Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1:
- Thể thơ: Thơ lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 2: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu thương, kính trọng, nhớ thương và lòng biết ơn tha thiết của người con đối với mẹ. Tác giả bày tỏ nỗi xót xa khi không còn mẹ bên đời, đồng thời khẳng định dù trưởng thành hay già đi thì vẫn luôn cần có mẹ.
Câu 3: (Đoạn văn 3-5 câu)
Thông điệp em tâm đắc nhất là: Dù ở bất cứ lứa tuổi nào, con người vẫn luôn cần có mẹ. Bởi mẹ là điểm tựa tinh thần vững chắc, là nguồn yêu thương vô điều kiện nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Khi đọc đoạn thơ, em càng thêm trân trọng công lao, tình yêu thương của mẹ và tự nhắc nhở bản thân phải biết yêu thương, hiếu kính với mẹ khi còn có thể.
Câu 1: Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính
- Thể thơ: Đoạn trích được viết theo thể thơ bốn câu (tứ tuyệt), mỗi câu 7 chữ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
- Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, thể hiện tình cảm sâu sắc của người con đối với mẹ.
Câu 2: Tình cảm của tác giả đối với mẹ được thể hiện như thế nào?
- Tác giả thể hiện tình cảm thương yêu, nhớ nhung và sự cô đơn khi mẹ vắng mặt.
- Có cảm giác nuối tiếc, đau xót khi mẹ đã “xa” (mất đi), câu thơ “lỏng chỏng giữa nhà mồ côi” gợi lên sự trống trải, cô đơn.
- Dù đã lớn tuổi, tác giả vẫn khẳng định “Con vẫn cần mẹ như thời trẻ thơ” – tình cảm gắn bó và tôn trọng mẹ suốt cuộc đời.
Câu 3: Thông điệp em tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do chọn thông điệp đó.
Đoạn văn mẫu:
Thông điệp mà em tâm đắc nhất là tình mẫu tử thiêng liêng và sự cần thiết của mẹ trong cuộc đời mỗi người. Dù con người có lớn lên, trưởng thành hay trải qua bao nhiêu khó khăn, thì sự hiện diện và tình yêu thương của mẹ vẫn luôn là điều không thể thiếu. Em chọn thông điệp này vì nó giúp em hiểu rõ hơn về giá trị của gia đình và lòng biết ơn đối với công lao của mẹ.
Bạn tham khảo nhé :
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”. Đó là lời khẳng định đầy tự hào của chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Lòng yêu nước được hiểu là tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng và tinh thần, trách nhiệm bảo vệ, dựng xây đất nước của con người. Cao hơn cả đấng sinh thành, đất nước như một mái nhà chung của tất cả những người dân đang chảy trong mình dòng máu Lạc Hồng. Chính vì vậy, lòng yêu nước tồn tại trong tất cả con người Việt Nam như một lẽ dĩ nhiên, thể hiện sự tự tôn, tự hào dân tộc, biết ơn sâu sắc với các thế hệ cha anh đi trước đã anh dũng dựng xây và bảo vệ đất nước. Biểu hiện của lòng yêu nước là những hành động cụ thể, được minh chứng qua từng giai đoạn lịch sử. Trang sử vàng của dân tộc ta đã ghi danh biết bao vị anh hùng, chiến sĩ, thậm chí là nông dân dũng cảm, can trường xả thân vì đất nước. Hình ảnh chị Võ Thị Sáu gan dạ trước nòng súng quân giặc, anh Bế Văn Đàn, anh Phan Đình Giót,… và hàng ngàn con người Việt Nam đã khiến cả thế giới phải nể phục vì lòng yêu nước, dũng cảm, cứng rắn “như gang như thép”.
Có thể thấy, lòng yêu nước là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thành công của đất nước ta trong cả kháng chiến lẫn công cuộc dựng xây xã hội chủ nghĩa. Thế hệ thanh thiếu niên cần không ngừng cố gắng học tập, làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc. Bên cạnh đó, chúng ta cần ngăn chặn triệt để các hành vi tuyên truyền phản động, biểu tình gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh đất nước.
Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam chính là nền tảng, cơ sở cho sự thống nhất trong khác biệt để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc, đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự không lớn, song đã đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do; tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, khi nước nhà đã giành được độc lập, song hiểm nguy từ nạn "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm" vẫn đe dọa nền độc lập, tự do mà nhân dân ta đã giành được sau hơn 80 năm trời nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”[6]; đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi người dân, mọi giai tầng trong xã hội trong các bức thư gửi cho các cụ phụ lão: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không” (Thư gửi các cụ phụ lão); cho các em nhỏ: “Các em phải thương yêu nước ta” (Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); cho một Việt kiều: “Tôi vẫn nghe ông là người yêu nước thương nòi, vậy dịp này rất thuận tiện cho ông tỏ lòng trung thành với Tổ quốc” (tháng 9/1945); cho các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình: “Các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của đức Giêsu” và bao dung, vị tha với những người trót lầm đường, lạc lối: “Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe”[7]... để quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở của lòng yêu nước chân chính, tiến hành sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Trân trọng giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc tuyên truyền về lòng yêu nước, tinh thần yêu nước cho mọi người dân, trong mọi thời điểm là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước không chỉ dừng ở nhận thức mà chính là phải thể hiện ở hành động. Cho nên, để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn, Người yêu cầu các cấp, các ngành “phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”[8], vì “đành biết rằng từ đây đi đến cuộc toàn thắng, chúng ta còn phải kinh qua nhiều nỗi khó khăn. Nhưng chúng ta giàu lòng yêu nước, thì chúng ta quyết cứu được nước”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, trong những năm tháng đấu tranh gian lao ấy, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của mọi người dân Việt Nam đã được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nổi bật tinh thần, ý chí và trí tuệ con người Việt Nam. Đó chính là sức mạnh của lòng yêu nước được hun đúc suốt hàng ngàn năm lịch sử; không chỉ được bồi đắp mà còn phát triển lên một tầm cao mới, gắn với tinh thần quốc tế trong sáng. Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế cao cả trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; là lòng nồng nàn yêu nước gắn với sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các đồng chí, bạn bè và nhân dân lao động các nước; là phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đấu tranh để “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[10] trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử. Đó cũng chính là hiển hiện của những tấm gương yêu nước, anh hùng mà khiêm nhường của biết bao quần chúng ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi; của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên mọi lĩnh vực công tác ở cả tiền tuyến và hậu phương,v.v.. đã kết thành "một làn sóng mạnh mẽ", tạo thành sức mạnh tổng hợp, vô song, làm nên những chiến công của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đưa đất nước ta tới hòa bình, độc lập, thống nhất, kiên định ục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì thế, có thể nói, những giá trị tinh hoa truyền thống như tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương giống nòi, phụng sự Tổ quốc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì dân, vì nước,v.v.. đến Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh đã được nâng lên một tầm cao. Yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung và hình thức mới, mang bản chất giai cấp, hòa quyện chặt chẽ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại mà cơ sở tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là yêu nước chân chính gắn với tinh thần quốc tế vô sản, "khác hẳn tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”… và chính Người là một mẫu mực của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần yêu nước Việt Nam hiện đại đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh của sự gặp nhau giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản”
a. Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. → Phép ẩn dụ: “Con sóng” → Đối tượng ẩn dụ: Sóng là hình ảnh ẩn dụ cho cảm xúc, tình yêu mãnh liệt và nỗi nhớ của người con gái đang yêu. → Kiểu ẩn dụ: Ẩn dụ hình tượng (dùng hình ảnh sóng để biểu đạt cảm xúc nội tâm)
b. Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. → Phép ẩn dụ: “Con cò” → Đối tượng ẩn dụ: Con cò là biểu tượng cho người lao động nghèo, đặc biệt là người mẹ tảo tần, vất vả. → Kiểu ẩn dụ: Ẩn dụ biểu tượng (dùng hình ảnh con cò để nói về số phận con người)
c. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc, đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. → Phép ẩn dụ: Cây xanh, nước biển, cát vàng → Đối tượng ẩn dụ: Thiên nhiên được miêu tả như mang cảm xúc, tâm trạng con người trước vẻ đẹp đất nước → Kiểu ẩn dụ: Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (dùng cảm nhận của con người để miêu tả cảnh vật)
phân tích:
a, !Thông báo! : sóng nhớ bờ
b, thông điệp: Ko đc để con cò đi chơi đêm!
c, Lưu ý: ko đc để người đói đọc!
Câu 9: So sánh và nêu tác dụng
a.
- Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
- Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.
b.
- Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
- Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.
Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra
Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.
Câu 9
A,
(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian
(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng
Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn
B,
(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường
(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp
Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ
Câu 10
Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
a.Trích từ văn bản :Tinh thần yêu nước của nhân dân ta-Tác giả Hồ chí Minh b.Nghị luận c."Lịch sử ta có nhiều...yêu nước của dân ta" d. truyền thống yêu nước của nhân dân ta vốn có từ ngàn đời.Đó là tinh thần đấu tranh bảo vệ đất nước trước sự xâm lược của ngoại xâm.Từ phụ nữ đên người già,trẻ em,trai tráng.Họ đoàn kết một lòng đánh giặc.Và lịch sử là tấm gương phản chiếu điều đó.Hình ảnh 2 Bà Trưng cưỡi voi,hình ảnh Đinh Bộ lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.Hình ảnh Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng....Tất cả trở thành làn sóng chống giặc cứu nước đi theo mọi thời đại.Đó là tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Câu 1
Một đặc điểm nổi bật của tục ngữ thể hiện trong các câu trên là ngắn gọn, hàm súc, giàu tính khái quát và giàu nhịp điệu. Mỗi câu chỉ gồm ít từ nhưng chứa đựng một kinh nghiệm sống sâu sắc, dễ nhớ, dễ truyền đạt. Nhiều câu có kết cấu đối xứng (“Tiên học lễ, hậu học văn”), so sánh (“Một kho vàng không bằng một nang chữ”), hoặc lối nói nhịp nhàng, cân xứng, tạo sức gợi và tính giáo huấn cao.
Câu 2
Các câu tục ngữ trên cùng hướng tới đề tài học tập và đạo lí trong giáo dục, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người thầy, tinh thần học hỏi và giá trị của tri thức.
Câu 3
Câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” khẳng định: trước khi học tri thức (văn), con người cần học lễ nghĩa, đạo đức, cách làm người. “Lễ” là nền tảng nhân cách, là sự tôn trọng, khiêm nhường, chuẩn mực ứng xử; “văn” là tri thức, học vấn. Lời khuyên được gửi gắm là: việc học không chỉ để mở mang hiểu biết mà trước hết phải rèn luyện đạo đức. Có tài mà không có đức dễ gây hại cho xã hội; vì vậy giáo dục chân chính luôn bắt đầu từ việc hình thành nhân cách.
Câu 4
Những câu tục ngữ cho thấy người xưa có thái độ rất coi trọng việc học. Họ đề cao vai trò của người thầy (“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”), khuyến khích học hỏi ở nhiều nguồn (“Học thầy học bạn…”), nhấn mạnh tinh thần chủ động (“Muốn biết phải hỏi…”), đồng thời xem tri thức quý hơn của cải vật chất (“Một kho vàng không bằng một nang chữ”). Việc học được nhìn nhận như con đường quan trọng để hoàn thiện bản thân và lập thân trong xã hội.
Câu 5
Theo em, các câu tục ngữ trên vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay. Xã hội hiện đại càng phát triển càng đòi hỏi con người không ngừng học hỏi và rèn luyện đạo đức. Tri thức vẫn là “tài sản” bền vững nhất, giúp con người thích nghi và thành công. Đồng thời, sự tôn trọng thầy cô và tinh thần học tập suốt đời vẫn là nền tảng của một xã hội văn minh. Vì vậy, những lời dạy ấy không hề cũ mà ngày càng trở nên thiết thực.