K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

29 tháng 8 2016

“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn*

Ta hiểu lời dạy trên như thế nào?

Câu tục ngữ là một lời khuyên thật giản dị, nêu lên hai chất liệu hết sức gần gũi và quen thuộc trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Đó là “gỗ” và “nước sơn”. Gỗ là chất liệu dùng để tạo nên vật dụng như tủ, bàn, ghế… Còn “nước sơn” là chất liệu dùng để quét bên ngoài nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp của đồ vật. Muốn có một đồ vật bền ta nên chú ý đến chất gỗ bên trong, đừng vì màu sắc hào nhoáng bên ngoài mà dễ bị nhầm lẫn. Qua kinh nghiệm trong cuộc sống, ông bà ta đã kết luận “gỗ tốt” hơn hẳn “nước sơn” đẹp. Từ nghĩa thực ấy, câu tục ngữ muốn khuyên chúng ta nên thận trọng hơn trong cách nhìn và thực tế hơn trong cách sống, không nên dựa vào hình thức bên ngoài mà phải chú ý quan tâm đến chất lượng, phẩm giá bên trong để phán xét vấn đề. Thật vậy, thực chất bên trong của sự vật, cũng như đạo đức, năng lực của con người phải có giá trị hơn hẳn cái hình thức dáng vẻ hào nhoáng bên ngoài. Và lời khuyên ấy là một bài học quý báu cho mỗi chúng ta.

 

 

Trong thực tế của cuộc sống, mỗi sự vật, mỗi con người thì giữa hình thức và nội dung, giữa vẻ bên ngoài và thực chất bên trong không phải lúc nào cũng thống nhất nhau. Thường những vật có chất lượng kém thường được mang một hình thức thật hấp dẫn. Cái tủ, cái bàn làm bằng gỗ xấu thì luôn có một lớp sơn sặc sỡ bên ngoài bao phủ. Cũng như người độc ác, bất tài thường được che giấu bởi lớp vỏ bên ngoài thật lịch sự, sang trọng… Đúng trước những trường hợp ấy phải tình táo và sáng suốt để nhận định đánh giá, để không bị nhầm lẫn. Và nếu phải chọn lựa thì ta nên lấy nội dung, chất lượng bên trong làm chuẩn, làm thước đo để đánh giá. Là vật dụng ta chú ý đến chất gỗ, là con người ta nên quan tâm đến đạo đức, trình độ năng lực của người ấy. Có như vậy, ta mới không hối tiếc sau này. Bởi lẽ, hình thức bền ngoài không thể bền lâu, rồi cũng sẽ tàn phai theo năm tháng, còn cái trường tồn vững chắc vẫn là cái cốt lõi bên trong. Ngoài ra, câu tục ngữ còn giúp ta một phương châm ở đời, đó là lo tu dưỡng rèn luyện bản thân: Đừng mải mê chạy theo hình thức mà quên đi cái giá trị của con người là phẩm hạnh, là tài năng, trí tuệ. Đây là một lời giáo dục thật đúng đắn để giúp chúng ta vững vàng hơn trong cuộc sống.

Tóm lại, câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” đã giúp cho ta một bài học kỉnh nghiệm về cách nhận định đánh giá đồ vật hoặc con người. Hiểu đúng, vận dụng đúng lời khuyên dạy trên chúng ta sẽ ít vấp phải sai lầm. Cũng từ bài học này giúp ta biết cách rèn luyện, tu dưỡng bản thân để tự nâng cao phẩm chất của một người học sinh; đồng thời ta cũng thấy rõ hơn mối quan hệ hỗ tương giữa hai mặi nội dung và hình thức để ta phấn đấu vươn lên thành người toàn diện, giúp ích cho đất nước quê hương.



 

29 tháng 12 2016

Bài làm

Sự đánh giá là một trong những hoạt động phổ biến. Từ xưa đến nay, khi gặp bất cứ một sự vật, sự việc hay một người nào đó, ta luôn đánh giá. Đáng giá việc đó tốt hay xấu, người đó tốt hay xấu. Để làm được điều này tốt nhất, chúng ta luôn đặt ra những tiêu chí. Và không thể phủ nhận tầm quan trọng của những bài học, những kinh nghiệm được đúc kết của thế hệ đi trước để lại. Những kinh nghiệm ấy thường được chuyển hóa thành những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao…. Và nổi bật trong đó là câu tục ngữ: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn".

Cũng như các câu tục ngữ khác, thế hệ đi trước đều lựa chọn sử dụng những hình ảnh, từ ngữ hết sức gần gũi, dễ hiểu với người nông dân, người lao động. Đây là đặc thù của văn học dân gian thời xưa. Cũng chính bởi đặc thù này mà nó luôn được người dân lựa chọn để lưu truyền suốt từ đời này qua đời khác. Không ai có thể phủ nhận những hiệu quả tuyệt vời mà nó đem lại. Trong câu tục ngữ "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn", họ đã sử dụng hai hình ảnh mang tính trình tự để diễn tả. Đó là "gỗ" và "nước sơn". Hai hình ảnh này là hai hình ảnh mang tính trình tự bởi lẽ, đây là hai giai đoạn của một công việc thuộc ngành mộc. Trước khi hoàn thành một món đồ gỗ, bước đầu tiên chính là chọn gỗ, và bước cuối cùng chính là phủ lên sản phẩm đó một lớp "nước sơn". "Nước sơn" là một lớp áo của lõi gỗ ẩn dưới. "Nước sơn" giúp cho sản phẩm đẹp hơn trong mắt người nhìn. Cũng chính bởi đặc điểm này mà câu nói mới đạt được trình độ diễn đạt sâu sắc. "Nước sơn" như một lớp áo cho lõi gỗ được đẹp hơn, nhưng nó cũng có thể che giấu đi những điểm xấu của lõi gỗ. Điều này ngụ ý cho những thứ bề ngoài, ở bên ngoài có thể hào nhoáng giúp cho bản chất bên trong đẹp hơn, hoàn nhảo hơn. Nhưng cái vẻ bên ngoài ấy có thể che giấu những điều xấu xa của bản chất bên trong. Chính vì thế mà vẻ bề ngoài không bao giờ phản ánh đúng bản chất bên trong. Bên ngoài có rực rỡ bao nhiêu nhưng bên trong thối nát thì cũng không bao giờ giữ được giá trị lâu. Giá trị có được là từ bản chất bên trong. Cho nên bản chất bên trong sẽ được coi trọng hơn là cái hào nhoáng bên ngoài. Chính vì vậy mới "tốt gỗ hơn tốt nước sơn". Cái bản chất bên trong tốt luôn được coi trọng hơn cái đẹp của hào nhoáng bên ngoài. Đây chính là bào học quí báu của thế hệ đi trước để lại cho chúng ta. Một sự việc mà chỉ có bề nổi, không có phần sâu xa bên trong thì sự việc đó sẽ không được lâu bền. Một con người mà chỉ được cái vỏ mà rỗng thì sẽ chẳng được coi trọng. Đối với con người, như thế nào là có vẻ đẹp của bản chất bên trong? Mặc dù đã trải qua nhiều thế hệ, trải qua nhiều tiêu chí thế nào là đẹp khác nhau, nhưng tựu chung lại vẫn bao gồm một số tiêu chí cơ bản. Như, người đó phải có phẩm chất đạo đức tốt, có ý chí nghị lực, có cách hành xử văn minh lịch sự, có học thức,… Một tấm lòng tốt luôn đáng giá ngàn vàng hơn vẻ bề ngoài lộng lẫy. Đẹp bên ngoài mà xấu bên trong thì sớm muộn cũng bị bài trừ tẩy chay, thậm chí sẽ có thể bị gán mác giả tạo, xấu xa. Vì vậy, không gì khác là bạn hãy tu dưỡng phẩm chất đạo đức thật tốt trước khi tô vẽ những thứ bên ngoài. Rất nhiều bạn nữ tôi quen, sáng nào trước khi ra đường cũng phải dành ra một khoảng thời gian rất lâu để trang điểm. Đương nhiên tôi không cho đó là xấu. Vệc trang điểm đơn giản là để mình đẹp hơn, tự tin hơn. Nhưng điều tôi đáng nói đến chính là cách hành xử của họ. Gương mặt xinh đẹp, trang phục hàng hiệu hợp thời trang nhưng lại không văn minh, nói tục chửi bậy nơi công cộng… Còn rất nhiều hành động thiếu văn minh khác nữa. Đơn cử như một anh chàng khác, tóc tai vuốt keo dựng đứng, ăn mặc khá gọn gàng nhưng lại cư xử thô lỗ với người lớn tuổi, không biết giúp đỡ người khác. Tôi có một người bạn, vẻ ngoài của cô ấy không mấy bắt mắt. Nhưng cô ấy rất tốt bụng, vui vẻ, hòa đồng nên được mọi người yêu mến, gần gũi. Điều này chẳng tốt hơn là một cô gái đẹp mà chảnh chọe, khó chịu, không hòa đồng hay sao? hơn nữa, vẻ đẹp bên ngoài có thể bị phai nhòa theo thời gian, nhưng vẻ đẹp tâm hồn là trường tồn mãi mãi. Vẻ đẹp tâm hồn chính là dấu ấn của riêng bạn trong mắt người khác. Nó sẽ là dư âm còn đọng mãi trong tâm trí của người đối diện. Đó là về con người. Còn sự vật, sự việc cũng như vậy. Trước khi bạn quyết định một điều gì đó, hãy suy nghĩ thật cẩn trọng, đánh giá vấn đề thật đúng đắn. Đừng 'trông mặt mà bắt hình dong". Mặc dù câu nói này đã có từ rất lâu, nhưng không phải ai cũng vận dụng tốt câu nói này. Tôi có thể lấy một ví dụ cụ thể mà đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay. Đó là "bẫy" đa cấp biến tướng. Hình thức kinh doanh này là một ví dụ điển hình cho việc "nước sơn che mất bản chất". Bản chất của đa cấp biến tướng là lừa đảo, làm cho những người chưa nằm trong mạng lưới hiểu không đúng về bản chất xấu xa của mình. Chiêu trò giới thiệu những người trẻ tuổi thành đạt, thu nhập hàng trăm, hàng nghìn đô la một tháng đã làm lu mờ con mắt sáng suốt của những người đến đây với ý muốn tìm hiểu công việc. Những nhân viên bảnh bao vest đen, sơ mi trắng lịch sự văn minh nhưng lại chẳng có gì ngoài sự tin tưởng mù quáng vào mạng lưới kinh doanh đa cấp biến tướng. Họ đã bị cái hào nhoáng bên ngoài che mắt. Cứ ngày ngày đến một cái văn phòng đông người như một cái hội chợ, nghe những người được giới thiệu là thành đạt từ hệ thống giảng giải, nói điều trên trời dưới đất mà trong lòng lo lắng tiền nhà, tiền ăn chưa có mà tiền lương thì không thấy có đồng bạc nào. Nhưng họ vẫn cứ bị cái hào nhoáng ấy làm cho mù quáng với một sự tin tưởng giấc mộng ngày mai mình sẽ giàu Giấc mơ đổi đời mà không phải làm gì thật là vi diệu trong mắt những con người đó. Thật không thể tin nổi! Tại sao những người có chính kiến bản thân lại dễ bị sa vào cái "bẫy" của bọn chúng như thế! Đơn giản là bởi họ vẫn chưa áp dụng được bài học "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" vào cuộc sống của mình.

Khép lại câu truyện đánh giá về một sự vật sự việc, con người. Câu nói "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Nó là sản phẩm của trí tuệ, của kinh nghiệm cha anh. Chính vì vậy, hãy vận dụng nó vào cuộc sống của bản thân. Hãy rèn luyện, tích lũy kiến thức để mình là một con người "tốt gỗ" chứ không đơn thuần chỉ là "tốt nước sơn".

11 tháng 3 2016

Đất nước ta ngày một phát triển, nhờ đó mà nền giáo dục bây giờ cũng đang được nâng cao, lớp học sinh ngày nay cũng có nhiều cách học khác với lớp học sinh ngày trước. Tuy vậy, cho dù có học như thế nào đi chăng nữa thì trong quá trình học cũng cần phải có cả thực hành, giống như lời dạy của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp trong bài “Bàn luận về phép học” : “ Học rộng rồi tóm lược lại cho gọn, theo điều học mà làm.”

“Học” chính là quá trình chúng ta tiếp thu những kiến thức mà thầy cô đã truyền đạt. Còn “hành” là việc chúng ta cần áp dụng những kiến thức đã học được vào trong cuộc sống để có thể giúp ích được cho chúng ta mai này. Học chỉ đơn thuần là tiếp nhận qua sách vở hoặc do các thầy cô truyền đạt, nhưng nếu ta chỉ có học mà không hành thì liệu những kiến thức ấy chúng ta có thể nắm sâu? Các bạn thử nghĩ mà xem, nếu trong những môn học cần đến sự thực hành như môn Hóa học, môn Sinh học trong khi ta chỉ đọc suông các kiến thức trong sách mà vẫn chưa được làm thực tế lần nào thì đến khi cần liệu các bạn có thể nhớ để thực hiện? Học thuộc các kiến thức trong sách giáo khoa không phải là điều xấu, nhưng điều quan trọng là ta phải biết kết hợp kiến thức với thực hành sao cho thật hợp lí, vì nếu như các bạn có đọc ro ro, đọc thuộc lòng các bước thí nghiệm môn Hóa học, các thao tác mổ ếch môn Sinh học mà chưa thực hành lần nào thì chắc hẳn đã đến lúc bắt tay vào làm, chúng ta đều phải lóng ngóng. Nhưng liệu chỉ hành thôi mà không học thì có phải là một điều tốt? Một người công nhân trước khi đi vào vận hành máy móc thì chắc chắn cũng đã học qua về các bộ phận của máy, các thao tác vận hành máy sau đó thì mới có thể thực hành thành thạo được. Chính vì vậy, chỉ hành thôi mà không học thì rõ ràng cũng không ổn chút nào. Nếu như ta đã từng được thực hành đấy, đã biết được cách thức để thực hiện thí nghiệm đấy nhưng nếu ta không được học qua kiến thức từ trước thì liệu có thể thực hiện đúng và an toàn thí nghiệm được không? Học mà không hành thì không nắm vững được kiến thức mà nếu chỉ hành mà không học thì có thể sẽ không đủ kiến thức để áp dụng vào thức hành. Bởi vậy chỉ có : học đi đôi với hành” thì chúng ta mới có thể nắm kiến thức một cách sâu sắc và áp dụng đúng vào thực tế cuộc sống được.

Tuy đã cách chúng ta hơn ba thế kỉ nhưng lời dạy của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về một phương pháp học đúng đắn vẫn còn tồn tại mãi cho đến ngày hôm nay. Chỉ có học kết hợp với thực hành thì việc học mới thực sự đạt được hiệu quả cao. Một phương pháp học tập tốt thì mới có thể đem lại cho chúng ta một kết quả tốt, chính vì vậy, tất cả chúng ta cần phải noi

 

27 tháng 2 2017

Mười bốn tuổi. Mười bốn tuổi với tám năm ngồi trên ghế nhà trường đã giúp tôi trưởng thành và chín chắn hơn rất nhiều. Tôi đã từng nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Nhưng đến khi học văn bản “Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, tôi mới thực nhận ra sự học và mối quan hệ giữa học và hành. Ngay từ đầu văn bản, Nguyễn Thiếp đã chỉ ra mục đích chân chính của việc học: “Ngọc không mài không thành đồ vật. Người không học không biết đạo”. Từ đó, ông nghiêm khắc nêu ra và phê phán lối học chuộng hình thức, cưỡi ngựa xem hoa để rồi gây nên những tai hoạ lớn cho bản thân, gia đình và cả đất nước. Để mọi người biết học, biết đạo, tức là quan hệ, ứng xử trong gia đình, xã hội, ông đã xác định phương pháp học đúng đắn để có kết quả cao nhất. Những ý kiến của ông rất chính xác, nào là phải học từ thấp đến cao, học rộng rồi tóm lược cho gọn, học phải đi đôi với hành. Để hiểu rõ được bài học sâu sắc của Nguyễn Thiếp, trước hết ta cần hiểu xem học và hành là gì. Học là quá trình tìm tòi, thu nhận, tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng để có hiểu biết về mọi mặt. Học không chỉ là học trên ghế nhà trường mà ngay từ nhỏ, khi còn sống trong vòng tay của cha mẹ, ta đã được học ăn, học nói, học đi hay, cư xử lễ phép với mọi người. Học phải học từ từ, từ thấp đến cao, từ cơ bản đến phức tạp như xây một ngôi nhà cao, móng có vững bền thì ngôi nhà mới chắc được. Khối óc con người không có khả năng nhớ quá lâu, quá nhiều và tỉ mỉ vì vậy khi có nhiều kiến thức, ta phải biết tóm gọn những ý chính, ý cơ bản. Còn hành có nghĩa là làm, là thực hành. Khi có kiến thức ta phải vận dụng những hiểu biết đó vào thực tế cuộc sống. Có như vậy, học mới có ích, mới không là vô nghĩa. Qua văn bản, tôi đã thấy được vai trò, mục đích to lớn của việc học đối với con người: Học không chỉ cho ta kiến thức, kĩ năng mà còn giúp ta làm việc tốt hơn, có một tương lai tươi sáng hơn. Nhưng quan trọng hơn là ta phải nhận thấy mối quan hệ giữa học và hành, để có phương pháp học tập đúng. Như thế mới có thể học tốt, mới có thể vươn tới đỉnh cao của sự học. Thật vậy. Nếu ta chỉ học mà không hành thì những tri thức kia chỉ là vô ích, con người sẽ không làm được việc gì hoặc làm việc rất lúng túng. Có thể bạn là một cây Toán, cây Văn của trường lớp mà bài tập về nhà không làm, bài văn không chịu viết mà chỉ khư khư ôm quyển sách thì liệu bạn có học tốt lên được không? Hay chỉ làm cho tài năng, năng khiếu của bạn bị mai một, kiến thức bị rỗng, có mà như không. Bạn thích học Vật lí, Hoá học mà không làm thí nghiệm, quan sát hiện tượng, không biết ứng dụng kiến thức về máy cơ đơn giản, về tính chất của ôxi vào đời sống thực tế thì liệu bạn có giữ mãi được những gì mình học, có học tốt được? Hay tình yêu của bạn đối với môn học chỉ ngày một nhạt phai. Có biết bao thủ khoa, á khoa đại học khi ra trường lại không làm được chính nghề mà họ học. Đó là vì học đã không vận dụng, thực hành trong khi học, họ chỉ biết học thuộc lòng. Nếu ai cũng như vậy thì con người sẽ không như “nước đổ đầu vịt” mà là “học trước quên sau”. Nhớ làm sau được khi ta ngồi im như tượng, miệng lẩm nhẩm học thuộc lòng như cầu kinh niệm Phật. Nếu ai cũng như vậy thì thế giới loài người sẽ trở thành một thế giới của những con mọt sách hay sao? Việc hành quan trọng là thế nhưng ý nghĩa của học cũng không hề nhỏ bé. Nếu ta chỉ cắm cúi hành mà không học thì sẽ làm việc một cách khó khăn, lúng túng, sản phẩm làm ra sẽ không đạt chất lượng cao. Tôi đã được đọc một câu chuyện nhỏ. Câu chuyện đó kể vể một con khỉ mồ côi mẹ, sống xa thế giới loài khỉ. Đến khi có người cho nó một quả chuối vàng ươm, nó cầm lên ngắm nghía, ngửi ngửi rồi vứt đi mà không biết bóc ăn. Câu chuyện đơn giản vậy thôi mà hàm chứa một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Chú khỉ con kia là loài khỉ mà không biết ăn chuối đó là vì chú sống không có mẹ, không được học tập về tập tính, thói quen của loài khỉ. Trong câu chuyện đó có thấp thoáng bóng dáng của con người. Con người mà không được học thì cũng không có kiến thức, chẳng phải giống như con khỉ mà không ăn chuối hay sao? Tôi có một vài câu hỏi nữa cần tôi và các bạn tự trả lời. Liệu bạn có thể tính được khối lượng, chất sản phẩm trong một phương trình hoá học nếu không biết cách tính toán. Bạn có thể tính được hiệu suất trong Vật lí nếu không biết hiệu suất là gì. Và bạn có thể vẽ được hình học động nếu không biết chức năng và các phần chính của phần mềm Geogrebra, có thể viết được một bài văn nghị luận chặt chẽ thuyết phục nếu không biết luận điểm là gì, cách sắp xếp các luận điểm theo một trình tự hợp lí ra sao? Câu trả lời là không. Bạn không thể làm được việc gì nếu không có tri thức, không thể có tri thức nếu không học. Học còn ảnh hưởng rất lớn tới tương lai, công việc của chúng ta sau này. Bạn muốn làm một bác sĩ giỏi chữa bệnh cứu người mà lại không học từ bây giờ, không chịu tìm hiểu sâu về y học thì ước mơ kia sẽ không thực hiện được. Bạn muốn làm một công nhân lành nghề mà lại không hay những kỹ thuật, những trang thiết bị hiện đại, tiên tiến thì bạn sẽ không thể nào làm nên những sản phẩm có chất lượng, năng suất cao. Có biết bao những mơ ước đẹp đẽ biến thành những mơ tưởng hão huyền chỉ vì bạn không có ý chí, không học. Ngày nay, xã hổi đã đổi khác, thế giới ngày một văn minh, nước ta đang trên con đường xây dựng Việt Nam công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Người nông dân cũng phải được trang bị đầy đủ tri thức, hiểu biết chính xác về giống cây trồng, vật nuôi, cách chăm sóc, phòng dịch bệnh, sâu bọ. Hơn thế, bà con còn được học tập về những máy móc, phục vụ nông nghiệp, làm tăng năng suất lại tiết kiệm được sức lao động. Nếu con người chỉ biết lao vào công việc mà quên mất việc học thì khác nào cái máy, con rô bốt vô tri vô giác, khác nào một con vẹt học tiếng người, nói tiếng người mà chẳng hiểu mình đang nói gì?. Còn khi ta biết kết hợp việc học với việc hành thì làm việc tốt hơn củng cố được kiến thức, kĩ năng đã học. Ta đã từng nghe danh những tấm gương sáng ở nước nhà và trên thế giới. Như ông vua máy tính Bin Ghết, một tỉ phú của thế giới, là người cần cù học tập sau đó thực hành ngoài cuộc sống và kết quả của việc làm đó là ông đã xây dựng được một mạng lưới vi tính khổng lồ, rải khắp thế giới. Như nhà khoa học Ê-đi-sơn không chỉ thông minh, học giỏi, phát minh ra bóng đèn điện, xe điện mà còn là người cần cù, siêng năng. Có ai biết rằng nhà phát minh đó đã thường xuyên cầm búa làm việc thành thạo như những công nhân lành nghề khác. Lịch sử ta từ trước tới giờ, sáng lên hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn- vị dũng tướng tài ba, hiểu sâu rộng văn chương, binh pháp. Ông đã đem những gì tích luỹ được mà viết Binh Thư yếu lược, mà soạn Bình ngô đại cáo làm súc động trái tim, sục sôi ý chí chiến đấu của bao tướng sĩ. Lí Tiên Hoàng Lí Công Uốn là người học sâu hiểu rộng lịch sử nước ta,sử sách nước ngoài để rồi có quyết định sáng suốt dời đô từ Hoa Lư đến thành Đại La, làm nhân dân muôn đời hạnh phúc, an vui. Trong hai cuộc kháng chiến gian khổ của dân tộc, Hồ Chí Minh như vì sao sáng, sáng cả về học thức uyên thâm, sáng cả về những việc làm, những hi sinh của người cho đất nước. Bên cạnh đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã học tập người xưa, lãnh đạo quân dân kháng chiến chống pháp rồi đánh Mĩ. Nhà nông học Lương Định Của thì sao? Ông đã cùng nhân dân lội xuống ruộng cấy lúa, đem hết tài năng của mình để tạo ra những giống lúa mới đem lại cuộc sống ấm no cho bao người. Nếu bạn bảo “Những vị đó đều là nhân tài kiệt xuất, ta làm sao sánh bằng”. Xin thưa rằng để trở thành nhân tài họ phải học, phải hành chăm chỉ cần cù. Tôi có biết một bạn gái lớp 8 đã vui vẻ nhận lời hướng dẫn em làm Toán viết Văn, đi trồng lạc, trồng ngô cùng bố, sẵn sàng giúp đỡ gia đình. Với cô bạn ấy, đó cũng là thú vui, là cách để củng cố kiến thức cho mình. Chỉ cần một chút để ý thôi, bạn sẽ nhận thấy xung quanh mình có rất nhiều người đã học và hành đúng đắn, đã đạt được những kết quả, thành công lớn lao và ý nghĩa. Thật khâm phục La Sơn Phu Tử. Thật cảm ơn những bài học sâu sắc của tác giả. Từ đây, tôi đã nhận thấy rằng học và hành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Học sẽ giúp hành lưu loát, trôi chảy, hành sẽ giúp học tốt hơn. Ngày nay, bên cạnh những người có ý thức học, kết hợp học với hành thì còn có nhiều học sinh, sinh viên chỉ học lấy hình thức, lấy tiếng là người đi học mà không biết gì, khong thấy được cái sai của mình và cái đúng của học. Mọi người hãy từ bỏ lối học đó, hãy lấy câu “Học đi đôi với hành” để làm cơ sở cho một phương pháp học tập đúng. Học có vai trò to lớn đối với mỗi con người, với cả gia đình và dân tộc. Vì vậy có cách học đúng đắn, học theo lời dạy của bậcm cha ông mới xứng là người con đất Việt. Giờ đây, tôi vẫn vui chơi, nghịch ngợm như trước nhưng tôi đã biết không được nghịch điện, không được bẻ cành hái hoa, không được vứt rác bừa bãi, không được thiếu lễ phép, tôn trọng mọi người. Chắc chắn rằng tôi sẽ còn cố gắng để tìm đến con đường học vấn chân chính, và bạn sẽ có được phương hướng cho mình. Hiểu biết hạn hẹp của tôi chỉ có thể có những suy nghĩa giản đơn, nhỏ bé về sự học vô bờ. Có thể bạn sẽ còn lĩnh hội được những ý nghĩa thâm thuý sâu xa của “Bàn luận về phép học” mà tôi chưa có khả năng. Nhưng bây giờ, trong óc tôi đang hiện lên một ý nghĩa nhỏ bé mà quan trọng “Học có vai trò to lớn nhưng nếu ta cố gắng, phấn đấu, sửa chữa cái sai thì ta sẽ đạt được điều mong muốn.”

Họ và tên: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi/Miễu Chi). - Năm sinh - năm mất: 15/2/1835 – 5/2/1909. - Quê quán: Quê ngoại ở làng Văn Khê, xã Tu Vũ, huyện Ý Yên, tỉnh Ninh Bình. Quê nội ở làng Vị Hạ (làng Và), xã Yên Trạch, huyện Bình Lục, tỉnh Ninh Bình (nên ông còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ).Vị trí trong nền văn học- Là một trong những nhà thơ lớn...
Đọc tiếp

Họ và tên: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi/Miễu Chi). - Năm sinh - năm mất: 15/2/1835 – 5/2/1909. - Quê quán: Quê ngoại ở làng Văn Khê, xã Tu Vũ, huyện Ý Yên, tỉnh Ninh Bình. Quê nội ở làng Vị Hạ (làng Và), xã Yên Trạch, huyện Bình Lục, tỉnh Ninh Bình (nên ông còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ).

Vị trí trong nền văn học- Là một trong những nhà thơ lớn cuối cùng của thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. - Được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam”. - Là một hiện tượng đặc biệt: vừa là nhà thơ trữ tình xuất sắc, vừa là nhà thơ trào phúng hàng đầu trong thơ Nôm. - Thơ của ông đã trở thành một phần tâm thức của dân tộc.

Đề tài sáng tác- Tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc, nỗi đau đớn trước cảnh nước mất nhà tan. - Làng cảnh Việt Nam: Viết rất thành công về đề tài làng quê, nổi tiếng nhất là chùm thơ thu (ví dụ: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh). - Thơ trào phúng: Phê phán những biểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, thói xấu quan lại, chuyện khoa cử. - Thơ tự trào: Tự trách mình, bộc bạch tâm sự về thế cuộc.

Phong cách sáng tác- Trong thơ chữ Nôm: Vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trangtriết lý Đông Phương. - Trong thơ chữ Hán: Hầu hết là thơ trữ tình. - Nghệ thuật: Lối viết sáng tạo, ngôn ngữ giàu màu sắc, gợi cảm, tinh tế trong việc khắc họa thiên nhiên, con người và quê hương.

Những tác phẩm chính- Tập thơ: Quế Sơn thi tập (gồm thơ chữ Hán và thơ Nôm), Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập. - Các bài thơ tiêu biểu (thường được nhắc đến): Thu điếu (Câu cá mùa thu), Thu ẩm (Uống rượu mùa thu), Thu vịnh (Vịnh mùa thu), Khóc Dương Khuê, Hội Tây, Lụt chèo thuyền đi chơi, Chốn quê.

0
30 tháng 9 2016

Bạn tham khảo nhé, Chúc bạn học tốt!hihi

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Nói đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay đến TRUYỆN KIỀU. Đoạn trích "Chị em Thuý Kiều" nằm ở phầm mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều, chủ yếu là miêu tả tài sắc của chị em Thuý Kiều và đặc biệt là Thúy Kiều thể hiện qua câu
:Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kem xanh
-Nguyễn Du tả Vân trước để làm nền cho việc tả Kiều.
-Ông đã dùng nghệ thuật đòn bẩy để tôn vinh vẻ đẹp của Kiều.
-Nếu như tả Vân ông sử dụng nghệ thuật liệt kê: tả cẩn thận từng chi tiết khuôn mặt, nụ cười... thì khi tả Kiều ông sử dụng nghệ thuật điểm nhãn. Tại sao vậy? Vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, chỉ đặc tả đôi mắt của Kiều, Nguyễn Du muốn khẳng định rằng nàng có tâm hồn trong sáng, bao dung, độ lượng.
-Cũng như tả Vân, khi tả Kiều, Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng " Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ".
-Đôi mắt của Kiều trong trẻo dịu êm như làn nước hồ thu, cặp lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Kiều đẹp sắc sảo, nổi trội hơn Vân. Tuy nhiên trong vẻ đẹp ấy của đôi mắt nàng dường như phảng phất 1 nỗi buồn.
-Nghệ thuật nhân hóa " hoa ghen, liễu hờn " gợi 1 sự ganh ghét đố kị của tạo hóa trước nhan sắc mặn mà, kiêu sa của Kiều.
-Nét đẹp của Kiều đã khiến cho thiên nhiên nổi giận, tạo hóa cũng phải hờn ghen.
-Sắc đẹp của nàng khiến cho tướng phải mất thành, vua phải mất nước " Một hai nghiêng nước nghiêng thành" 
( Nhất cố khuynh nhân thành / Tái cố khuynh nhân quốc : đến lần 1 thì tường mất thành, quay lại lần 2 thì vua mất nước )
-Chính vẻ đẹp quá sắc sảo, quá hoàn mĩ của Thúy Kiều đã khiến cho thiên nhiên nổi giận, ganh ghét. Điều đó dự báo số phận của Kiều sẽ gặp nhiều đắng cay, bất hạnh, bão tố.

 
 
30 tháng 9 2016

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Nói đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay đến TRUYỆN KIỀU. Đoạn trích "Chị em Thuý Kiều" nằm ở phầm mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều, chủ yếu là miêu tả tài sắc của chị em Thuý Kiều và đặc biệt là Thúy Kiều thể hiện qua câu
:Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kem xanh
-Nguyễn Du tả Vân trước để làm nền cho việc tả Kiều.
-Ông đã dùng nghệ thuật đòn bẩy để tôn vinh vẻ đẹp của Kiều.
-Nếu như tả Vân ông sử dụng nghệ thuật liệt kê: tả cẩn thận từng chi tiết khuôn mặt, nụ cười... thì khi tả Kiều ông sử dụng nghệ thuật điểm nhãn. Tại sao vậy? Vì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, chỉ đặc tả đôi mắt của Kiều, Nguyễn Du muốn khẳng định rằng nàng có tâm hồn trong sáng, bao dung, độ lượng.
-Cũng như tả Vân, khi tả Kiều, Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng " Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ".
-Đôi mắt của Kiều trong trẻo dịu êm như làn nước hồ thu, cặp lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Kiều đẹp sắc sảo, nổi trội hơn Vân. Tuy nhiên trong vẻ đẹp ấy của đôi mắt nàng dường như phảng phất 1 nỗi buồn.
-Nghệ thuật nhân hóa " hoa ghen, liễu hờn " gợi 1 sự ganh ghét đố kị của tạo hóa trước nhan sắc mặn mà, kiêu sa của Kiều.
-Nét đẹp của Kiều đã khiến cho thiên nhiên nổi giận, tạo hóa cũng phải hờn ghen.
-Sắc đẹp của nàng khiến cho tướng phải mất thành, vua phải mất nước " Một hai nghiêng nước nghiêng thành" 
( Nhất cố khuynh nhân thành / Tái cố khuynh nhân quốc : đến lần 1 thì tường mất thành, quay lại lần 2 thì vua mất nước )
-Chính vẻ đẹp quá sắc sảo, quá hoàn mĩ của Thúy Kiều đã khiến cho thiên nhiên nổi giận, ganh ghét. Điều đó dự báo số phận của Kiều sẽ gặp nhiều đắng cay, bất hạnh, bão tố.

 

1. Họ và tên, năm sinh, năm mất, quê quán Họ và tên:Nguyễn Thắng (tên khai sinh), hiệu là Quế Sơn. Năm sinh – mất:15/2/1835 – 5/2/1909. Quê quán:Quê nội ở làng Và (Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông sinh ở quê ngoại là làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.  2. Vị trí của ông trong nền văn họcNguyễn Khuyến được coi là "đại biểu cuối cùng của mẫu...
Đọc tiếp
1. Họ và tên, năm sinh, năm mất, quê quán
  • Họ và tên:Nguyễn Thắng (tên khai sinh), hiệu là Quế Sơn. 
  • Năm sinh – mất:15/2/1835 – 5/2/1909. 
  • Quê quán:Quê nội ở làng Và (Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông sinh ở quê ngoại là làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. 
2. Vị trí của ông trong nền văn học
  • Nguyễn Khuyến được coi là "đại biểu cuối cùng của mẫu hình thi nhân nhà Nho chính thống" và "quả pháo đùng" tổng kết nền thi ca cuối thời trung đại.
  • Ông là một nhà thơ Nôm xuất sắc, với vị trí "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam". 
3. Đề tài sáng tác
  • Thơ về làng cảnh Việt Nam:Ông viết về cảnh vật thôn quê, đặc biệt là chùm thơ thu nổi tiếng, thể hiện vẻ đẹp và tâm hồn người Việt. 
  • Tâm sự yêu nước, u hoài:Nỗi lòng đau xót trước hiện thực đất nước bị xâm lược và những biến đổi tiêu cực của xã hội. 
  • Thơ trào phúng:Phê phán thói hư tật xấu của bọn quan lại tham lam, đạo đức giả và sự vô vị của con đường khoa cử, đôi khi mang giọng điệu tự trào. 
4. Phong cách sáng tác
  • Trữ tình và trào phúng:Ông là nhà thơ đa tài, vừa có những vần thơ trữ tình, cảm xúc sâu lắng về thiên nhiên, con người, vừa có giọng điệu trào phúng thâm thúy, đả kích những thói hư tật xấu. 
  • Sáng tạo ngôn ngữ:Lối viết giàu màu sắc, gợi cảm và mỹ lệ, tạo nên sự độc đáo trong phong cách thơ chữ Nôm của ông. 
  • Tư tưởng triết học:Thơ ông nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương, thể hiện sự gắn bó với thiên nhiên và triết lý sống thanh bạch. 
5. Những tác phẩm chính
  • Thơ Nôm:Yên Đổ thi tập (khoảng 100 bài), Quế Sơn thi tập (khoảng 100 bài), trong đó có chùm thơ thu nổi tiếng là Vịnh mùa thu, Câu cá mùa thu, Uống rượu mùa thu. 
  • Thơ chữ Hán:Bách Liêu thi văn tập. 
  • Các sáng tác khác:Ngoài ra, Nguyễn Khuyến còn sáng tác nhiều bài văn tế, câu đối truyền miệng, bài ca, hát ả đào. 
0
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà NamVị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổĐề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Vị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Đề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người. 

Phong cách sáng tác: Nguyễn Khuyến đã đưa cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống thân thuộc, bình dị của làng quê vào trong thơ một cách tự nhiên tinh tế. Ngòi bút tả cảnh của ông vừa chân thực vừa tài hoa; ngôn ngữ thơ giản dị mà điêu luyện

Các tác phẩm chính: thu vịnh ,thu điếu ,thu ẩm

0
6 tháng 10 2016
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn.​

Đơn giản là vì lời thơ mộc mạc, chân chất, gần gũi thân thương.
Nhưng cái điều tôi muốn bình ở đây chính là: khi viết về quê hương Việt Nam, con người Việt Nam, tác giả nào cũng phải viết như thế, bởi tâm hồn người Việt mình vốn dĩ như thế: hiền lành, thật thà, nhân nghĩa, thủy chung...

6 tháng 10 2016

Đoạn thơ bộc lộ cảm xúc dạt dào của tác giả trước những vẻ đẹp bình dị trên đất nước Việt Nam thân yêu. Hình ảnh “biển lúa” rộng mênh mông gợi cho ta nièm tự hào về sự giàu đẹp, trù phú của quê hương. Hình ảnh “cánh cò bay lả dập dờn” gợi vẻ nên thơ, xao xuyến mọi tấm lòng. Đất nước còn mang niềm tự hào với vẻ đẹp hùng vĩ của “đỉnh Trường Sơn” cao vời vợi sớm chiều mây phủ. Đoạn thơ đã giúp ta cảm nhận được tình cảm thiết tha yêu quý và tự hào về đất nước của tác giả Nguyễn Đình Thi.

1. Họ tên, năm sinh – năm mất, quê quánHọ và tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Quế Sơn, hiệu Miễn Chi).Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909.Quê quán: Làng Hoàng Xá, xã Trung Lập, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.2. Vị trí trong nền văn họcNguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”.Ông để lại...
Đọc tiếp

1. Họ tên, năm sinh – năm mất, quê quán

  • Họ và tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Quế Sơn, hiệu Miễn Chi).
  • Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909.
  • Quê quán: Làng Hoàng Xá, xã Trung Lập, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

2. Vị trí trong nền văn học

  • Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”.
  • Ông để lại dấu ấn đậm nét trong dòng thơ trữ tình – hiện thực, đồng thời cũng là nhà nho yêu nước, gắn bó với nhân dân.

3. Đề tài sáng tác

  • Viết nhiều về cảnh đẹp nông thôn Việt Nam (cảnh vật bốn mùa, làng quê thanh bình).
  • Thể hiện tình cảm yêu quê hương đất nước, gắn bó với thiên nhiên, làng cảnh.
  • Phản ánh nỗi lòng trước thời cuộc: buồn đau, bất lực trước cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân lầm than.
  • Viết về tình bạn, tình thầy trò, tình gia đình rất chân thành, sâu sắc.

4. Phong cách sáng tác

  • Thơ ông mang vẻ đẹp trong sáng, giản dị, tự nhiên, gắn bó mật thiết với đời sống thôn quê.
  • Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng tinh tế, giàu sức gợi cảm.
  • Có sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và hiện thực, giữa nỗi buồn thời thế và tình yêu thiên nhiên, đất nước.
  • Ngoài thơ trữ tình, ông còn có thơ trào phúng, châm biếm sâu cay bọn cường hào, quan lại, thực dân.

5. Những tác phẩm chính

  • Chùm thơ Thu: Thu điếu (Câu cá mùa thu), Thu ẩm (Uống rượu mùa thu), Thu vịnh (Ngâm thơ mùa thu).
  • Các bài thơ nổi tiếng khác: Bạn đến chơi nhà, Khóc Dương Khuê, Tự tình, Hành lạc từ, …
  • Thơ chữ Hán và chữ Nôm, để lại khoảng 800 bài.
1
2 tháng 2

lô trân trân sinh năm bao nhiêu mất năm bao nhiêu quê quán ở đâu


1. Họ và tên, năm sinh – năm mất, quê quánHọ tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Miễn Chi, hiệu Quế Sơn).Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909.Quê quán: Làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; sau dời về quê mẹ ở làng Vị Hạ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (xưa).2. Vị trí của ông trong nền văn họcNguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, đặc...
Đọc tiếp

1. Họ và tên, năm sinh – năm mất, quê quán

  • Họ tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Miễn Chi, hiệu Quế Sơn).
  • Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909.
  • Quê quán: Làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; sau dời về quê mẹ ở làng Vị Hạ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (xưa).

2. Vị trí của ông trong nền văn học

  • Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, đặc biệt nổi tiếng trong giai đoạn văn học trung đại cuối cùng.
  • Ông được mệnh danh là “Nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”, đồng thời cũng là người thể hiện tâm sự yêu nước, nỗi đau thời thế qua thơ.

3. Đề tài sáng tác

  • Thiên nhiên, làng quê gắn bó mật thiết với con người.
  • Tình yêu quê hương đất nước, lòng thương dân.
  • Tâm trạng ưu thời mẫn thế, nỗi niềm bất lực trước thời cuộc đất nước mất chủ quyền.

4. Phong cách sáng tác

  • Trong sáng, giản dị, tự nhiên.
  • Thơ ông vừa đậm chất hiện thực, vừa thấm đượm tình cảm chân thành.
  • Có tài dùng chữ Nôm, tạo nên giọng thơ dân dã, hóm hỉnh, giàu chất trữ tình và châm biếm.
  • Cảnh quê trong thơ ông luôn gắn liền với tình quê, mang vẻ đẹp thanh bình, chân chất.

5. Những tác phẩm chính

  • Chùm thơ thu: Thu điếu (Câu cá mùa thu), Thu ẩm (Uống rượu mùa thu), Thu vịnh (Ngâm thơ mùa thu).
  • Một số bài thơ tiêu biểu khác: Khóc Dương Khuê, Bạn đến chơi nhà, Chạy giặc,...
0
🧔 Họ tên, năm sinh – năm mất, quê quánHọ tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Quế Sơn, hiệu Miễn Chi)Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909Quê quán: Làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (quê nội); quê ngoại ở xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 📚 Vị trí trong nền văn họcNguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XIX, được mệnh danh...
Đọc tiếp

🧔 Họ tên, năm sinh – năm mất, quê quán

  • Họ tên đầy đủ: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng, tự Quế Sơn, hiệu Miễn Chi)
  • Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909
  • Quê quán: Làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (quê nội); quê ngoại ở xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

📚 Vị trí trong nền văn học

  • Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XIX, được mệnh danh là “Tam nguyên Yên Đổ” vì ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội và Đình
  • Ông là nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ cuối trung đại, có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học dân tộc, đặc biệt trong dòng thơ Nôm và thơ chữ Hán

🖋️ Đề tài sáng tác

  • Tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên
  • Cuộc sống nông thôn, con người bình dị
  • Châm biếm xã hội, đả kích thực dân và tầng lớp thống trị
  • Tâm sự cá nhân, nỗi niềm thời thế2

🎨 Phong cách sáng tác

  • Giàu chất trữ tình và trào phúng, thể hiện rõ tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông phương
  • Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, giàu hình ảnh và cảm xúc
  • Tả cảnh làng quê đặc sắc, đặc biệt là cảnh mùa thu – ông được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”2

📖 Những tác phẩm chính

  • Bộ ba thơ thu nổi tiếng: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh
  • Bạn đến chơi nhà – bài thơ trào phúng nhẹ nhàng, sâu sắc
  • Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ
  • Ngoài ra còn có nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng
0