Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Nguyễn Ánh có công đối với nhà Nguyễn và có tội với nhà Tây Sơn, còn việc rước voi dày mả tổ thì đúng là Nguyễn Ánh sai nhưng vì thế mới có việc để phát dương quang đại ánh hào quang của Nguyễn Huệ. Xét cho cùng việc Nguyễn Ánh thay thế nà Tây Sơn thì xét về tình thì đúng là làm cho người Việt khó chịu nhưng về lý thì việc Nguyễn Ánh lãnh đạo thì tốt hơn thằng ku Quang Tỏan nhiều
| Giong nhau | Khác nhau |
Về cơ sở kinh tế đều là nông nghiệp đóng kín trong lãnh địa | Thời kì hình thành |
| Về thế chế chính trị (quân chủ) | Thời kì phát triển |
| Đều có 2 giai cấp cơ bản | Giai cấp cơ bản |
| Đều có thời kì khủng hoảng ,thời kì phát triển và thời kì hình thành | Thời kì khủng hoảng |
+Kinh tế - xã hội:
- Giai cấp thống trị phương Đông là địa chủ, quý tộc, ở phương Tây thế lực thống trị gồm quý tộc, tăng lữ, lãnh chúa. Chúng câu kết với nhau rất chặt và bóc lột nông nô tàn bạo và khắc nghiệt hơn so với phương Đông.
- Giai cấp bị trị: Nông dân tá điền (phương Đông) so với nông nô (phương Tây) có phần dễ chịu và ít khắt khe hơn.
- Mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong chế độ phong kiến phương tây nặng nề và gay gắt hơn phương Đông. Điều này lí giải sự sụp đổ sớm của chế độ phong kiến phương Tây (tồn tại 1o thế kỉ) và sự tồn tại lâu dài của chế độ PK phương Đông (hơn 2500 năm).
+Chính trị và tư tưởng.
Chế độ quân chủ phương Đông xuất hiện sớm hơn ở phương Tây khoảng 1000 năm.
Sự chuyển biến từ chế độ phân quyền sang tập quyền ở phương Đông (thời Tần Thủy Hoàng) và A-sô-ka diễn ra sớm. Trong khi đó ở phương tây sự tập quyền diễn ra chậm trễ (thế kỉ XIV) và nhà vua được sự giúp đỡ của thị dân mới dẹp được sự cát cứ của các lãnh chúa.
Cơ sở lí luận chio chế độ phong kiến phương Đông và phương tây là các tôn giáo có sẵn từ trước. tuy nhiên, sự can thiệp của tầng lớp tăng lữ phương tây vào hệ thống chính trị là rõ ràng và chặt chẽ hơn. Trong khi đó, ở phương Đông tầng lớp này không mang tính công khai và rất ít nơi trở thành giai cấp thống trị.
1) Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu
- Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, Tây Âu rơi vào thời kỳ hỗn loạn, dân cư sống phân tán, các lãnh chúa địa phương dần nắm quyền.
- Các vua và lãnh chúa phong kiến trao đất đai cho các quý tộc, hiệp sĩ để đổi lấy sự trung thành và quân dịch.
- Xã hội phong kiến được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa chủ đất và thần dân, phân chia thành các tầng lớp: vua, quý tộc, nông dân.
- Các lâu đài, pháo đài được xây dựng để bảo vệ lãnh thổ, tăng quyền lực địa phương.
2) Hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí lớn ở Tây Âu
- Mở rộng vùng ảnh hưởng và giao thương với các châu lục khác, đặc biệt là châu Á và châu Mỹ.
- Kinh tế phát triển mạnh nhờ buôn bán hàng hóa, khai thác tài nguyên mới.
- Tăng cường quyền lực của các quốc gia Tây Âu, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản sơ khai.
- Gây ra các cuộc xung đột, cạnh tranh giữa các nước châu Âu trong việc chiếm đoạt thuộc địa.
- Thúc đẩy sự trao đổi văn hóa, khoa học và kỹ thuật giữa các khu vực trên thế giới.
1.
Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu diễn ra từ thế kỷ III đến thế kỷ IX trên cơ sở sự sụp đổ của đế chế La Mã và sự tan rã của các bộ lạc Giéc-man. Cụ thể, đế chế La Mã suy yếu, sau đó các bộ tộc Giéc-man tràn vào, lập vương quốc mới và xóa sổ hoàn toàn đế chế vào năm 476. Sự hình thành chế độ phong kiến được đánh dấu bằng việc ra đời các giai cấp lãnh chúa phong kiến và nông nô, cùng với đơn vị kinh tế - chính trị cơ bản là lãnh địa phong kiến.
2.
Các cuộc phát kiến địa lý đã mang lại hệ quả to lớn cho Tây Âu, bao gồm sự mở rộng kiến thức về Trái Đất và tăng cường giao lưu văn hóa, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ thương nghiệp, mở rộng thị trường và là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản thông qua quá trình tích lũy vốn, cướp bóc tài nguyên và bóc lột sức lao động.
Nguyên nhân thắng lợi:
+ Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, quyết tâm giành lại độc lập tự do cho đất nước.
+ Tất cả các tầng lớp nhân dân không phân biệt già trẻ, Nam nữ, các thành phần dân tộc đều đoàn kết đánh giặc, hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa, gia nhập lực lượng vũ trang, tự vũ trang,ủng hộ, tiếp tế lương thực cho nghĩa quân.
+ Nhờ đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu, đứng đầu là Lê Lợi, Nguyễn Trãi.
Ý nghĩa lịch sử:
+ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã kết thúc 20 năm đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh.
+ Mở ra một thời kì phát triển mới của dân tộc thời Lê sơ.
Bà Nguyễn Thị Bình (Madame Bình) được báo chí phương Tây mệnh danh là "người phụ nữ khiêu vũ giữa bầy sói" (hay "Bông hồng thép") nhờ bản lĩnh ngoại giao xuất chúng tại Hội nghị Paris (1968–1973).
Bà Nguyễn Thị Bình (Madame Bình) là nhà ngoại giao lỗi lạc, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nổi tiếng với biệt danh "bông hồng khiêu vũ giữa bầy sói" tại Hội nghị Paris (1968-1973). Bà bản lĩnh, thông minh đấu tranh trực diện với Mỹ, góp phần quan trọng ký kết Hiệp định Paris 1973, đòi lại độc lập.