Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn.
Sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Từ năm 1925 đến 1926, đồng chí tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1930, đồng chí bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên các báo của Đảng: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”… Tham gia phong trào Đông Dương đại hội, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
Tháng 6/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Đầu năm 1941, đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.
Tháng 12/1944, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Tháng 4/1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5/1945, đồng chí là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6/1945, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.
Tháng 8/1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 3/1946, đồng chí là Chủ tịch Quân sự, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1946, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Tháng 1/1948, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Từ tháng 9/1955 đến tháng 12/1979, đồng chí là Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.
Từ tháng 1/1980, đồng chí là Phó Thủ tướng thường trực; từ tháng 4/1981 đến tháng 12/1986, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ).
Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn.
Sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Từ năm 1925 đến 1926, đồng chí tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1930, đồng chí bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên các báo của Đảng: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”… Tham gia phong trào Đông Dương đại hội, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
Tháng 6/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Đầu năm 1941, đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.
Tháng 12/1944, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Tháng 4/1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5/1945, đồng chí là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6/1945, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.
Tháng 8/1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 3/1946, đồng chí là Chủ tịch Quân sự, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1946, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Tháng 1/1948, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Từ tháng 9/1955 đến tháng 12/1979, đồng chí là Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.
Từ tháng 1/1980, đồng chí là Phó Thủ tướng thường trực; từ tháng 4/1981 đến tháng 12/1986, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ).
Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Võ Tòng là một nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết **Thủy Hử**, hiện lên với hình ảnh người anh hùng dũng mãnh, gan dạ và trọng nghĩa khí. Ông được biết đến nhiều qua câu chuyện “Võ Tòng đả hổ”, thể hiện sức mạnh phi thường, trí dũng song toàn, dám một mình tay không hạ gục con hổ dữ để trừ hại cho dân làng. Không chỉ mạnh mẽ, Võ Tòng còn là người sống rất nghĩa tình: kính trọng anh trai Võ Đại Lang, trừng trị kẻ ác để bảo vệ công bằng. Nhân vật này gây ấn tượng bởi sự chính trực, tính cách ngay thẳng, ghét gian tà và sẵn sàng hi sinh vì chính nghĩa. Qua hình tượng Võ Tòng, ta cảm nhận được vẻ đẹp lý tưởng của người anh hùng trong văn học cổ điển Trung Quốc: vừa có sức mạnh thể chất, vừa có phẩm chất đạo đức cao quý, trở thành tấm gương về tinh thần trượng nghĩa và lòng dũng cảm.
Nêu suy nghĩ của võ tòng trong bài người đàn ông cô độc giữa rừng , nêu những lời văn nào trong sách
Trong đoạn trích "Người đàn ông cô độc giữa rừng" từ tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, nhân vật Võ Tòng được khắc họa với những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc, phản ánh tâm hồn phong phú và lòng yêu nước mãnh liệt.
Khi trò chuyện với tía nuôi của An, Võ Tòng bộc lộ nỗi niềm về cuộc sống cô đơn giữa rừng sâu:
"Tôi không có vợ con gì hết. Tôi sống một mình trong rừng, không ai làm phiền."
Tuy sống cô độc, nhưng Võ Tòng không hề tỏ ra buồn bã. Ngược lại, chú cảm thấy tự do và thanh thản khi được sống hòa mình với thiên nhiên.
Đặc biệt, Võ Tòng thể hiện lòng căm thù giặc Pháp sâu sắc. Chú kể về việc một mình giết chết hơn hai mươi con hổ, thể hiện sức mạnh và lòng dũng cảm phi thường. Hành động này không chỉ là chiến công cá nhân mà còn là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu kiên cường của người dân Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến.
Những suy nghĩ và lời nói của Võ Tòng trong đoạn trích không chỉ phản ánh tâm hồn của một người đàn ông cô độc mà còn là hình ảnh tiêu biểu cho những con người Nam Bộ giàu lòng yêu nước, dũng cảm và kiên cường.
📝 DÀN Ý CHI TIẾT BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ NGƯỜI THÂN (VÍ DỤ: MẸ)
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu người thân mà em muốn biểu cảm (mẹ/em).
- Cảm xúc, tình cảm chung của em đối với người đó.
📌 Ví dụ:
"Trong cuộc sống, ai cũng có những người thân yêu thương và gắn bó sâu đậm. Với em, mẹ là người gần gũi và quan trọng nhất – người đã chăm sóc, dạy dỗ và luôn ở bên em trong mọi hoàn cảnh. Mỗi khi nghĩ đến mẹ, trong lòng em dâng lên biết bao cảm xúc khó tả..."
II. THÂN BÀI
1. Miêu tả sơ lược về người thân
- Ngoại hình: dáng người, khuôn mặt, ánh mắt, giọng nói…
- Tính cách: hiền hậu, nghiêm khắc, chu đáo, bao dung…
📌 Ví dụ:
"Mẹ em không cao, dáng người nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn. Mái tóc mẹ đã lấm tấm sợi bạc, đôi mắt dịu dàng và luôn ánh lên sự quan tâm mỗi khi nhìn em. Giọng mẹ trầm ấm, nghe thật ấm áp mỗi khi mẹ kể chuyện hay dặn dò."
2. Những hành động, việc làm khiến em xúc động
- Mẹ chăm sóc em khi em ốm, lo lắng khi em buồn, động viên khi em thất bại.
- Những hy sinh âm thầm: thức khuya, làm việc vất vả, quên đi bản thân vì gia đình.
📌 Ví dụ:
"Em nhớ có lần em bị sốt cao giữa đêm. Mẹ đã thức trắng, luôn bên cạnh lau mồ hôi, đút cháo và canh giấc ngủ cho em. Dù rất mệt, mẹ vẫn mỉm cười, vỗ về em bằng giọng nói nhẹ nhàng."
3. Kỷ niệm sâu sắc giữa em và mẹ
- Một lần mẹ dạy bài, đưa đi học, hoặc dắt em đi chơi...
- Một kỷ niệm khiến em nhớ mãi, gắn bó tình cảm giữa hai mẹ con.
📌 Ví dụ:
"Ngày em đạt giải thưởng học sinh giỏi, mẹ là người đầu tiên ôm em thật chặt và khóc vì hạnh phúc. Mẹ nói: ‘Chỉ cần con cố gắng, mẹ sẽ luôn ở phía sau ủng hộ con’."
4. Tình cảm, suy nghĩ của em về mẹ
- Tình yêu thương, sự kính trọng, biết ơn.
- Mong muốn làm điều gì đó cho mẹ, ước mơ mai sau.
📌 Ví dụ:
"Em biết mẹ đã vì em mà vất vả rất nhiều. Em thầm hứa sẽ học tập thật tốt, trở thành người con ngoan để không phụ công ơn dưỡng dục của mẹ."
III. KẾT BÀI
- Khẳng định lại tình cảm với mẹ/người thân.
- Lời hứa, mong muốn, hoặc gửi gắm ước nguyện dành cho người đó.
📌 Ví dụ:
"Mẹ là người em yêu thương và kính trọng nhất trên đời. Em mong mẹ luôn khỏe mạnh, hạnh phúc. Dù sau này có lớn khôn, trưởng thành, em vẫn mãi là đứa con bé nhỏ luôn cần có mẹ."
cụm từ ta với ta trong bài thơ qua đèo ngang là chỉ 1 mình bà ấy đứng giữa cảnh trời non nước.
2)
Nguyễn Khuyến đã để lại nhiều bài thơ Nôm rất xuất sắc cho kho tàng văn học Việt. Thơ của ông nói nhiều về tình người, tình bạn, tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước con người. Bài thơ: Bạn đến chơi nhà nói về một tình bạn thiêng liêng sâu sắc
Bài thơ là cảm xúc của tác giả khi được bạn đến chơi nhà. Đó là tâm trạng hồ hởi vui sướng của tác giả khi có người bạn tri kỉ đến thăm.
Đã bấy lâu nay bác đến nhà
Chắc hẳn người bạn tri kỉ của nhà thơ đã lâu rồi chưa đến chơi, và nhà thơ thì mong mỏi lắm. Tác giả đã chọn cách xưng hô gọi bạn là “bác” thể hiện sự thân tình, gần gũi và thái độ tôn trọng tình cảm bạn bè giữ hai người. Chỉ với một câu thơ mở đầu, người đọc đã cảm nhận được quan hệ bạn bè của hai người rất bền chặt, thân thiết, thuỷ chung.
Khi người bạn than tình như vậy đến chơi, chắc chắn chủ nhân sẽ phải thiết đãi chu đáo để thể hiện tấm chân tình của mình. Nhưng ở đây nhà thơ lại không thể láy gì mà đãi bạn. Có ruộng, có vườn, có ao cá, có gà mà cũng như không
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Tác giả đã khắc họa lên hình ảnh làng quê thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Cuộc sống của nhà thơ thật giản dị, đáng sống biết bao. Qua đó ta thấy hiện lên một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Thứ mà tác giả thiết đãi bạn là cảnh vật yên bình là lòng người ấm áp chân tình. Món quà đó còn quý giá hơn nhiều những sơn hào hải vị quý hiếm trên đời.
Không chấp nhận chốn quan trường thị phi, nhà thơ tài năng đã cáo quan về ở ẩn và sống cuộc đời nghèo khó. Sống trong nghèo khó nhưng tác giả vẫn lạc quan yêu đời, ung dung tự tại. Có lẽ vì nghèo mà tác giả đã thậm xưng hoá cái nghèo, thi vị hoá cái nghèo. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuộc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho trước thế thời của đất nước.
Kết thúc câu chuyện, tác giả lại một lần nữa, nhắc lại tấm chân tình của tác giả đối với người bạn của mình:
“Bác đến chơi đây, ta với ta”.
Chữ bác lại lần nữa xuất hiện ở cuối bài thơ cho thấy tình bạn thật cao cả thiêng liêng. Vật chất không có những tình người thì chan chứa và ấm áp. Cụm từ “ta với ta” biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, toả rộng trong không gian và thời gian. Bài thơ có niêm luật, đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần Nôm, không có một từ Hán - Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên.
Bài thơ thể hiện tình cảm của nhà thơ với người bàn của mình. Đó là tình bạn chân thành, đáng quý. Với cách sống giản dị, mộc mạc, tình bạn ấy càng đáng quý biết bao. Ngôn ngữ mộc mạc, dung dị của lời thơ đã thể hiện được tài năng xuất sắc của tác giả và cũng là điều khiến bài thơ sống mãi với thời gian.
- Võ Quảng (1920 – 2007), quê ở Điện Bàn, Quảng Nam.
- Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, từng làm công tác văn hoá, giáo dục, và giữ nhiều chức vụ trong ngành xuất bản, văn nghệ thiếu nhi.
- Võ Quảng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
- Võ Quảng nổi tiếng là nhà văn, nhà thơ viết cho thiếu nhi.
- Văn, thơ của ông giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống lao động.
- Ông thường dùng cái nhìn hồn nhiên, dí dỏm, gần gũi để khơi gợi tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước trong tâm hồn trẻ thơ.
Võ Quảng (1 tháng 3 năm 1920 - 15 tháng 6 năm 2007), là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu tập trung về đề tài thiếu nhi. Ông cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm Đôn Kihôtê sang tiếng Việt dưới bút danh Hoàng Huy từ năm 1959. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Ngoài sáng tác thơ và truyện, Võ Quảng còn viết kịch bản cho phim hoạt hình như Sơn Tinh Thủy Tinh và Những chiếc áo ấm. Ông cũng đã dịch một số tác phẩm kinh điển của thế giới sang tiếng Việt, bao gồm Truyện Đông Ky-sốt và Người anh hùng rừng Séc Vút.
bài thơ Ngưỡng cửa của Vũ Quần Phương đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc và lắng đọng. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, hình ảnh ngưỡng cửa đã không còn là một vật vô tri vô giác mà trở thành một biểu tượng đầy ý nghĩa về thời gian và sự trưởng thành.Mỗi lần đọc lại bài thơ,em lại cảm nhận rõ hơn những tâm tư,nỗi niềm của một người con khi nhìn về quá khứ và những đổi thay của cuộc đời. Bài thơ đã gợi lên trong em những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, nơi em đã từng bước đi, lớn lên dưới mái nhà thân yêu. Ngưỡng cửa trở thành nơi chứng kiến những bước chân chập chững đầu tiên, những lần chạy nhảy, vấp ngã rồi lại đứng lên. Và khi lớn, ngưỡng cửa lại là nơi tiễn đưa những người con đi xa,rồi lại là nơi đón họ trở về. Cảm xúc ấy vừa xúc động, bâng khuâng vì sự trôi đi của thời gian, vừa biết ơn, trân trọng những giá trị gia đình và tình yêu thương vô bờ bến.Bài thơ khép lại,nhưng những suy ngẫm về cuộc đời, về sự gắn bó giữa con người và những kỷ vật vẫn còn đọng lại mãi trong tâm tríem
Thông qua nỗi nhớ được khơi dậy từ tiếng gà trưa, nhà thơ Xuân Quỳnh đã miêu tả tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và tình cảm yêu mến, kính trọng bà của một em bé nông thôn. Tình bà cháu thắm thiết đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ hôm nay đang trên đường hành quân chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ
Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu chiến sĩ trên đường ra tiền tuyến gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Tác giả đã sử dụng điệp ngữ " Vì " được nhắc đi nhắc lại ba lần.Để nói lền tình bà cháu đến tình cảm lớn lao như lòng yêu Tổ quốc, yêu xóm làng thân thuộc đều được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày; ấy vậy mà nó lại gây xúc động sâu xa bởi nhà thơ đã nói giúp chúng ta những điều thiêng liêng nhất của tâm hồn.
Chúc bạn học tốt!
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Giọng thơ vẫn nhẹ nhàng nhưng mỗi lần điệp từ vì được lặp lại, dường như cảm xúc lại lắng sâu thêm để tìm về với ngọn nguồn gần gũi và thiêng liêng nhất. Những yếu tố tạo nên động lực của lòng quyết tâm chiến đấu ở người cháu qua từng dòng thơ mỗi lúc một thu hẹp lại về phạm vi: Tổ quốc - xóm làng - người bà - tiếng gà, ổ trứng đã nói lên một quy luật tình cảm vô cùng giản dị: tình cảm gia đình làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương, đất nước và sự thống nhất giữa hai tình cảm cao đẹp này là cội nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người lính. Lòng yêu nước cũng không phải là cái gì xa xôi, lớn lao hay trừu tượng. Đó có thể chỉ là yêu một bếp lửa ấp iu như Bằng Việt; yêu một tiếng gà cục tác, một ổ rơm trứng hồng như Xuân Quỳnh hay yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông như I-li-a Ê-ren-bua chẳng hạn. Nên ở một góc độ nào đó, sự thu hẹp phạm vi ở khổ thơ cuối là cách thức cụ thể hóa lòng yêu nước, làm nổi bật chân lí giản dị: Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. Bài thơ được mở đầu bằng tiếng gà trưa và kết thúc lại trở về với tiếng gà. Nhưng đó không đơn thuần là tiếng gà gọi về tuổi thơ nữa, mà là tiếng gà gọi dậy trong lòng người chiến sĩ bản chất của lòng yêu nước, cái lí do cao cả mà rất đỗi cụ thể, hối thúc bàn chân băng rừng lội suối đấu tranh vì độc lập, thống nhất nước nhà.
Đất nước Việt Nam có rất nhiều vị anh hùng. Trong đó, Võ Thị Sáu chắc hẳn là nữ anh hùng vô cùng nổi tiếng, được mọi người biết đến với lòng dũng cảm, gan dạ.
Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Những câu chuyện kể về chị Võ Thị Sáu vẫn còn được lưu truyền.
Ngay từ khi còn nhỏ, Võ Thị Sáu đã theo anh gia nhập Việt Minh. Chị gia nhập vào đội công an xung phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế. Trong khoảng thời gian này, chị Sáu tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp. Chị còn nhiều lần phát hiện gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động tấn công địch.
Vào tháng 7 năm 1948, Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp. Dù nhiệm vụ gian nan, có phần nguy hiểm nhưng chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị nhận lựu đạn, giấu vào góc chợ gần khán đài từ nửa đêm. Sáng hôm đó, địch lùa người dân vào sân. Xe tỉnh tới, chị tung lựu đạn về phía khán đài, uy hiếp giải tán mít tinh. Hai tổ công an xung phong đồng loạt nổ súng yểm trợ tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh, đồng thời hỗ trợ cho chị Sáu rút an toàn. Người của Việt Minh được bố trí trong đám đông hô to “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn người dân giải tán. Sau nhiệm vụ này, chị Sáu được tuyên dương khen ngợi và giao nhiều nhiệm vụ quan trọng khác.
Sau này, chị bị địch bắt, đày đến nhà tù ở Côn Đảo. Dù chị bị xử tử hình, nhưng vẫn giữ được khí tiết của người cách mạng. Chị Võ Thị Sáu được truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang vào năm 1993.
Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, có những cái tên đã trở thành huyền thoại, là niềm tự hào không chỉ của một quốc gia mà còn là sự ngưỡng mộ của cả thế giới. Một trong những nhân vật kiệt xuất ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một bản anh hùng ca về tinh thần yêu nước và tài năng quân sự thiên bẩm. Thân bài:
Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo giàu lòng yêu nước. Trước khi trở thành một nhà quân sự lỗi lạc, ông từng là một thầy giáo dạy lịch sử, một nhà báo đầy nhiệt huyết. Chính vốn hiểu biết sâu sắc về lịch sử dân tộc đã góp phần hình thành nên tư duy quân sự độc đáo của ông sau này. Tên tuổi của Đại tướng gắn liền với những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam. Năm 1944, ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân đội ta đã từ "gậy tầm vông, súng kíp" lớn mạnh thần tốc, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" vào năm 1954. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội của một nước thuộc địa nhỏ bé đánh bại quân đội của một cường quốc thực dân hùng mạnh. Không dừng lại ở đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tư duy chiến lược sắc sảo, Đại tướng tiếp tục chỉ đạo quân và dân ta thực hiện nhiều chiến dịch lớn, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, thống nhất đất nước. Ông được tôn vinh là một trong những vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại, một chuyên gia về chiến tranh nhân dân. Bên cạnh tài năng quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng: "Dĩ công vi thượng" (đặt lợi ích chung lên trên hết). Ông luôn sống giản dị, gần gũi với nhân dân và các chiến sĩ, đúng như cái tên thân thương mà mọi người vẫn gọi: "Người Anh cả". Kết bài:
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi xa, nhưng tên tuổi và những cống hiến vĩ đại của ông sẽ mãi vẹn nguyên giá trị trong lòng mỗi người dân Việt Nam và lịch sử nhân loại. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, ông không chỉ là một vị anh hùng để tôn thờ, mà còn là một tấm gương sáng về ý chí, sự tự học và lòng yêu nước nồng nàn để chúng ta noi theo trên con đường xây dựng đất nước giàu mạnh.
?????
chatgpt