Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232
Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).
Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).
Mình gợi ý một bài mẫu thuyết minh để đăng báo tường như sau: Trong vô vàn hiện tượng thiên nhiên, có lẽ cầu vồng là một trong những cảnh tượng khiến con người rung động nhất. Sau những cơn mưa rào mùa hạ, trên bầu trời thường xuất hiện một dải sáng nhiều màu uốn cong mềm mại. Đó chính là cầu vồng – món quà rực rỡ mà thiên nhiên ban tặng. Cầu vồng hình thành nhờ hiện tượng khúc xạ và phản xạ ánh sáng Mặt Trời qua các hạt nước mưa li ti trong không khí. Khi ánh sáng trắng đi vào giọt nước, nó bị tách thành nhiều màu khác nhau: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Những màu sắc ấy kết hợp tạo thành chiếc “cung” lung linh treo trên nền trời. Thường thì chúng ta nhìn thấy cầu vồng khi Mặt Trời ở sau lưng và mưa còn rơi ở phía trước. Cầu vồng không chỉ đẹp về mặt thị giác mà còn gợi cho con người nhiều cảm xúc. Với trẻ em, đó là chiếc cầu cổ tích nối đất với trời. Với người lớn, cầu vồng tượng trưng cho niềm tin và hy vọng sau giông bão. Nhiều nền văn hóa còn coi cầu vồng là dấu hiệu của sự may mắn. Ngày nay, các nhà khoa học đã giải thích rõ cơ chế hình thành cầu vồng. Tuy nhiên, vẻ đẹp và sự kỳ diệu của nó vẫn luôn khiến chúng ta trầm trồ. Mỗi lần cầu vồng xuất hiện, nó như nhắc nhở rằng sau mưa trời lại sáng, sau khó khăn con người sẽ tìm thấy niềm tin và ánh sáng mới. Cầu vồng vì thế không chỉ là một hiện tượng tự nhiên, mà còn là biểu tượng của khát vọng, của những gam màu tươi đẹp trong cuộc sống.
HAI KIỂU ÁO
Có ông quan lớn đến hiệu may để may một cái áo thật sang tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luôn cúi quan trên, hách dịch với dân, người thợ may bèn hỏi:
Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ ?
Quan lớn ngạc nhiên:
- Nhà ngươi biết để làm gì ?
Người thợ may đáp:
Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại.
Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo:
Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.
- Một số truyện cười: Kẻ ngốc nhà giàu, Đẽo cày giữa đường, Tam đại con gà, Đi chợ,…
- Kể chuyện: Tam đại con gà
Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “xấu hay làm tốt, dốt hay chơi chữ” đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.
Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.
Một hôm, dạy sách Tam thiên tự , sau chữ “tước” là chim sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cũng khôn, sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khẽ, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn thấp thỏm.
Nhân trong nhà có bàn thờ thổ công, thầy mới đến khấn thầm xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba đài được cả ba.
Thấy vậy, thấy lấy làm sắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:
– Dủ dỉ là con dù dì… Dủ dỉ là con dù dì…
Bố chúng đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng học, ngạc nhiên bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, hỏi thầy:
– Chết chửa! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì”?
Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”, nhưng nhanh trí thầy vội nói gỡ:
– Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy cháu thế là dạy cho cháu nó biết tận tam đại con gà kia.
Chủ nhà càng không hiểu, hỏi:
– Tam đại con gà là nghĩa ra làm sao?
– Thế này nhé! Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà!
cô nhớ tick cho em nhé.
nhớ tick cho em nhé cô.
Câu 1:
Thể thơ : 7 chữ
Câu 2 :
- Những hình ảnh lao động :
+ Giục trâu cày
+ Xới đậu
Câu 3 :
Cuộc sống của con người ở thôn quê rất bình dị , thanh bình
Câu 4 :
Gợi lên phong cảnh vùng quê thật thanh bình , yên ả
Câu 5 :
Tinh thần lạc quan giúp chúng ta thêm tự tin trong cuộc sống . Mọi người đều cần phải có tinh thần lạc quan trong xã hội .
Cachinhanhlaođong
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn (mỗi câu 7 chữ). Câu 2: Những hình ảnh lao động được nhắc đến trong bài thơ: Mặc áo ngắn giục trâu cày. Nàng dâu sớm gieo dưa. Bà lão chiều xới đậu. Câu 3: Nhận xét về cuộc sống và con người nơi thôn quê: Cuộc sống: Thanh bình, giản dị, nhịp sống gắn liền với thiên nhiên và mùa vụ. Dù còn vất vả ("đói cũng khuây") nhưng luôn tràn đầy sức sống. Con người: Cần cù, chịu khó, yêu lao động và có tinh thần lạc quan, biết tìm thấy niềm vui trong những công việc đời thường. Câu 4: Hình ảnh mía "nảy ngọn", khoai đã "xanh cây" gợi lên: Sức sống mơn mởn, sinh sôi nảy nở của vạn vật khi xuân về. Thành quả lao động bước đầu, hứa hẹn một mùa màng no ấm. Sự tươi mới, hy vọng và niềm vui trong tâm hồn người quan sát. Câu 5: Suy nghĩ về tầm quan trọng của tinh thần lạc quan (5 – 7 dòng): Tinh thần lạc quan là "ngọn hải đăng" giúp con người vượt qua những đêm tối của khó khăn và thử thách. Khi đối mặt với nghịch cảnh, sự lạc quan không chỉ giúp ta giữ vững bình tĩnh để tìm ra giải pháp mà còn là liều thuốc tinh thần giảm bớt áp lực, lo âu. Giống như tác giả trong bài thơ, dù thiếu thốn về vật chất ("đói"), nhưng nhờ cái nhìn tích cực, tâm hồn vẫn tìm thấy sự an nhiên và niềm vui ("khuây"). Người lạc quan luôn nhìn thấy cơ hội trong khó khăn, từ đó biến thách thức thành động lực để vươn lên và chạm đến hạnh phúc.
Câu 1.
Bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mai” của Nguyễn Bảo được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Câu 2.
Những hình ảnh lao động trong bài thơ:
→ Những hình ảnh này thể hiện không khí lao động chăm chỉ của người dân quê.
Câu 3.
Qua hình ảnh “nàng dâu”, “bà lão”, có thể thấy cuộc sống ở thôn quê giản dị, cần cù và gắn bó. Từ người trẻ đến người già đều tham gia lao động. Điều đó cho thấy con người nơi đây chăm chỉ, yêu lao động và sống hòa hợp với thiên nhiên.
Câu 4.
Hình ảnh mía “nảy ngọn”, khoai đã “xanh cây” gợi lên sự sinh sôi, phát triển của cây cối vào mùa xuân, báo hiệu một mùa màng tươi tốt, đầy hi vọng.
Câu 5. (5–7 dòng)
Câu thơ “Dẫu chẳng ‘hành môn’ đói cũng khuây” thể hiện tinh thần lạc quan của tác giả trước cuộc sống còn khó khăn. Dù cuộc sống chưa đủ đầy, con người vẫn giữ được niềm vui và sự thanh thản. Tinh thần lạc quan giúp con người có thêm nghị lực để vượt qua thử thách. Khi suy nghĩ tích cực, ta sẽ dễ tìm ra cách giải quyết vấn đề hơn. Vì vậy, trong cuộc sống, mỗi người cần giữ thái độ lạc quan để mạnh mẽ đối diện với khó khăn và tiếp tục cố gắng vươn lên.