(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

ĐẤT NƯỚC
(Trích)

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha!
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!

(Trích Đất nước, Nguyễn Đình Thi, Thơ Việt Nam 1945 − 1960, NXB Văn học, 1960)

* Chú thích:

Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1948 đến 1955. Đây là giai đoạn đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp một giai đoạn mà đất nước ta trải qua những khó khăn, gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng.

Đoạn thơ này thuộc phần đầu của bài thơ Đất nước, sau đoạn hồi tưởng về mùa thu Hà Nội. Đây là đoạn thơ đánh dấu bước chuyển từ cảm xúc hoài niệm sang cảm xúc tự hào về mùa thu mới của dân tộc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Chỉ ra những hình ảnh về đất nước được tác giả khắc hoạ trong văn bản. Nhận xét về ý nghĩa của hình ảnh ấy trong việc thể hiện nội dung của văn bản.

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.

Câu 5. Văn bản gợi liên tưởng đến những thế hệ đã hi sinh để bảo vệ đất nước: Những buổi ngày xưa vọng nói về!. Từ liên tưởng ấy, em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc?

13

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.
Những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản là: “tôi”, “chúng ta”.


Câu 3.
Những hình ảnh về đất nước được khắc họa trong văn bản gồm: núi đồi, rừng tre, trời thu, trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa.
→ Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, gần gũi vừa giàu sức gợi, thể hiện vẻ đẹp tươi sáng, trù phú của đất nước trong mùa thu mới, qua đó bộc lộ niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả đối với Tổ quốc.


Câu 4.
Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong các câu thơ: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta”.
→ Biện pháp này có tác dụng nhấn mạnh ý thức làm chủ đất nước của nhân dân, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào sâu sắc trước nền độc lập, tự do của dân tộc.


Câu 5.
Câu thơ “Những buổi ngày xưa vọng nói về!” gợi nhắc đến những thế hệ cha ông đã hi sinh xương máu để bảo vệ đất nước. Từ đó, em nhận thức rằng thế hệ trẻ hôm nay cần sống có trách nhiệm với Tổ quốc: trân trọng lịch sử, biết ơn những hi sinh của cha ông, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng và sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng. Chỉ khi làm tốt vai trò của mình, thế hệ trẻ mới có thể viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc trong thời đại mới.

10 tháng 2

Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Những đại từ được tác giả sử dụng trong văn bản là: tôi, chúng ta.

Câu 3.
Những hình ảnh về đất nước được khắc họa trong văn bản gồm: trời thu, núi đồi, rừng tre, trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa.
→ Các hình ảnh ấy mang vẻ đẹp rộng lớn, tươi sáng, giàu sức sống, thể hiện một đất nước vừa gần gũi, bình dị vừa trù phú, hùng vĩ; qua đó bộc lộ niềm tự hào, tình yêu tha thiết của tác giả đối với Tổ quốc.

Câu 4.
Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng nổi bật trong câu thơ: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta”.
→ Điệp ngữ “của chúng ta” nhấn mạnh ý thức làm chủ đất nước, khẳng định chủ quyền dân tộc và bộc lộ niềm tự hào, niềm vui lớn lao của nhân dân trong mùa thu độc lập.

Câu 5.
Câu thơ gợi nhắc đến những thế hệ cha ông đã hi sinh vì đất nước khiến em nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là phải sống có lý tưởng, biết trân trọng hòa bình, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, ý thức công dân và sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng. Chỉ khi sống có trách nhiệm với bản thân và đất nước, thế hệ trẻ mới có thể viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc.

10 tháng 2

Câu 1: Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).

Câu 2: Các đại từ được sử dụng: Tôi, chúng ta.

Câu 3: Hình ảnh đất nước và ý nghĩa

- Những hình ảnh về đất nước: Rừng tre phấp phới, trời thu trong biếc, núi rừng, cánh đồng thơm ngát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa.

- Nhận xét ý nghĩa:

+ Tạo nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, rộng lớn, trù phú và tràn đầy sức sống.

+ Thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh về chủ quyền lãnh thổ và vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc sau những ngày dài khói lửa.

Câu 4: Biện pháp tu từ

Em có thể chọn phân tích một trong hai biện pháp tiêu biểu sau:

- Biện pháp Điệp ngữ: "Đây là của chúng ta" (lặp lại 2 lần) kết hợp với điệp từ "Những".

+ Tác dụng: Nhấn mạnh ý thức chủ quyền, khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ đất nước của nhân dân. Đồng thời tạo nhịp điệu dồn dập, hào hứng, thể hiện niềm vui sướng vô biên của người chiến thắng.

- Biện pháp Nhân hóa: "Trời thu thay áo mới", "Trong biếc nói cười thiết tha".

+ Tác dụng: Khiến thiên nhiên trở nên có tâm hồn, sinh động như con người. Nó phản chiếu niềm vui reo ca, sự thay đổi kỳ diệu của đất nước trong mùa thu cách mạng.

Câu 5: Suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ

Hình ảnh "Những buổi ngày xưa vọng nói về" gợi nhắc về truyền thống yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của cha ông. Từ đó, thế hệ trẻ hôm nay cần có trách nhiệm:

+ Ghi nhớ và tri ân: Luôn trân trọng lịch sử, biết ơn những thế hệ đi trước đã đánh đổi xương máu cho nền độc lập.

+ Học tập và rèn luyện: Nỗ lực trau dồi tri thức, kỹ năng để xây dựng đất nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

+ Bảo vệ chủ quyền: Sẵn sàng cống hiến và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập.

+ Sống có lý tưởng: Tiếp nối tinh thần "quật khởi" của cha ông bằng những hành động thiết thực, sáng tạo trong lao động và đời sống.

16 tháng 3

Đâđqoiâkkkâjâjâjiwuwhebwbbhwhhwywywyyâywyyrfgiihiygnjjhgxxbnnkooouơưwwddxccvvvhehhdhehrhehejejejehehhrhrhrhffhhfehheheôjhehehgeôêêtăyâywyeyegegehehehehhehehehdvheiygjêieygitfgkugvhjjrjrjjrjrjtrvrnkijjjjjbbbbbjjhvvjjhjjhcv vc vjv

17 tháng 3

3568685

Câu 1. Thể thơ: Tự do. ​Câu 2. Các đại từ được sử dụng: Tôi, chúng ta. ​Câu 3. Hình ảnh về đất nước và ý nghĩa: ​Các hình ảnh: Trời xanh, núi rừng, những cánh đồng thơm ngát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa. ​Ý nghĩa: Khắc họa một không gian đất nước bao la, tươi đẹp, giàu sức sống và trù phú. Qua đó thể hiện niềm tự hào, ý thức làm chủ đất nước của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến. ​Câu 4. Phân tích một biện pháp tu từ: ​Biện pháp: Liệt kê kết hợp với điệp từ "đây là của chúng ta". ​Tác dụng: Nhấn mạnh sự giàu đẹp của quê hương và khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ, niềm tự hào kiêu hãnh của con người đối với lãnh thổ dân tộc sau những năm tháng đấu tranh gian khổ. ​Câu 5. Trách nhiệm của thế hệ trẻ: Từ lời nhắc nhở về sự hi sinh của cha ông trong câu thơ, thế hệ trẻ hôm nay cần: ​Trân trọng và biết ơn thành quả độc lập, tự do mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi bằng xương máu. ​Nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. ​Sẵn sàng bảo vệ chủ quyền và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc để viết tiếp những trang sử hào hùng trong thời đại mới.

20 tháng 3

Câu 1: Bài thơ thuộc thể loại thơ tự do

Câu 2 : Hai đại từ là " tôi" và " ta"

Câu 1

Thơ tự do

Câu 2 chỉ ra những đại từ đc tác giả SD là tôi, chúng tôi


22 tháng 3

Câu 1 : Thơ tự do

Câu 2 : Tôi,chúng ta

Câu 3

24 tháng 3

Bài thơ thuộc thể thơ: tự do

25 tháng 3

Câu 1 thơ tự do

Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là:"Cá đâu đớp động dưới chân bèo,Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."Hai câu thơ gợi lên không gian mùa thu vô cùng yên ả, tĩnh lặng và đậm chất làng quê Bắc Bộ. Hình ảnh "cá đâu đớp động" dưới làn nước tưởng như phẳng lặng làm hiện rõ sự tĩnh mịch đến mức chỉ một âm thanh nhỏ cũng trở nên nổi bật....
Đọc tiếp

Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là:
"Cá đâu đớp động dưới chân bèo,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Hai câu thơ gợi lên không gian mùa thu vô cùng yên ả, tĩnh lặng và đậm chất làng quê Bắc Bộ. Hình ảnh "cá đâu đớp động" dưới làn nước tưởng như phẳng lặng làm hiện rõ sự tĩnh mịch đến mức chỉ một âm thanh nhỏ cũng trở nên nổi bật. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi tả cái tâm lặng lẽ, ung dung của nhà thơ trước thiên nhiên. Còn câu "Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo" lại giàu tính tạo hình và âm thanh. Từ “vèo” là một từ láy tượng thanh gợi chuyển động nhẹ nhàng, nhanh nhưng không ồn ào, càng làm nổi bật cái yên tĩnh của không gian thu. Hai câu thơ thể hiện rõ nét bút tài hoa của Nguyễn Khuyến: tả cảnh mà ngụ tình, giản dị mà sâu sắc. Qua đó, em cảm nhận được một tâm hồn yêu thiên nhiên, sống chậm rãi và đầy chất thơ của nhà thơ xưa.

0
Trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."Hai câu thơ gợi ra một khung cảnh mùa thu thanh vắng, nhẹ nhàng mà đầy sâu lắng. Hình ảnh “lá vàng” bay “khẽ” trước gió gợi cảm giác thời gian trôi chậm, không gian trở nên tĩnh lặng, như thể cả đất trời đang cùng lắng nghe một hơi...
Đọc tiếp

Trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:
"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."
Hai câu thơ gợi ra một khung cảnh mùa thu thanh vắng, nhẹ nhàng mà đầy sâu lắng. Hình ảnh “lá vàng” bay “khẽ” trước gió gợi cảm giác thời gian trôi chậm, không gian trở nên tĩnh lặng, như thể cả đất trời đang cùng lắng nghe một hơi thở rất nhẹ của thiên nhiên. Từ lá rơi đến màu sắc “bờ xanh” và “bãi vàng”, tất cả như được hòa quyện trong một bức tranh thu nên thơ, trang nhã. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi tình – đó là nỗi tĩnh lặng, cô đơn mà cũng đầy thanh thản của một tâm hồn yêu thiên nhiên, sống ẩn dật. Nguyễn Khuyến không miêu tả cảnh bằng âm thanh ồn ào, mà lại dùng sự lặng lẽ để khiến bức tranh trở nên sâu sắc hơn. Chính sự giản dị mà tinh tế trong cách dùng từ, chọn hình ảnh đã khiến hai câu thơ trở thành điểm nhấn đặc biệt, làm nổi bật vẻ đẹp thu của làng quê.

0
26 tháng 9 2025

Mình gợi ý một bài mẫu thuyết minh để đăng báo tường như sau: Trong vô vàn hiện tượng thiên nhiên, có lẽ cầu vồng là một trong những cảnh tượng khiến con người rung động nhất. Sau những cơn mưa rào mùa hạ, trên bầu trời thường xuất hiện một dải sáng nhiều màu uốn cong mềm mại. Đó chính là cầu vồng – món quà rực rỡ mà thiên nhiên ban tặng. Cầu vồng hình thành nhờ hiện tượng khúc xạ và phản xạ ánh sáng Mặt Trời qua các hạt nước mưa li ti trong không khí. Khi ánh sáng trắng đi vào giọt nước, nó bị tách thành nhiều màu khác nhau: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Những màu sắc ấy kết hợp tạo thành chiếc “cung” lung linh treo trên nền trời. Thường thì chúng ta nhìn thấy cầu vồng khi Mặt Trời ở sau lưng và mưa còn rơi ở phía trước. Cầu vồng không chỉ đẹp về mặt thị giác mà còn gợi cho con người nhiều cảm xúc. Với trẻ em, đó là chiếc cầu cổ tích nối đất với trời. Với người lớn, cầu vồng tượng trưng cho niềm tin và hy vọng sau giông bão. Nhiều nền văn hóa còn coi cầu vồng là dấu hiệu của sự may mắn. Ngày nay, các nhà khoa học đã giải thích rõ cơ chế hình thành cầu vồng. Tuy nhiên, vẻ đẹp và sự kỳ diệu của nó vẫn luôn khiến chúng ta trầm trồ. Mỗi lần cầu vồng xuất hiện, nó như nhắc nhở rằng sau mưa trời lại sáng, sau khó khăn con người sẽ tìm thấy niềm tin và ánh sáng mới. Cầu vồng vì thế không chỉ là một hiện tượng tự nhiên, mà còn là biểu tượng của khát vọng, của những gam màu tươi đẹp trong cuộc sống.

27 tháng 9 2025

Ny mình là ..

31 tháng 8 2016
  • Bài thơ "Tre Việt Nam" được Nguyễn Duy sáng tác vào những năm 1971-1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, phải tập trung sức người, sức của, ý chí và tinh thần, lực lượng của toàn dân tộc để chiến đấu, giành thắng lợi cuối cùng.
  • Tác giả mở đầu bài thơ như một câu hỏi, gợi lại "chuyện ngày xưa" trong cổ tích để khẳng định cây tre đã gắn bó bao đời với con người Việt Nam: 

"Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh"

  • Trong thế giới tự nhiên bao la có muôn vàn loài cây, nhưng có lẽ chỉ có cây tre là gần gũi, thân thuộc nhất đối với con người. Tre gắn bó, hữu ích và trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam tự bao đời, loài tre mộc mạc, bình dị mà có sức sống mãnh liệt: 

"Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi"

  • Vượt lên những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đất sỏi, đất vôi, đất nghèo, đất bạc màu... tre vẫn thích nghi để xanh tươi, sinh sôi trường tồn, và dựng nên thành luỹ vững bền không sức mạnh nào có thể tàn phá, huỷ diệt. Đây là nét đặc trưng tiêu biểu nhất về phẩm chất của con người Việt Nam: 

"Ở đâu tre cũng xanh tươi
Dù cho đất sỏi đất vôi bạc màu"

  • Ý khái quát: Chọn hình tượng cây tre làm đối tượng phản ánh, qua đó khái quát nên những phẩm chất tốt đẹp, quý báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam được chắt lọc, kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử. Đối lập với sự nhỏ bé mong manh về thể chất, vật chất là vẻ đẹp tâm hồn, sức mạnh tinh thần. Không chỉ dừng lại ở đó, đoạn thơ đã thể hiện hình ảnh giản dị mộc mạc mà cụ thể sinh động của cây tre mang ý nghĩa biểu trưng cho tính cách Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam...
31 tháng 8 2016

"Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu!"

   Sau khi đọc xong bài thơ " Tre xanh " cảm nhận ban đầu của em là những lũy tre xanh, tre gắn bó với con người VN từ rất đời nay rồi. Tre gắn bó với người nông dân gắn bó với những đứa trẻ. Tre gắn các đôi trai gái với nhau, tre gắn bó từ lúc thuở bé đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Tre xanh là biểu tượng sức mạnh của dân tộc VN. Đi đâu ta cũng thấy những hàng tre xanh mướt. Nhưng tre ở làng quê bao giờ cũng đẹp nhất, tre phủ bóng sân đình. Tre đẹp lắm, đẹp đến mức người nào đến thăm VN cũng phải đến những làng quê với cánh đồng lúa chín với cây đa có tự lâu đời. Truyện  Thánh Gióng ai cũng đã nghe qua tre cùng dân đánh giặc cùng dân giữ nước. Tre xanh của Nguyễn Du là một tác phẩm hay và mang một ý nghĩa sâu sắc. 

Tre còn là biểu tượng những đức tính tốt của người Việt. Nét đẹp người con gái nông thôn ngồi bên những lũy tre xanh, em thấy hình ảnh đó là một vẻ đẹp tự nhiên của người VN. Tre chỉ đẹp khi ở bên cạnh người VN

 Trẻ với em là người bạn gắn bó từ thuở bé. Trẻ chơi với em, em cùng em tới trường. Em yêu lũy tre trường em, nó đẹp và mang những ý nghĩa đẹp đẽ của người VN.  

26 tháng 12 2018

“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta, nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên

Biểu cảm

Câu 2: Tìm các từ thuộc trường từ vựng " phong cảnh đất nước" trong đoạn thơ.

Trời xanh, núi rừnh, cánh đồng, dòng sông

Câu 4: Đoạn thơ trên gợi cho em tình cảm gì ?

Tình cảm yêu, tự hào về quê hương, đất nước

5 tháng 11 2018

câu 1: mk vừa ms làm nhá

câu 2:

các từ thuộc trường từ vựng"phong cảnh đất nước" trong đoạn thơ:

-trời xanh

-núi rừng

-cánh đồng

-ngả đường

-dòng sông

câu 3:

cách nêu nd:

-Đoạn trích trên xoay quanh nvật...., bộc lộ cảm xúc của ai vs đối tượng nào

-đối tượng đó có đặc điểm gì?ntn?

-thái độ, tinh cảm của tác giả với đối tượng

-nhắc nhở ta bài học nào

câu 4

gợi lên tình yêu quê hương, đất nước, phong cảnh thiên nhiên phong phú của đât nước

Đợi mk trả lời câu 3 nhá

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

1
8 tháng 9 2025

Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

NHANH GIÚP E VỚI Ạ!!!!<3

5
8 tháng 9 2025

Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).

8 tháng 9 2025

Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).

Kính thưa thầy cô và các bạn!Hôm nay, em rất vui khi được chia sẻ với mọi người về một truyện lịch sử mà em vô cùng yêu thích, đó là tác phẩm “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Đây là một tác phẩm không chỉ hấp dẫn ở nội dung mà còn để lại trong lòng em nhiều cảm xúc sâu lắng.Trước hết, em xin giới thiệu chung về cuốn truyện.“Lá cờ thêu sáu chữ...
Đọc tiếp

Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay, em rất vui khi được chia sẻ với mọi người về một truyện lịch sử mà em vô cùng yêu thích, đó là tác phẩm “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Đây là một tác phẩm không chỉ hấp dẫn ở nội dung mà còn để lại trong lòng em nhiều cảm xúc sâu lắng.

Trước hết, em xin giới thiệu chung về cuốn truyện.
“Lá cờ thêu sáu chữ vàng” là truyện ngắn viết về một nhân vật tuổi còn rất trẻ nhưng đã mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn – đó chính là Trần Quốc Toản. Truyện thuộc thể loại truyện lịch sử, tái hiện lại một sự kiện quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thời nhà Trần.

Tiếp theo là nội dung chính của cuốn truyện.
Câu chuyện kể về việc Trần Quốc Toản – một cậu thiếu niên mới 16 tuổi – tha thiết muốn được tham gia bàn việc nước nhưng bị vua Trần Nhân Tông từ chối vì còn quá nhỏ tuổi. Điều đó khiến Quốc Toản vô cùng uất ức. Từ nỗi uất ức ấy, cậu quyết tâm tập hợp gia nô, rèn vũ khí và chuẩn bị chiến đấu. Lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” đã trở thành biểu tượng cho ý chí và lòng trung nghĩa sắt son. Khi cuộc chiến nổ ra, Trần Quốc Toản đã anh dũng xông pha trận mạc, lập được nhiều chiến công, khiến quân giặc khiếp sợ.

Về mặt nghệ thuật, tác phẩm rất thành công khi khắc họa được tâm lý và khí phách của một thiếu niên anh hùng. Tác giả xây dựng tình huống truyện hấp dẫn, từ đó làm nổi bật tinh thần yêu nước, căm thù giặc cháy bỏng. Ngôn ngữ giản dị mà giàu cảm xúc, hình ảnh lá cờ sáu chữ vàng mang tính biểu tượng cao, trở thành điểm sáng không thể nào quên trong lịch sử và văn học.

Suy nghĩ của bản thân em về tác phẩm này là: truyện không chỉ giúp em hiểu thêm về một nhân vật lịch sử đáng tự hào mà còn khơi dậy trong em tình yêu quê hương, đất nước. Qua câu chuyện, em thấy mình cần sống có hoài bão, có trách nhiệm, biết dấn thân để góp phần nhỏ bé vào công việc chung của tập thể, của cộng đồng. Hình tượng Trần Quốc Toản nhắc nhở thế hệ trẻ chúng em hôm nay phải giữ vững lý tưởng và nuôi dưỡng tinh thần dũng cảm.

Kính thưa thầy cô và các bạn!
Bài chia sẻ của em đến đây là hết. Em xin chân thành cảm ơn sự lắng nghe của mọi người và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để phần thuyết trình của em được hoàn thiện hơn.

0