Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo:
- Đối chiếu những thông tin về nghệ thuật Việt Nam được trình bày trong văn bản với công trình kiến trúc chùa Keo ở Thái Bình.
+ Toàn bộ công trình của chùa Keo đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo. Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa, cao 2m, rộng 2,6m, chạm một ổ rồng với rồng mẹ và rồng con, chầu mặt nguyệt.
+ Gác chuông chùa Keo là một kiến trúc đẹp, cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng.
+ Đến thăm chùa, ta có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.
- Nhận xét về sự bảo lưu hay đổi mới những đặc điểm và tinh thần truyền thống ở tác phẩm hay công trình chùa Keo:
+ Trong tác phẩm, học giả Nguyễn Văn Huyên có nhắc đến sự bảo lưu và đổi mới những đặc điểm và tinh thần truyền thống của người Việt, những n các công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật tuy đã có sự đổi mới nhưng nó vẫn giữ được những nét văn hóa lâu đời của Việt Nam.
+ Chùa Keo là một công trình kiến trúc văn hóa lâu đời của Việt Nam, trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình. Điều này cho thấy tinh thần truyền thống của Người Việt tuy có sự đổi mới nhưng vẫn giữ được sự bảo lưu đến ngày nay.
- Tích Thiện am (chùa Bút Tháp) là một công trình kiến trúc vẫn còn giữ được kết cấu, hoa văn trang trí dù đã có qua tu sửa. Điều đó cho thấy việc bảo tồn di sản văn hoá ở Việt Nam hiện đang rất tốt.
Tích Thiện am: là kiến trúc đặc biệt nhất của chùa Bút Tháp. Toà này được kết cấu theo kiểu chồng diêm, với hàng cột ở giữa cao, to, chạy suốt từ tầng 1 lên tầng 3, các vì kèo được làm theo kiểu chồng rường, những đầu đao của 3 tầng mái cong vút. Tầng 1 gồm 5 gian, có các vì kèo kết cấu kiểu giá chiêng đơn giản. Tầng 2 thu lại còn 3 gian, với 4 hàng chân cột. Tầng ba thu lại còn 1 gian, kết cấu khung dựa chủ yếu trên 4 cột cái và 4 cột trốn nhỏ, bộ vì kiểu giá chiêng. Ở 4 góc mái của tầng 3 có 4 thanh ruỗi, chống 4 kẻ góc, ăn chân vào các cột cái. Tất cả các thanh ruỗi này đều chạm hình rồng, mây cuộn, người và thú. Dựa vào kết cấu kiến trúc và hoa văn trang trí, có thể thấy, toà này được dựng vào thế kỷ XVIII và đã được tu sửa vào thế kỷ XIX. Trong Tích Thiện am ở gian giữa đặt Cối kinh - “Cửu phẩm liên hoa” hình bát giác, cao 7,8m, xếp 9 tầng theo kiểu tòa sen, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca Mâu Ni. Chín tầng Cối kinh tạc hàng trăm tượng Phật, hoa lá, chim muông, tập trung chủ đề khuyến thiện trừ ác, giới thiệu hành trang các vị tổ Thiền tông, các đại sư, các cấp độ thăng hoa trên đường lên cõi Niến bàn. Tòa Cửu phẩm liên hoa là tháp gỗ 8 mặt, 9 tầng, được đỡ bởi các hàng chấn song con tiện. Tám mặt của 9 tầng có gắn phù điêu gắn với Phật giáo.
- Đề tài: những câu chuyện trong đời sống thường nhật của nhân dân, phê phán những thói hư tật cấu trong xã hội phong kiến thời xưa, đặc biệt là sự bất công trong vấn đề xử án của quan lại.
- Cảm hứng chủ đạo: Cuộc sống thường nhật của con người trong xã hội xưa.
- Theo em, tích truyện của vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến được lấy từ những câu chuyện dân gian mà nhân dân truyền đạt lại.
- Văn bản Huyện Trìa xử án (trong vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến) được sáng tác, lưu truyền theo phương thức truyền miệng bởi:
+ Văn bản này được trích trong một vở tuồng (tuồng là thể loại thuộc văn học dân gian) nên có tính chất truyền miệng.
+ Văn bản trên không có tên tác giả cụ thể.
+ Văn bản xuất hiện nhiều dị bản ở mỗi vở diễn khác nhau.
- Đề tài: Những trò lố ở chốn huyện đường
- Cảm hứng chủ đạo: phê phán, chế giễu cung cách xử án tùy tiện, bất chấp sự thật của những kẻ đại diện cho chính quyền nông thôn như Huyện Trìa, Đê Hầu.
- Nguồn gốc tích truyện: Được xây dựng từ mô – típ truyện kể dân gian
- Phương thức sáng tác, lưu truyền: Truyền miệng, nên có các dị bản
Phương pháp giải:
- Đọc lại những văn bản thông tin đã học.
- Chú ý những phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong một văn bản thông tin giúp cụ thể hóa những lời thuyết minh trong văn bản. Từ đó, người đọc sẽ tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng, đầy đủ và đúng đắn nhất.
- Bằng chứng:
Trong văn bản Đàn ghi-ta lõm trong dàn nhạc cải lương, tác giả sử dụng ba hình ảnh minh họa (Hình 1: Cầm đàn ghi-ta thường và cầm đàn ghi-ta phím lõm; Hình 2: Các nhạc cụ phổ biến trong dàn nhạc cải lương; Hình 3: Đàn ghi-ta phím lõm trên sân khấu cải lương) để giúp người đọc hình dung ra hình dáng của cây đàn và môi trường sử dụng của loại đàn này.
- Góp phần truyền tải thông tin, giúp nội dung của văn bản thông tin rõ nét và có sức thuyết phục hơn
Ví dụ: Trong văn bản thông tin :’’Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang khánh thành phòng truyền thống’’người viết đã đưa ra hình ảnh một góc của phòng trưng bày giúp người đọc thêm tin tưởng rằng đúng là nhà hát đã có thêm phòng truyền thống để trưng bà
Hiểu nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn
Nhận định khẳng định sứ mệnh kép của nhà văn:
- "Sáng mắt, sáng lòng": Nhà văn phải có tầm nhìn sắc bén và trái tim nhân hậu để phát hiện mọi vẻ đẹp, giá trị tiềm ẩn lẫn những góc khuất tăm tối của đời sống.
- "Đấu tranh không khoan nhượng": Văn chương không chỉ phản ánh mà còn phải dấn thân, bênh vực cái thiện, lên án cái ác, góp phần cải tạo xã hội.
→ Văn học chân chính phải là "tấm gương soi đời" (Stendhal) và "cây búa đập vào bức tường thành" (Brecht).
Phân tích một số tác phẩm làm sáng tỏ
1. "Chí Phèo" (Nam Cao)
- Phát hiện cái đẹp:
- Vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn Chí Phèo (khát khao lương thiện, tình yêu với Thị Nở).
- Vẻ đẹp nhân văn của Thị Nở – người đàn bà xấu xí nhưng giàu tình thương.
- Phơi bày cái ác:
- Bá Kiến – đại diện cho thế lực thống trị tàn bạo, biến con người thành "quỷ dữ".
- Xã hội nông thôn phong kiến đầy định kiến, đẩy Chí vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.
→ Nam Cao đấu tranh cho nhân tính bằng cách vạch trần cơ chế tha hóa, đồng thời tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người.
2. "Vợ nhặt" (Kim Lân)
- Cái đẹp trong tăm tối:
- Tình người ấm áp giữa nạn đói (bà cụ Tứ nhường cơm, Tràng cưu mang vợ).
- Khát vọng sống mãnh liệt của người lao động.
- Cái ác hiện hình:
- Nạn đói 1945 do thực dân, phát xít gây ra, biến con người thành "bóng ma".
- Sự hủy diệt nhân tính (cảnh xác người chết nằm la liệt).
→ Kim Lân bảo vệ cái thiện bằng cách cho thấy: dù trong cùng cực, tình yêu thương vẫn là cứu cánh.
3. "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam)
- Cái đẹp mong manh:
- Ánh sáng đoàn tàu – biểu tượng của hy vọng, khát vọng đổi đời.
- Tâm hồn tinh tế của Liên trước vẻ đẹp bình dị (đom đóm, mùi đất ẩm).
- Cái xấu lặng lẽ:
- Cuộc sống tù đọng, bế tắc của phố huyện nghèo.
- Sự bất công khi con người bị mắc kẹt trong bóng tối.
→ Thạch Lam đấu tranh bằng lòng trắc ẩn, lay tỉnh ý thức về giá trị cuộc sống.
Kết luận
- Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn khẳng định tính chiến đấu của văn học. Các tác phẩm lớn đều là sự kết hợp giữa cái nhìn đa chiều và tư tưởng nhân văn.
- Qua phân tích, ta thấy: Nhà văn chân chính không chỉ miêu tả hiện thực mà còn gửi gắm thông điệp đạo đức, góp phần thay đổi nhận thức xã hội.
- THAM KHẢO
Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn nhấn mạnh vai trò của nhà văn là phải “sáng mắt, sáng lòng” để nhìn rõ cái hay, cái đẹp và cả cái xấu, cái ác trong cuộc sống. Nhà văn không chỉ phản ánh thực tế mà còn phải đấu tranh loại bỏ điều xấu, bảo vệ và phát huy cái thiện qua tác phẩm của mình.
Ví dụ, trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao, nhà văn thể hiện lòng thương cảm với người nông dân nghèo khổ và lên án xã hội bất công. Hay trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, tác phẩm vừa tôn vinh vẻ đẹp nghệ thuật vừa phê phán bạo lực gia đình.
Như vậy, nhà văn góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn bằng cách thể hiện và bảo vệ những giá trị nhân văn trong văn học.
Một số từ ngữ, câu văn trong văn bản, nhất là ở đoạn cuối, thể hiện tình cảm của tác giả đối với Nguyễn Trãi:
- tiếng nói “của một nhà yêu nước vĩ đại, da diết trong lòng Tổ quốc mình”
- thành viên kiệt xuất của cộng đồng loài người
- bộ óc sớm uyên thâm
- “Quân trung từ mệnh tập” biểu thị sáng chói cơ sở tư tưởng của Nguyễn Trãi.
- Các phần mở bài, thân bài, kết bài trong ngữ liệu đã đáp ứng được yêu cầu về bố cục đối với kiểu bài thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm.
- “Con thuyền “ưu ái cũ” ấy, một sáng sớm, đã tan vỡ ở Lệ Chi viên, gần Côn Sơn. Là nạn nhân của những mưu đồ đen tối, Nguyễn Trãi bị hành hình cùng với hầu hết gia tộc.”
- “Sáu trăm năm sau, nỗi thao thức canh cánh của nhà hành động và nhà thơ Nguyễn Trãi vẫn là nỗi thao thức canh cánh bên lòng của tất cả những người yêu công lí và nhân đạo trên đời này”.
...
khi đăng câu hỏi thì bạn hãy đăng đủ câu hỏi để được hỗ trợ tốt nhất nhé
- Chứng minh bản sắc riêng: Khẳng định Việt Nam có một nền văn minh lâu đời, độc lập và không hề kém cạnh so với các dân tộc khác.
- Xóa bỏ định kiến: Phản bác quan điểm cho rằng văn hóa Việt Nam chỉ là sự mô phỏng hay lệ thuộc hoàn toàn vào văn hóa Trung Hoa.
2. Tinh thần của một nhà trí thức yêu nước Ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Đại học Sorbonne (Pháp). Với vốn tri thức uyên bác tiếp thu được từ phương Tây, ông đã quay trở lại nghiên cứu chính dân tộc mình. Cảm hứng sáng tác bắt nguồn từ tình yêu quê hương sâu sắc và trách nhiệm của một nhà khoa học đối với việc bảo tồn di sản dân tộc. 3. Mục đích giáo dục và phổ biến tri thức Nguyễn Văn Huyên viết tác phẩm này không chỉ cho giới học giả mà còn nhằm:- Phác họa toàn cảnh đời sống: Từ cư trú, kiến trúc đến các loại hình nghệ thuật dân gian, giúp người đọc (đặc biệt là thế hệ trẻ) hiểu sâu sắc về "cá tính dân tộc".
- Làm tài liệu giáo khoa: Thực tế, cuốn Văn minh Việt Nam ban đầu được viết như một cuốn giáo khoa để giảng dạy cho học sinh bậc trung học thời đó về văn hóa nước nhà.
Tóm lại Cảm hứng sáng tác của Nguyễn Văn Huyên đến từ sự kết hợp giữa tri thức khoa học hiện đại và lòng yêu nước nồng nàn, nhằm tôn vinh những giá trị tinh thần và nghệ thuật bền bỉ của người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử.Lỗi hiển thị 🍓🐘