K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1. Nhân vật Thạch Sanh a. Gia cảnh của Thạch Sanh
  • Gia cảnh đặc biệt: Thạch Sanh mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống lủi thủi một mình trong túp lều cũ dựng dưới gốc cây đa, tài sản chỉ có một lưỡi búa sắt gia truyền, ngày ngày lên rừng đốn củi kiếm sống.
  • Suy nghĩ gửi gắm: Tác giả dân gian muốn gửi gắm suy nghĩ về những con người nghèo khổ, mồ côi, đơn độc trong xã hội (đại diện cho người lao động hiền lành, lương thiện). Tác giả muốn khẳng định: dù nghèo khó, cô độc nhưng họ vẫn có phẩm chất tốt đẹp (nhân hậu, dũng cảm), xứng đáng được tôn vinh và có hạnh phúc.
b. Những thử thách và chiến công của Thạch Sanh

Thử thách

Chiến công/Kết quả

Lần 1: 

Bị Lý Thông lừa đi canh miếu thờ thay, đối mặt với Chằn tinh.

Giết chết Chằn tinh, thu được bộ cung tên vàng nhưng bị Lý Thông cướp công.

Lần 2: 

Bị lừa xuống hang sâu cứu công chúa, đối mặt với Đại bàng tinh.

Giết chết Đại bàng tinh, cứu được công chúa.

Lần 3: 

Bị Lý Thông lấp cửa hang, hòng giết người diệt khẩu.

Sống sót, cứu con vua Thủy Tề, được tặng đàn thần.

Lần 4: 

Bị hồn Chằn tinh và Đại bàng vu oan, bắt vào ngục.

Tiếng đàn thần giải oan, vạch mặt Lý Thông, cứu công chúa khỏi câm.

Kết cục:

Vua gả công chúa, quân 18 nước quy phục, Thạch Sanh lên ngôi vua.

1
17 tháng 2 2022

Hẳn đây là câu chuyện về Thạch Sanh nhỉ !? 

Dữ liệu bài còn thiếu ở 4 câu đầu  vì thiếu đoạn văn cần phân tích 

Ngày xưa, có một chàng trai nghèo tên là ThạchSanh. Thạch Sanh sống lủi thủi một mình trong túp lềucũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài chỉ có một lưỡi búa,hằng ngày lên rừng đốn củi kiếm ăn.Một hôm có người hàng rượu tên là Lí Thông điqua đó, nghỉ ở gốc đa. Thấy Thạch Sanh gánh về mộtgánh củi lớn, hắn nghĩ bụng: "Người này khỏe như voi.Nếu nó về ở cùng với ta thì lợi bao...
Đọc tiếp

Ngày xưa, có một chàng trai nghèo tên là Thạch
Sanh. Thạch Sanh sống lủi thủi một mình trong túp lều
cũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài chỉ có một lưỡi búa,
hằng ngày lên rừng đốn củi kiếm ăn.
Một hôm có người hàng rượu tên là Lí Thông đi
qua đó, nghỉ ở gốc đa. Thấy Thạch Sanh gánh về một
gánh củi lớn, hắn nghĩ bụng: "Người này khỏe như voi.
Nếu nó về ở cùng với ta thì lợi bao nhiêu". Lí Thông lân
la gợi chuyện rồi gạ Thạch Sanh kết nghĩa anh em. Vì sớm mồ côi cha mẹ, tứ cố vô thân, nay lại có người săn sóc đến mình, Thạch Sanh cảm
động, vui vẻ nhận lời và chàng từ giã gốc cây đa đến sống chung với mẹ con Lí Thông.

Câu 1
Truyện được mở đầu bằng thời gian
như thế nào? Em biết đến truyện cổ
tích nào cũng được mở đầu theo
cách như vậy?

 Câu 2

Nêu lai lịch của Thạch Sanh được
thể hiện trong đoạn trích. Từ đó,
cho biết Thạch Sanh thuộc kiểu
nhân vật cổ tích nào?
Câu 3
Chỉ ra và giải nghĩa các thành ngữ
có trong ngữ liệu.

Câu 4

Trước gia cảnh của Thạch Sanh, Lí Thông đã có suy nghĩ và hành động gì? Qua đó,
em nhận xét gì về nhân vật Lí Thông?
Câu 5

Em rút ra bài học cuộc sống nào qua đoạn trích trên?

0
Cho đoạn văn sau:Ngày xưa, có một chàng trai nghèo tên là Thạch Sanh. Thạch Sanh sống lui thủi một mình trong túp lều c tilde u dựng dưới gốc đa. Cả gai tài chỉ có một lưỡi búa, hằng ngày lên rừng đổn củi kiếm ăn.Câu 1: Đoạn văn trên trích trong văn bản nào?Câu 2: Tóm tắt những sự việc chính trong văn bản trên? Cho biết thể loại của văn bản? Hãy k hat e tên ít nhất 2 câu chuyện khác cũng...
Đọc tiếp

Cho đoạn văn sau:

Ngày xưa, có một chàng trai nghèo tên là Thạch Sanh. Thạch Sanh sống lui thủi một mình trong túp lều c tilde u dựng dưới gốc đa. Cả gai tài chỉ có một lưỡi búa, hằng ngày lên rừng đổn củi kiếm ăn.

Câu 1: Đoạn văn trên trích trong văn bản nào?

Câu 2: Tóm tắt những sự việc chính trong văn bản trên? Cho biết thể loại của văn bản? Hãy k hat e tên ít nhất 2 câu chuyện khác cũng viết cùng thể loại với văn bản trên?

Câu 3: Chỉ ra từ láy được sử dụng trong đoạn văn trên? Giải thích nghĩa của từ láy đó?

Câu 4: Trong câu chuyện trên, nhân vật chính đã có những chiến công nào? Chiến công nào làm em thích nhất? Vì sao?

Câu 5: Chỉ ra các chi tiết kì ảo có trong văn bản? Câu 6: Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ cảm nghĩ của em v^ hat e nhân vật Thạch Sanh. Trong đoạn văn có sử dụng một từ ghép đăng lập.

1
17 tháng 2 2022

Câu 1 Văn bản Thạch Sanh 

Câu 2 

Ở quận Cao Bình có hai vợ chồng tuổi đã già mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng Ngọc Hoàng bèn sai Thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu vừa chào đời thì mẹ mất, cậu sống lủi thủi trong túp lều cũ nát. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Cậu được dạy đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. Thạch Sanh bị Lý Thông lợi dụng rủ về sống chung. Nhưng Lý Thông độc ác lừa Thạch Sanh nộp mạng thay mình cho Chằn tinh. Lý Thông cướp công giết Chằn tinh được vua khen ngợi phong làm quận công. Lần nọ, đại bàng đến quắp công chúa đi. Thạch Sanh bèn dùng cung tên bắn đuổi theo, cứu công chúa. Lý Thông lại lần nữa hãm hại Thạch Sanh. Chàng đã dùng tiếng đàn để giải oan, được vua gả công chúa cho. Nhờ niêu cơm ăn mãi không hết và tiếng đàn thần kì, Thạch Sanh đã chiến thắng mười tám nước chư hầu.

Thể loại : Cổ tích

 Câu 3 : Từ láy : thui lủi

Theo ý hiểu : Một cách âm thầm, lặng lẽ, với vẻ cô đơn, đáng thương. 

Ví dụ  : Lủi thủi ra về. 

Câu 4

Truyện Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, trong đó em thấy đặc sắc nhất là chiến công của thạch sanh trong chi tiết niêu cơm đãi quân sĩ mười tám nước chư hầu

Vì 

- Chi tiết niêu cơm: Niêu cơm thì bé tí xíu, được Thạch Sanh đưa lên thết đãi những kẻ thua trận với lời thách thức trọng thưởng họ nếu ăn hết cơm. Nhưng khi đó, quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi mà không hết khiến chúng phải cúi đầu lạy tạ rồi kéo nhau về nước.

     + Thể hiện sự hòa ái, khoan dung của Thạch Sanh

     + Đây cũng chính là tấm lòng nhân đạo, ưa chuộng hòa bình của nhân dân ta

     +  Đồng thời, nhắc nhở những kẻ có ý định xâm chiếm nước ta, tuy nước ta còn yếu nhưng lại có lòng tự tôn dân tộc, sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ của bất kỳ nước nào.

11 tháng 10 2019

1

Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua Hùng muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng. Đến cầu hôn có hai vị thần tài giỏi ngang nhau, đều xứng làm rể Vua Hùng

Một người là Sơn Tinh - chúa vùng non cao. Một người làThuỷ Tinh - chúa vùng nước thẳm. Để lựa chọn được chàng rể xứng đáng, Vua Hùng bèn đặt ra điều kiện: "Ngày mai ai mang lễ vật gồm: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi đến trước thi ta sẽ gả con gái cho”. Hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến truớc, cưới được Mị Nương. Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nồi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn làm cho thành Phong Châu ngập chìm trong nuớc. Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép bốc từng quả đồi, dời tùng dãy núi, đắp thành dựng luỹ, ngăn chặn dòng lũ. Hai bên đánh nhau kịch liệt. Cuối cùng Thuỷ Tinh đuối sức phải chịu thua. Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thủy Tinh vẫn làm mưa gió, bão lụt,dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng năm nào cũng mang thất bại trở về.

2,

*Thử thách,chiến công

Thạch Sanh giết chằn tinh, đại bàng, cứu công chúa, Lí Thông hèn nhát đẩy Thạch Sanh thế mạng cho mình nhưng khi Thạch Sanh lập được công lớn thì lại tìm cách cướp công.

*Đoạn văn

Chàng dũng sĩ Thạch Sanh trong câu chuyện cổ tích cùng tên để lại trong em ấn tượng sâu sắc. Thạch Sanh mồ côi cha mẹ từ nhỏ,sống một mình lủi thủi dưới gốc cây đa thật tội nghiệp.Chàng được thiên thần dạy võ nghệ và phép thần thông nên rất tài năng.Thạch Sanh đã diệt con chằn tinh hung ác hãm hại dân lành,giết đại bàng độc ác rồi đẩy lùi quân mười tám nước khiến em rất khâm phục.Với lòng thương người anh bất chấp hiểm nguy xuống hang sâu đánh với đại bàng cứu công chúa và con vua Thủy Tề.Anh thật nhân đạo đã tha tội chết cho hai mẹ con Lí Thông nhiều lần hãm hại mình,đãi cơm cho quân mười tám nước ăn cho ấm bụng rồi lui binh.Thạch Sanh được cưới công chúa và lên nối ngôi thật xứng đáng.Em rất thích cung tên vàng,cây đàn thần và niêu cơm thần bé nhỏ của Thạch Sanh .Em mong mọi người đều có phẩm chất tốt đẹp như Thạch Sanh

3Thể hiện được sự tài giỏi của Thạch Sanh. Đồng thời qua chi tiết niêu cơm thể hiện sự thân thiện, nhân đạo và mong muốn hòa bình của nhân dân ta. Chi tiết niêu cơm cũng thể hiện tiềm năng sức mạnh to lớn của nhân dân.,

,

11 tháng 10 2019

1. Hùng Vương thứ mười tám muốn kén chồng cho con gái Mị Nương. Sơn Tinh (Thần Núi) và Thủy Tinh (Thần Nước) cùng đến cầu hôn. Nhà vua băn khoăn đưa ra yêu cầu sính lễ, ai đem sính lễ đến trước sẽ được lấy Mị Nương. Hôm sau Sơn Tinh đến trước, rước Mị Nương về. Thủy Tinh đến sau nổi giận, dâng nước đánh Sơn Tinh và thua trận. Từ đó hằng năm Thủy Tinh làm mưa bão trả thù Sơn Tinh.

2. 4 lần: canh miếu thờ và giết chần tinh; giết đại bàng cứu công chúa; bị bắt vào ngục do hồn chằn tinh và đại bàng ám; chiến thắng 18 nước chư hầu. phẩm chất : vô tư, thật thà, vị tha, dũng cảm.

3. tượng trưng cho tình yêu thương lòng nhân ái, ước vọng đoàn kết và tư tưởng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta.

15 tháng 7 2023

Cụm danh từ:

- một túp lều cũ

Phụ trước: một (số từ)

Thành phần chính: túp lều

Phụ sau: cũ (tính từ)

- cả gia tài

Phụ trước: cả (số từ)

Thành phần chính: gia tài

Phụ sau: không có

- các môn võ nghệ thuật

Phụ trước: các (số từ)

Thành phần chính: môn võ nghệ thuật

Phụ sau: không có

- mọi phép thần thông.

Phụ trước: mọi (số từ)

Thành phần chính: phép thần thông

Phụ sau: không có

Cụm động từ:

- vừa khôn lớn

Phụ trước: vừa

Thành phần chính: khôn lớn

Phụ sau: không có

- sống lủi thủi

Phụ trước: không có

Thành phần chính: sống

Phụ sau: lủi thủi

[…] Khi cậu bé vừa khôn lớn thì mẹ chết. Cậu sống lủi thủi trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa, cả gia tài chỉ có một lưỡi búa của cha để lại. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Năm Thạch Sanh bắt đầu biết dùng búa, Ngọc Hoàng sai thiên thần xuống dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. […] (Trích truyện Thạch Sanh - Truyện cổ tích, Ngữ văn 6, tập 1, trang...
Đọc tiếp

[…] Khi cậu bé vừa khôn lớn thì mẹ chết. Cậu sống lủi thủi trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa, cả gia tài chỉ có một lưỡi búa của cha để lại. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Năm Thạch Sanh bắt đầu biết dùng búa, Ngọc Hoàng sai thiên thần xuống dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. […] (Trích truyện Thạch Sanh - Truyện cổ tích, Ngữ văn 6, tập 1, trang 61, NXBGD năm 2016) a. Dựa vào đoạn trích trên, em hãy ghi lại một trạng ngữ và cho biết chức năngủa trạng ngữ đó ? (2,0 đ) b. Đoạn trích trên kể về việc gì? (2,0 đ) c. Dựa vào đoạn trích trên, em hãy cho biết nhân vật chính là ai? Ghi lại một lời của người kể có trong đoạn trích. (1,0 điểm) d. Cảm xúc của em sau khi đọc xong đoạn trích trên là gì? (Viết 3 - 4 dòng) (2,0 điểm)

0
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

2

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3