Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ
- Nỗi buồn bơ vơ cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn người người đói khổ
- Nhà thơ cũng khao khát cuộc sống có thể tốt đẹp hơn để nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói hiện tại
Mình gợi ý một bài mẫu thuyết minh để đăng báo tường như sau: Trong vô vàn hiện tượng thiên nhiên, có lẽ cầu vồng là một trong những cảnh tượng khiến con người rung động nhất. Sau những cơn mưa rào mùa hạ, trên bầu trời thường xuất hiện một dải sáng nhiều màu uốn cong mềm mại. Đó chính là cầu vồng – món quà rực rỡ mà thiên nhiên ban tặng. Cầu vồng hình thành nhờ hiện tượng khúc xạ và phản xạ ánh sáng Mặt Trời qua các hạt nước mưa li ti trong không khí. Khi ánh sáng trắng đi vào giọt nước, nó bị tách thành nhiều màu khác nhau: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Những màu sắc ấy kết hợp tạo thành chiếc “cung” lung linh treo trên nền trời. Thường thì chúng ta nhìn thấy cầu vồng khi Mặt Trời ở sau lưng và mưa còn rơi ở phía trước. Cầu vồng không chỉ đẹp về mặt thị giác mà còn gợi cho con người nhiều cảm xúc. Với trẻ em, đó là chiếc cầu cổ tích nối đất với trời. Với người lớn, cầu vồng tượng trưng cho niềm tin và hy vọng sau giông bão. Nhiều nền văn hóa còn coi cầu vồng là dấu hiệu của sự may mắn. Ngày nay, các nhà khoa học đã giải thích rõ cơ chế hình thành cầu vồng. Tuy nhiên, vẻ đẹp và sự kỳ diệu của nó vẫn luôn khiến chúng ta trầm trồ. Mỗi lần cầu vồng xuất hiện, nó như nhắc nhở rằng sau mưa trời lại sáng, sau khó khăn con người sẽ tìm thấy niềm tin và ánh sáng mới. Cầu vồng vì thế không chỉ là một hiện tượng tự nhiên, mà còn là biểu tượng của khát vọng, của những gam màu tươi đẹp trong cuộc sống.
Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232
Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).
Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).
Câu 1. thể hiện niềm vui trước nhịp sống bình yên, thân thuộc của quê hương, gợi âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng nhạc ngựa
- Một số truyện cười: Kẻ ngốc nhà giàu, Đẽo cày giữa đường, Tam đại con gà, Đi chợ,…
- Kể chuyện: Tam đại con gà
Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “xấu hay làm tốt, dốt hay chơi chữ” đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.
Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.
Một hôm, dạy sách Tam thiên tự , sau chữ “tước” là chim sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cũng khôn, sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khẽ, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn thấp thỏm.
Nhân trong nhà có bàn thờ thổ công, thầy mới đến khấn thầm xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba đài được cả ba.
Thấy vậy, thấy lấy làm sắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:
– Dủ dỉ là con dù dì… Dủ dỉ là con dù dì…
Bố chúng đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng học, ngạc nhiên bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, hỏi thầy:
– Chết chửa! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì”?
Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”, nhưng nhanh trí thầy vội nói gỡ:
– Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy cháu thế là dạy cho cháu nó biết tận tam đại con gà kia.
Chủ nhà càng không hiểu, hỏi:
– Tam đại con gà là nghĩa ra làm sao?
– Thế này nhé! Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà!
cô nhớ tick cho em nhé.
- Tác dụng: Nhấn mạnh sự băn khoăn, lo lắng của nhà thơ trước cảnh chợ búa ế ẩm; thể hiện sự quan tâm, thấu hiểu và tình yêu thương của Nguyễn Khuyến đối với nỗi vất vả của người dân quê.
Câu 5. Bài thơ gợi suy nghĩ về giá trị thực sự của Tết truyền thống không chỉ là vật chất (ăn ngon, mặc đẹp) mà là sự sum vầy, ấm no và niềm vui giản dị, dù cảnh nghèo. Nó nhắc nhở ta trân trọng không khí Tết quê hương, sự yên bình và tình cảm xóm giềng, thay vì chỉ chạy theo những giá trị thương mại, hào nhoáng bên ngoài.Câu 1. Văn bản "Chợ Đồng" được viết theo thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những âm thanh xuất hiện trong bức tranh phiên chợ giáp Tết là:
- Tiếng "xáo xác" của người về nơi hàng quán.
- Tiếng "hỏi lung tung" của chuyện nợ nần cuối năm.
- Tiếng "đùng" của pháo trúc.
Câu 3. Không khí phiên chợ giáp Tết trong bài thơ được hiện lên vừa mang nét thanh tao, cổ truyền, vừa mang vẻ xô bồ, lo toan của đời thường:
- Vẻ thanh tao: Hình ảnh các bô lão ngồi tựa tường đền nếm rượu thể hiện một nét văn hóa đẹp, tĩnh lặng và đậm đà bản sắc quê hương.
- Vẻ thực tế, đời thường: Không khí có phần vội vã, hỗn tạp ("xáo xác", "lung tung") do áp lực của những ngày cuối năm, đặc biệt là gánh nặng cơm áo, nợ nần.
- Dấu hiệu mùa xuân: Không khí chuyển dần từ cái lạnh, ẩm ướt ("mưa bụi", "hơi rét") sang sự háo hức chờ đợi tiếng pháo đón xuân.
Câu 4. Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ.
Tác dụng: Câu hỏi không nhằm mục đích tìm kiếm thông tin về số lượng người đi chợ, mà dùng để bộc lộ sự quan tâm, nỗi lòng trăn trở của nhà thơ trước cảnh sắc quê hương. Nó tạo nên một giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, đồng thời hé mở cảm giác hơi hụt hẫng, buồn man mác của tác giả trước một phiên chợ có phần thưa thớt, kém vui hơn mọi năm.
Câu 5. Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về giá trị thực sự của Tết truyền thống: Tết không chỉ là mốc thời gian chuyển giao năm cũ - năm mới, mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng và bảo tồn văn hóa. Qua hình ảnh các bô lão nếm rượu, ta thấy Tết là dịp để trân trọng những giá trị xưa cũ, lòng thành kính với tổ tiên. Dù cuộc sống còn nhiều lo toan, "xáo xác" chuyện nợ nần, nhưng Tết vẫn đem lại niềm hy vọng qua tiếng pháo, niềm vui sum họp. Giá trị cốt lõi của Tết chính là sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên và sự ấm áp trong tình làng nghĩa xóm.
xáo xác, hỏi lung tung, một tiếng đùng
Thơ lục bát
1 – Thất ngôn bát cú Đường luật Câu 2 Âm thanh trong phiên chợ là tiếng người đi chợ xôn xao, náo nhiệt và tiếng pháo trúc nổ báo hiệu Tết. Câu 3 Không khí phiên chợ giáp Tết vừa đông vui, nhộn nhịp nhưng cũng mang nét trầm lắng, lo toan vì nợ nần. Tuy vậy vẫn có không khí Tết và niềm mong chờ mùa xuân. Câu 4 Câu thơ sử dụng biện pháp câu hỏi tu từ, thể hiện sự băn khoăn của tác giả, đồng thời gợi lên sự vắng vẻ, không còn đông vui như trước của phiên chợ. Câu 5 Tết truyền thống không chỉ là dịp mua sắm mà còn là thời gian sum họp gia đình, gắn kết tình thân. Qua bài thơ, em hiểu rằng giá trị của Tết nằm ở những điều giản dị như đi chợ, chuẩn bị đón xuân. Dù cuộc sống còn khó khăn, con người vẫn hướng về Tết với niềm hy vọng và niềm vui. Tết còn giúp gìn giữ những nét đẹp văn hóa dân tộc. Vì vậy, mỗi người cần trân trọng và giữ gìn Tết cổ truyền.