Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Hoạt động cách mạng: Nguyễn Hữu Tiến (1901-1941) là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, tham gia hoạt động cách mạng từ sớm. Ông nổi tiếng với vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng ở Hà Nam, bị địch bắt, tù đày, vượt ngục và tiếp tục hoạt động. Đặc biệt, ông được ghi nhận là người phác thảo lá cờ đỏ sao vàng - Quốc kỳ thiêng liêng của Việt Nam. Ông anh dũng hy sinh ngày 28/8/1941 sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại.
- Ý nghĩa cuộc thi:
- Giáo dục truyền thống: Giúp cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh hiểu sâu sắc về cuộc đời, sự hy sinh cao cả của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, từ đó bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
- Rèn luyện đạo đức: Tấm gương kiên trung của liệt sĩ là bài học thực tế về lý tưởng cách mạng, tinh thần tận tụy, "thù hận ghi sâu giữa đất trời" nhưng một lòng vì nước.
- Phấn đấu thi đua: Tạo động lực cho cán bộ, giáo viên nâng cao trách nhiệm; học sinh nỗ lực rèn luyện, học tập, xứng đáng là thế hệ tiếp nối.
- Ảnh hưởng của quê hương và gia đình: Nguyễn Hữu Tiến sinh ra tại quê hương Duy Tiên, Hà Nam - vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học và kiên cường chống ngoại xâm. Truyền thống gia đình cùng hoàn cảnh đất nước bị nô dịch đã hun đúc nên lý tưởng cách mạng, tinh thần bất khuất, "trọn con đường" cách mạng của ông.
- Hành động của cán bộ, giáo viên, học sinh:
- Học tập và làm theo: Noi gương đồng chí về sự kiên trung, sáng tạo, "dám nghĩ, dám làm".
- Xây dựng quê hương: Tích cực lao động, công tác, học tập tốt; xây dựng trường học thân thiện, văn minh; tham gia các hoạt động xã hội, giữ gìn môi trường.
- Lan tỏa giá trị: Tuyên truyền, giáo dục về lịch sử địa phương, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống cách mạng của quê hương Duy Tiên ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Trạng nguyên (chữ Hán: 狀元) là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các khoa đình thời phong kiến ở Việt Nam của các triều nhà Lý, Trần, Lê, và Mạc, kể từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu tiên. Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi hương, thi hội và thi đình.
Khoa thi đầu tiên được mở ra dưới thời Lý năm 1075, lúc đó vua nhà Lý chưa đặt ra định chế tam khôi nên người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh chưa được gọi là Trạng nguyên. Danh sách cụ thể những người đỗ đầu các kỳ thi này xem bài Thủ khoa Đại Việt. Phải đến khoa thi năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời vua Trần Thái Tông (1247) mới đặt ra định chế tam khôi (3 vị trí đỗ đầu có tên gọi thứ tự là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì mới có danh hiệu Trạng nguyên. Đến thời nhà Nguyễn thì không lấy danh hiệu Trạng nguyên nữa (danh hiệu cao nhất dưới thời nhà Nguyễn là Đình nguyên). Do đó Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ đỗ khoa Bính Thìn (1736) thời Lê-Trịnh.
từ năm 1075 tơi năm 1919
lấy đỗ gần 3000 người và có 185 khoa thi nha
Olm chào em, Olm là cả một hệ thống chứ em ơi. Có hẳn một đội ngũ chuyên nghiệp luôn ý chứ. Cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm. Chúc em học tập hiệu quả và có những giây phút giao lưu thú vị cùng Olm.
Câu 1: năm 1862
Câu 2: Trương Định
Câu 3: Nguyễn Trường Tộ
Câu 4: Muốn đất nước cải cách , phải tiếp cận với khoa học tiên tiến lúc bấy giờ.
Câu 5: Cầu cứu nhà Thanh đưa quân sang đánh Pháp
Câu 6: Mời Tôn Thất Thuyết đến giả vờ họp rồi bắt ông





là tao
1. Tại sao ngày xưa có thi Hương, thi Hội, thi Đình?
2. "5 người đỗ thi Đình" là ai? 1. 5 vị thứ (danh hiệu) cao nhất trong kỳ thi Đình
Trong một kỳ thi Đình lý tưởng, người ta thường nhắc đến các danh hiệu cao quý nhất theo thứ tự từ trên xuống dưới:
2. Nhóm "Ngũ Hổ" hoặc các khoa thi đặc biệt
Có những giai đoạn hoặc khoa thi nổi tiếng với các nhóm 5 người tài giỏi, ví dụ như:
3. Thủ khoa Nho học là ai?
Thủ khoa Nho học (người đứng đầu thi Đình) chính là Trạng nguyên.
Đây là danh hiệu cao quý nhất mà một người theo nghiệp đèn sách thời xưa có thể đạt được. Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam, không phải khoa thi nào cũng có người đủ xuất sắc để vua phong là Trạng nguyên.
adudu
gõ lắm thế