêotit bằng nhau. Vậy số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn của gen là: - Số lượng A trên mỗi mạch đơn = Số lượng T trên mỗi mạch đơn = (260 + 380)/2 = 320. - Số lượng G trên mỗi mạch đơn = Số lượng C trên mỗi mạch đơn = (260 + 380)/2 = 320. - Số lượng U trên mỗi mạch đơn = 600.
b) Mạch mã góc của phân tử ADN là mạch có hướng từ 5' đến 3'.

Bạn vào trang cá nhân của mik xem á mik ko gửi được.
Hok tốt!