Chuyện...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

Chuyện ông Hoàng Cầm

Minh Chuyên

        Có một sự kiện đã theo hàng triệu người lính ra trận trong suốt những năm chống Pháp, chống Mỹ. Nó trở nên nổi tiếng và thân thuộc với tất cả các đơn vị quân đội. Đó là sự kiện bếp Hoàng Cầm.

        Cái bếp mang tên người sinh ra nó là một anh bộ đội tên là Hoàng Cầm, quê ở tỉnh Nam Định, nguyên chiến sĩ nuôi quân Sư đoàn 308, Đại đoàn Quân Tiên phong. Cái bếp kì diệu ấy đã cùng các đơn vị bộ đội tham gia chiến dịch Biên giới, Hoà Bình, Điện Biên Phủ và sau đó tiếp tục cùng các đơn vị thời chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Bếp Hoàng Cầm là một yếu tố tạo nên sự bất ngờ, bí mật cho bộ đội chiến thắng và biết bao người lính nhờ nó mà không phải đổ máu, hi sinh. Thời gian và năm tháng qua đi, nhiều người đã quên tên anh bộ đội Hoàng Cầm mà chỉ còn nhớ tên cái bếp Hoàng Cầm của anh. Cái bếp đã ăn sâu vào tiềm thức của bao người […].

        Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên ở làng Cát Nội, xã Trực Đại, tỉnh Nam Định. Sau này gia đình chuyển lên sinh sống tại làng Đồi Mây, nay là thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 2 năm 1946, anh thanh niên Hoàng Cầm tình nguyện lên đường vào bộ đội chống Pháp. Trước khi vào quân ngũ, Hoàng Cầm có gần một năm đi làm thuê (làm đầu bếp) cho một gia đình ở Hà Nội. Có lẽ vì thế, Hoàng Cầm được cử làm chiến sĩ nuôi quân thuộc đơn vị quân y tiền phương Sư đoàn 308. Là anh nuôi, Hoàng Cầm luôn tận tâm, tận lực với công việc nấu ăn phục vụ bộ đội nhiều chiến dịch. Qua chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chiến dịch Hoà Bình năm 1952, Hoàng Cầm nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bộ đội ta chiến đấu, hi sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hi sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn. Khói lửa từ những cái bếp nuôi quân bốc lên, máy bay địch phát hiện đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của Hoàng Cầm và nhiều đơn vị khác phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi máy bay địch tới thì dập lửa, dội nước, nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp tai hoạ. Đang đun, dập lửa, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn ban đêm, ban ngày cơm nguội lạnh. Bộ đội ăn cơm sống, khê, nguội lạnh, không đảm bảo sức khoẻ. Hoàng Cầm nhớ một lần, đồng chí thủ trưởng nhắc tổ quân nuôi quân:

        – Các đồng chí cố gắng xem có cách nào khắc phục cái bếp. Để anh em thương vong, chết chóc ở ngay nơi đóng quân và nơi ăn uống khổ cực là mình có tội với nhân dân, với bộ đội đấy.

        Đúng! Để bộ đội chết vì nấu ăn là mình có tội. Hoàng Cầm trăn trở ngày đêm suy nghĩ. Có buổi anh ngồi hàng giờ đồng hồ dưới tán cây rừng quan sát anh em nhóm bếp và đăm đăm nhìn ngọn lửa, nhìn làn khói xanh cuồn cuộn bay lên.

        Trong bản tự thuật quá trình mày mò, sáng chế kiểu bếp mới, Hoàng Cầm kể: “Một đêm nằm nghĩ miên man, tôi chợt nhớ đến cách nấu cám lợn ở vùng Nam Định quê tôi. Hồi đó bếp thường đắp bằng đất sét kín chung quanh chỉ để một lỗ thoát hơi phía sau, nên lửa cháy tập trung, ít bốc ra ngoài. Nhưng làm thế nào để bếp đun không có khói? Suy nghĩ mãi đến hơn nửa tháng sau, tôi mới nghĩ ra cảnh mình từng đi hun chuột ngoài đồng. Đào cửa hang sâu xuống đất, chất rạ đốt, hầu như khói hút cả vào trong hang. Tôi mừng quá, nếu áp dụng cải tiến thành bếp nuôi quân kiểu mới sẽ hạn chế được khói và lửa bốc cao.”.

        Từ cơ sở đó, Hoàng Cầm miệt mài ngày đêm nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp. Ngày ngày anh tranh thủ trưa, tối, có khi cả buổi vác xẻng, đeo xoong nồi, trốn vào rừng đào bếp thử nghiệm. Không biết có thành công hay thất bại nhưng sợ anh em tốn sức, vất vả, anh giấu kín mọi người. Anh đào hàng chục cái bếp khác nhau, có nhiều nhánh dẫn khói như hang chuột. Làm xong anh đặt nồi lên từng cái bếp chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói ra vẫn phảng phất bay lên. Lại hì hục đào hàng chục cái bếp khác nữa. Lần này Hoàng Cầm đào các đường dẫn khói chẽ ra nhiều nhánh và dài gấp đôi, trên rãnh dẫn khói rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu, trên lợp nilon hoặc lá vừa để đồ vừa che ánh lửa và có hầm chứa khói, hút lửa mạnh hơn.

        Trong bản tự thuật, Hoàng Cầm viết: “Lần này, bếp có nhiều ưu điểm, đã giấu kín được ánh lửa, nhưng khói trên ống vẫn là lảng bảng bay lên ngọn cây. Nghĩ mãi, tôi chợt nhớ ngày ở quê, chiều chiều nấu cơm, gặp trời mưa, khói chui qua mái gianh ướt, bốc lên nhè nhẹ như sương mù. Tìm ra rồi, sướng quá, tôi lật hết cành cây khô lát trên đường ống dẫn rồi dùng cây chuối rừng chẻ ra lát lên trên, phủ đất san phẳng và dùng nước tưới đều lên rãnh dẫn khói. Quả nhiên, khi đun khói cứ là là, toả đều mặt đất, không bốc lên cao nữa.”.

        [...] Cái bếp do Hoàng Cầm sáng tạo rất phù hợp với bộ đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối, không sợ máy bay địch phát hiện. Bộ đội có cơm nóng, canh ngọt. Mỗi khi ém sát địch, anh nuôi vẫn nổi lửa đêm ngày.

        Tháng 10 năm 1952, đơn vị quyết định cái bếp được mang tên người chiến sĩ đã sáng tạo ra nó: bếp Hoàng Cầm. Anh chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 3. Và năm đó, Hoàng Cầm được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Bếp Hoàng Cầm được phổ biến áp dụng trong toàn quân.

        Từ đó, cái bếp theo bộ đội hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, bếp Hoàng Cầm tiếp tục là bạn đồng hành của bộ đội nuôi quân suốt những năm chống Mỹ và nó đã đi vào lời bài hát làm cả triệu anh bộ đội xao xuyến khôn nguôi: “Nổi lửa lên em, đánh Mỹ đêm ngày… Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước. Hơi bếp Hoàng Cầm sưởi ấm khắp nơi nơi…” […].

        Dẫu mai này, có thể người ta lại quên cái tên người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm. Nhưng cái bếp của ông, cái bếp đã đi vào lịch sử hay cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời.

Hà Nội – 2003

(Người lang thang không cô đơn, truyện kí, NXB Văn học, Hà Nội, 2018, trang 152 – 163)

Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Văn bản kể về sự việc chính nào?

Câu 3. Phát biểu cảm hứng chủ đạo được tác giả thể hiện trong văn bản.

Câu 4. Nội dung của văn bản này là gì?

Câu 5. Anh/ chị thấy ấn tượng với chi tiết nào trong văn bản? Vì sao? 

257
6 tháng 2

Câu 1: Các phương thức biểu đạt được sử dụng: Tự sự kết hợp với Miêu tả và Biểu cảm. (Trong đó tự sự là phương thức chính).

Câu 2: Sự việc chính của văn bản

Văn bản kể về quá trình anh chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm trăn trở, mày mò nghiên cứu và sáng chế ra kiểu bếp không khói (sau này mang tên bếp Hoàng Cầm) để phục vụ bộ đội nấu ăn bí mật, an toàn trong các cuộc kháng chiến.

Câu 3: Cảm hứng chủ đạo

Cảm hứng chủ đạo của văn bản là sự ngợi ca, trân trọng và biết ơn đối với trí tuệ, sự tận tâm và đức hy sinh của những con người bình thường trong chiến tranh. Tác giả thể hiện niềm tự hào về những sáng tạo mang tính lịch sử, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.

Câu 4: Nội dung của văn bản

Văn bản thuật lại cuộc đời và hành trình sáng tạo ra chiếc bếp không khói của chiến sĩ Hoàng Cầm. Qua đó, tác giả làm nổi bật phẩm chất của người lính bộ đội Cụ Hồ: luôn hết lòng vì đồng đội, sẵn sàng vượt qua khó khăn bằng sự sáng tạo và lòng yêu nước. Đồng thời, văn bản khẳng định giá trị bất tử của "bếp Hoàng Cầm" trong lịch sử giữ nước.

Câu 5: Chi tiết ấn tượng (Gợi ý)

- Chi tiết: Hình ảnh Hoàng Cầm trốn vào rừng, một mình vác xẻng, đeo xoong nồi để "đào hàng chục cái bếp khác nhau", thử đi thử lại nhiều lần vì sợ anh em tốn sức nếu mình thất bại.

- Vì sao: Chi tiết này thể hiện sâu sắc đức tính khiêm nhường và lòng nhân hậu của ông. Nó cho thấy sự sáng tạo không chỉ đến từ trí thông minh mà còn bắt nguồn từ tình yêu thương đồng đội cháy bỏng – không muốn thấy anh em phải đổ máu hay ăn cơm khê, sống. Nó chứng minh rằng những điều vĩ đại thường bắt đầu từ những nỗ lực thầm lặng và bền bỉ nhất.

câu 1: những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: tự sự miêu tả biểu cảm và thuyết minh

câu2: sự việc chính là người chiến sĩ hoàng cầm sáng tạo ra loại bếp mới"bếp không khói" để phục vụ cho đồng đội để phục vụ cho bộ đội trong thời kì chiến tranh

câu 3: thông qua việc thuật lại quá trình kiên trì và nỗ lực của người chiến sĩ hoàng cầm tác giả nhằm ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước kiên trì và đầy sáng tạo

câu 4: văn bản chuyện ông hoàng cầm nhằm ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc sự sáng tạo tính kiên trì và sự cống hiến thầm lặng của người chiến sĩ nuôi quân hoàng cầm đối với đất nước

câu 5: chi tiết ấn tựơng nhất là hinh ảnh người chiến sĩ hoàng cầm miệt mài kiên trì thử nghiệm để tạo ra một chiếc bếp làm tan loãng khói

lí giải: chi tiết này cho thấy sự tận tâm và ý chí vượt khó của người lính trong hoàn cảnh gian khổ của cuộc chiến họ vẫn luôn chăn trở tìm ra giải pháp tốiưu nhất để vừa đảm bảo cơm nóng cho đồng đội vừa giữ bí mật an toàn trước kẻ thù


19 tháng 2

Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính là tự sự, kết hợp với biểu cảm và miêu tả

Câu 2 : sự việc chính

Văn bản kể về câu chuyện của người chiến sĩ nuôi quân và sự ra đời, ý nghĩa lịch sử to lớn của loại bếp dã chiến mang tên ông ( bếp Hoàng Cầm)

Câu 3 : Cảm hứng chủ đạo là niềm tự hào, sự tri ân sâu sắc đối với những đóng góp thầm lặng nhưng vĩ đại của người chiến sĩ nuôi quân, cũng như tôn vinh sự sáng tạo độc đáo của dân tộc trong kháng chiến.

Câu 4 : Nội dung văn bản

Văn bản tôn vinh chiếc bếp Hoàng Cầm huyền thoại, biểu tượng của sự thông minh, sáng tạo và ý chí vượt khó của quân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Câu 5 : chi tiết ấn tượng

là hình ảnh bếp Hoàng Cầm có thể " sửa ấm khắp nơi " và trở thành " cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời ". Vì chi tiết này khẳng định sự trường tồn, giá trị lịch sử và nhân văn cao đẹp của một sáng tạo giản dị nhưng đã đóng góp to lớn cho chiến thắng của dân tộc.













1 tháng 3

Câu 1 (0,5 điểm).

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2 (0,5 điểm).

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3 (1,0 điểm).

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4 (1,0 điểm).

Nội dung của văn bản: Văn bản

Chuyện ông Hoàng Cầm

ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

Câu 5 (1,0 điểm).

HS chỉ ra chi tiết mà các em ấn tượng và đưa ra được lí giải hợp lí.

1 tháng 3

Câu 1: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Tự sự kết hợp với biểu cảm và nghị luận.

Câu 2: Văn bản kể về sự việc chính: Những trải nghiệm, quan sát và suy ngẫm của tác giả về cuộc sống của những người sống cuộc đời "lang thang" nhưng mang trong mình tâm thế tự tại, không hề cô độc giữa dòng đời.

Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của tác giả:

  • Sự trân trọng và thấu cảm đối với những vẻ đẹp khuất lấp trong tâm hồn con người.
  • Ca ngợi sự tự do, bản lĩnh sống và cái nhìn lạc quan của những con người dù ở vị trí khiêm nhường trong xã hội.

Câu 4: Nội dung chính của văn bản: Văn bản khắc họa chân dung và lối sống của những con người "lang thang", qua đó khẳng định giá trị của sự độc lập trong tâm hồn. Sự cô đơn không nằm ở việc một mình, mà nằm ở việc thiếu vắng sự kết nối với chính mình và thế giới xung quanh.

Câu 5: (Câu hỏi mở, bạn có thể chọn một chi tiết bất kỳ):

  • Chi tiết ấn tượng: Hình ảnh người lang thang vẫn giữ được nét thanh thản, tự tại.
  • Vì sao: Chi tiết này gợi cho em suy nghĩ về việc hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất mà đến từ sự bình yên trong tâm trí. Nó nhắc nhở chúng ta đừng quá lệ thuộc vào ngoại cảnh để tìm kiếm niềm vui.
1 tháng 3


Câu 1.



Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản:


  • Tự sự (kể lại quá trình Hoàng Cầm sáng tạo bếp)
  • Miêu tả (miêu tả cách đào bếp, dẫn khói…)
  • Biểu cảm (thể hiện sự trân trọng, ngợi ca)
  • Nghị luận (nhận xét, đánh giá ý nghĩa của bếp Hoàng Cầm)






Câu 2.



Văn bản kể về quá trình Hoàng Cầm suy nghĩ, sáng tạo và hoàn thiện bếp Hoàng Cầm để phục vụ bộ đội trong kháng chiến.





Câu 3.



Cảm hứng chủ đạo là ngợi ca tinh thần sáng tạo, trách nhiệm và sự cống hiến thầm lặng của người lính Hoàng Cầm, đồng thời thể hiện niềm tự hào về sáng kiến góp phần vào thắng lợi kháng chiến.





Câu 4.



Nội dung văn bản:

Kể lại quá trình ra đời của bếp Hoàng Cầm và khẳng định ý nghĩa to lớn của sáng kiến này đối với bộ đội trong kháng chiến; qua đó ca ngợi phẩm chất tận tụy, sáng tạo của người chiến sĩ Hoàng Cầm.





Câu 5.



Em ấn tượng nhất với chi tiết Hoàng Cầm miệt mài đào hàng chục cái bếp thử nghiệm dù nhiều lần thất bại.

Vì chi tiết này thể hiện rõ tinh thần kiên trì, trách nhiệm và tấm lòng vì đồng đội của ông – một sự hi sinh thầm lặng nhưng vô cùng cao đẹp.


Câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

 Câu 3

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4

Nội dung của văn bản: Văn bản Chuyện ông Hoàng Câm ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

Câu 1: Văn bản sử dụng các phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả và biểu cảm.

Câu 2: Văn bản kể về sự ra đời và quá trình sáng tạo bếp Hoàng Cầm trong thời kì kháng chiến.

Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của văn bản là ngợi ca tinh thần sáng tạo, trách nhiệm và lòng yêu nước của người chiến sĩ Hoàng Cầm.

Câu 4: Văn bản ca ngợi sự sáng tạo của Hoàng Cầm khi cải tiến bếp nấu để hạn chế khói lửa, giúp bộ đội tránh sự phát hiện của địch và góp phần vào thắng lợi chung.

Câu 5: Em ấn tượng với chi tiết Hoàng Cầm miệt mài thử nghiệm nhiều lần để tìm cách giấu khói, thể hiện sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm đáng trân trọng.

Câu 1 (0,5 điểm).

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2 (0,5 điểm).

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3 (1,0 điểm).

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4 (1,0 điểm).

Nội dung của văn bản: Văn bản

Chuyện ông Hoàng Cầm

ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất

Câu 1


Văn bản sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự là phương thức chính nhằm kể lại cuộc đời và quá trình sáng tạo bếp Hoàng Cầm của người chiến sĩ nuôi quân; bên cạnh đó còn có phương thức thuyết minh để giới thiệu về cấu tạo, công dụng của bếp Hoàng Cầm và phương thức biểu cảm nhằm thể hiện niềm xúc động, tự hào, trân trọng đối với người lính và sáng kiến của ông.

Câu 2

Văn bản kể về sự ra đời của bếp Hoàng Cầm do người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm sáng tạo trong thời kì kháng chiến. Từ thực tế chiến tranh khốc liệt khiến bộ đội dễ bị lộ vị trí do khói bếp, ông đã trăn trở, tìm tòi và sáng chế ra loại bếp đặc biệt giúp giấu khói, bảo đảm an toàn cho bộ đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân ta.

Câu 3

Cảm hứng chủ đạo của văn bản là niềm ca ngợi, tự hào và biết ơn đối với người lính cách mạng nói chung và chiến sĩ Hoàng Cầm nói riêng. Tác giả thể hiện sự trân trọng trước tinh thần sáng tạo, trách nhiệm và lòng yêu nước thầm lặng của người chiến sĩ đã cống hiến trí tuệ và tâm huyết cho cuộc kháng chiến.

Câu 4

Văn bản ca ngợi cuộc đời, phẩm chất và sáng kiến bếp Hoàng Cầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm. Qua đó, tác giả khẳng định vai trò quan trọng của những đóng góp thầm lặng trong chiến tranh, đồng thời tôn vinh tinh thần sáng tạo, trách nhiệm và lòng yêu nước của con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến.

Câu 5

Chi tiết gây ấn tượng sâu sắc là hình ảnh Hoàng Cầm trăn trở nhiều ngày đêm suy nghĩ để tìm cách khắc phục khói bếp nhằm bảo vệ bộ đội. Chi tiết này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, lòng thương đồng đội và ý chí sáng tạo bền bỉ của người lính. Qua đó, người đọc cảm nhận được rằng chiến thắng không chỉ đến từ chiến trường mà còn từ những đóng góp âm thầm phía sau, làm nổi bật vẻ đẹp của sự hi sinh lặng lẽ trong chiến tranh.


3 tháng 3

Câu 1

Văn bản sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt, trong đó chủ đạo là: Tự sự: Kể lại quá trình tìm tòi, sáng chế và ứng dụng bếp Hoàng Cầm. Thuyết minh: Giới thiệu về nguồn gốc, cấu tạo và công dụng của bếp. Biểu cảm: Thể hiện niềm tự hào, sự trân trọng đối với người chiến sĩ và kỷ vật kháng chiến.

Câu 2

Văn bản kể về quá trình người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm trăn trở, tìm tòi và sáng chế ra loại bếp không khói (sau này mang tên ông). Đồng thời, văn bản nêu lên ý nghĩa to lớn của chiếc bếp này đối với sự an toàn và sức khỏe của bộ đội trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Câu 3

Cảm hứng chủ đạo của tác giả là ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của con người Việt Nam trong khói lửa chiến tranh. Đó là sự trân trọng đối với những sáng tạo thầm lặng nhưng vĩ đại, xuất phát từ tình yêu thương đồng đội thiết tha và tinh thần vượt khó, tận tụy phục vụ tổ quốc.

Câu 4

Văn bản giới thiệu về nhân vật Hoàng Cầm và sự ra đời của chiếc "bếp huyền thoại". Qua đó, tác giả khẳng định tầm quan trọng của những đóng góp thầm lặng ở hậu phương (nuôi quân) cũng góp phần tạo nên những chiến thắng oanh liệt ở tiền tuyến, đồng thời nhắc nhở thế hệ sau về một biểu tượng đẹp trong lịch sử giữ nước.

Câu 5

Hình ảnh anh nuôi Hoàng Cầm "lụi hụi đào hàng chục cái bếp khác nhau", "trốn vào rừng đào bếp thử nghiệm" bất kể trưa tối. Vì sao: Chi tiết này cho thấy sự kiên trì, tỉ mỉ và trách nhiệm cao cả của người chiến sĩ. Ông không làm vì danh tiếng mà vì nỗi đau khi thấy đồng đội hy sinh do khói bếp bị lộ. Nó chứng minh rằng những phát minh vĩ đại thường bắt đầu từ những trăn trở vì con người


 Câu 1

Xác định phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm

Câu 2

Sự việc chính được kể trong văn bản

Câu 3

Cảm hứng chủ đạo là tình cảm tư tưởng bao trùm toàn bộ tác phẩm, thể hiện qua thái độ giọng văn của tác giả.Nó có thể là tình yêu quê hương, sự căm nhẫn , niềm tự hào

Câu 4

Nội dung chính của văn bản là chủ đề, thông điệp hoặc vấn đề mà tác giả muốn truyền tải đây là sự tổng hợp ý nghĩa của bộ tác phẩm

Câu 5

Chi tiết ấn tượng là một hình ảnh, từ ngữ hoặc sự kiện nổi bật , gây xúc động mạnh hoặc để lại suy nghĩ sâu sắc vì nó rất độc đáo


4 tháng 3

Câu 1

   Phương thức biểu đạt chính được sử dụng là thuyết minh kết hợp với tự sự và biểu cảm          

Câu 2

Văn bản kể về sự ra đời, tác dụng và sự gắn bó của "bếp Hoàng Cầm" đối với bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chi tiết chính là việc bếp Hoàng Cầm không chỉ giải quyết nhu cầu nấu ăn mà còn trở thành một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, đi vào thi ca và lịch sử.

Câu 3

Cảm hứng chủ đạo là lòng biết ơn, sự trân trọng và niềm tự hào đối với những sáng tạo giản dị nhưng vĩ đại của người chiến sĩ trong chiến tranh. Tác giả thể hiện sự tôn vinh đối với bếp Hoàng Cầm, biến nó thành một "huyền thoại" của dân tộc.

Câu 4

Văn bản giới thiệu về bếp Hoàng Cầm, một sáng tạo độc đáo của người chiến sĩ nuôi quân trong kháng chiến chống Mỹ. Nội dung nhấn mạnh vai trò thực tế của bếp trong việc bảo mật và giữ ấm, đồng thời khẳng định giá trị lịch sử và biểu tượng của nó đối với quân và dân ta.

Câu 5

Ấn tượng nhất là câu văn: "Nhưng cái bếp của ông, cái bếp đã đi vào lịch sử hay cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời." Vì chi tiết này nâng tầm một vật dụng nấu ăn giản dị trở thành một biểu tượng bất tử, thể hiện rõ sự trân trọng tuyệt đối của tác giả đối với trí tuệ và sự hy sinh của thế hệ trước.

  

Câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2 Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3 Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4

Nội dung của văn bản: Văn bản Chuyện ông Hoàng Cầm ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

Câu 5 chi tiết em cảm thấy ấn tượng là ông Hoàng Cầm đã âm thầm tạo ra nhiều chiếc bếp để giúp đồng đội

Vì thể hiện sự kiên trì sáng tạo, sự quan tâm của ông dành cho những ng đồng đôi của mình

Câu 1 (0,5 điểm). Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. Câu 2 (0,5 điểm). Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến. Câu 3 (1,0 điểm). Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này. Câu 4 (1,0 điểm). Nội dung của văn bản: Văn bản Chuyện ông Hoàng Cầm ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

1/2 Câu 1 (0,5 điểm). Những phương thức biểu đạt được sửdụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. Câu 2 (0,5 điểm). Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến. Câu 3 (1,0 điểm). Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này. Câu 4 (1,0 điểm). Nội dung của văn bản: Văn bản Chuyện ông Hoàng Cầm ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

Câu 1:

Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm

Câu 2:

Sự việc chính: nói về người chiến sĩ Hoàng Cầm đã sáng tạo ra loại bếp để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3:

Cảm hứng chủ đạo được tác giả thể hiện trong văn bản: ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm với những nỗ lực,kiên trì và ca ngợi lòng yêu nước , sự sang tạo của chiến sĩ Hoàng Cầm.

Câu 4:

Nội dung của văn bản: ca ngợi lòng yêu nước nồng nàn , sự cống hiến thầm lặng ,đầy sáng tạo của người chiến sĩ Hoàng Cầm.

Câu 5:

Chi tiết làm em ấn tượng là:khi đồng chí thủ trưởng nhắc tổ quân nuôi quân về việc nên khắc phục cái bếp.

Vì : bếp nấu ăn ra nhiều khói khiến cho quân địch phát hiện vị trí đóng quân của ta ,quân địch nhiều lần đã thả bom xuống khiến cho quân ta thiệt mạng rất nhiều. Và đó là nguyên nhân khiến cho chiến sĩ Hoàng Cầm cố gắng sáng tạo ra loại bếp mà không bay khói lên. Từ đó đã cho thấy chiến sĩ Hoàng Cầm là người có giàu lòng yêu nước ,có sự sáng tạo và nỗ lực thầm lặng ,yêu thương và quan tâm đồng đội.

Câu 1 (0,5 điểm).

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biếu cảm, thuyết minh.

Câu 2 (0,5 điểm).

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3 (1,0 điểm).

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4 (1,0 điểm).

Nội dung của văn bản: Văn bản

Chuyện ông Hoàng Cầm

ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước

câu 5

Trong văn bản này, chi tiết ấn tượng nhất đối với mình là 

câu nói đầy day dứt của ông Hoàng Cầm: "Để bộ đội chết vì nấu ăn là mình có tội". Chi tiết này sâu sắc vì những lý do sau:
  • Về phẩm chất: Nó cho thấy tinh thần trách nhiệm cực kỳ cao độ của một người lính nuôi quân. Ông không coi việc nấu ăn chỉ là làm cho xong bữa, mà coi đó là nhiệm vụ bảo vệ tính mạng đồng đội.
  • Về động lực: Chính nỗi đau xót trước sự hy sinh của đồng đội và "mặc cảm" trách nhiệm ấy đã trở thành sức mạnh thôi thúc ông mày mò, sáng tạo ra chiếc bếp huyền thoại. Nó chứng minh rằng: sáng tạo vĩ đại nhất thường bắt nguồn từ tình yêu thương con người chân thành nhất.
  • Về biểu tượng: Câu nói này biến chiếc bếp từ một vật dụng hậu cần thông thường trở thành biểu tượng của sự tận tụy và tình đồng chí gắn bó trong chiến tranh.


11 tháng 3

Câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản:

  • Tự sự (kể lại câu chuyện về người chiến sĩ Hoàng Cầm và chiếc bếp).
  • Biểu cảm (thể hiện sự trân trọng, xúc động của tác giả).
  • Nghị luận (bàn luận, khẳng định ý nghĩa lịch sử của chiếc bếp Hoàng Cầm).

Câu 2:

Văn bản kể về sự việc chính:

→ Câu chuyện về người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm để nuôi quân trong kháng chiến, góp phần giúp bộ đội hoạt động bí mật và hiệu quả hơn.

Câu 3:

Cảm hứng chủ đạo của tác giả trong văn bản là:

→ Sự trân trọng, ngợi ca những con người bình dị nhưng có đóng góp lớn cho cuộc kháng chiến, đặc biệt là sáng kiến bếp Hoàng Cầm.

Câu 4:

Nội dung của văn bản:

→ Văn bản kể lại câu chuyện về sự ra đời và ý nghĩa của bếp Hoàng Cầm, qua đó ca ngợi trí tuệ, sự sáng tạo và những đóng góp thầm lặng của người chiến sĩ trong kháng chiến chống ngoại xâm.

Câu 5:

Chi tiết em ấn tượng nhất là:→ “Dẫu mai này, có thể người ta lại quên cái tên người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm. Nhưng cái bếp của ông… có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời.”


Vì:

Chi tiết này thể hiện sự hi sinh thầm lặng của những con người trong chiến tranh. Dù tên tuổi có thể bị lãng quên, nhưng những đóng góp của họ cho lịch sử dân tộc vẫn luôn được nhớ đến, làm em cảm thấy rất xúc động và tự hào.


11 tháng 3

Câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4

Nội dung của văn bản: Văn bản

Chuyện ông Hoàng Cầm

ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước.

Câu 5

HS chỉ ra chi tiết mà các em ấn tượng và đưa ra được lí giải hợp lí.

12 tháng 3

Câu 1.

Văn bản sử dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận.

Câu 2.

Văn bản kể về sự việc chính là khắc họa hình ảnh người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm và bếp lửa của ông, một biểu tượng cho tình yêu đất nước, sự hy sinh thầm lặng và sức mạnh tinh thần trong kháng chiến.

Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo được tác giả thể hiện trong văn bản là lòng biết ơn, sự trân trọng đối với những đóng góp thầm lặng của người chiến sĩ nuôi quân và bếp lửa của ông, đồng thời khẳng định giá trị lịch sử và ý nghĩa trường tồn của những điều bình dị mà vĩ đại đó.

Câu 4.

Nội dung của văn bản này là ca ngợi và tôn vinh hình ảnh người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm cùng bếp lửa của ông, xem đó là biểu tượng của tình yêu quê hương, đất nước, sự hy sinh cao cả và sức mạnh tinh thần trong cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, đồng thời khẳng định giá trị lịch sử và ý nghĩa truyền mãi về sau.

Câu 5.

Chi tiết gây ấn tượng mạnh mẽ nhất là hình ảnh "cái bếp của ông, cái bếp đã đi vào lịch sử hay cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời". Chi tiết này gợi lên sự vĩ đại từ những điều bình dị, cho thấy sức ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài của những đóng góp thầm lặng, biến một vật dụng đời thường thành biểu tượng lịch sử, trường tồn với thời gian và lòng người.

Câu 1:

Các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm.

Câu 2:

Văn bản kể về việc ra đời và ý nghĩa của bếp

Hoàng Cầm trong thời kì kháng chiến.

Câu 3:

Cảm hứng chủ đạo: sự trân trọng, tự hào và biết ơn đối với sáng tạo của người chiến sĩ

Hoàng Cầm và những đóng góp cho kháng chiến.

Câu 4:

Nội dung: Ca ngợi bếp Hoàng Cầm - một sắng tạo quan trọng của bộ đội trong kháng chiến, góp phần vào thắng lợi của dân tộc.

Câu 5:

Em ấn tượng với chi tiết bếp Hoàng Cầm trở thành "cái bếp huyền thoại" vì nó thể hiện ý nghĩa lớn lao của một sáng kiến giản dị nhưng góp phần quan trọng trong cuộc kháng chiến

14 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản Các phương thức biểu đạt chính bao gồm: Nghị luận, Biểu cảm, Thuyết minh,Tự sự Câu 2: Văn bản kể về sự việc chính nào? Văn bản kể về sự ra đời và ý nghĩa lớn lao của bếp Hoàng Cầm – một sáng kiến vĩ đại trong quân sự của anh nuôi Hoàng Cầm. Chiếc bếp này giúp nấu ăn mà không để lộ khói, đảm bảo bí mật và an toàn cho bộ đội trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Cảm hứng chủ đạo là sự ngợi ca, lòng biết ơn và niềm tự hào đối với những con người bình dị nhưng có đóng góp phi thường cho dân tộc. Đó là sự tôn vinh trí tuệ, sức sáng tạo và tinh thần vượt khó của quân và dân ta trong chiến tranh. Câu 4: Nội dung của văn bản này là gì? Nội dung chính là khắc họa hình ảnh ông Hoàng Cầm và "chiếc bếp huyền thoại" mang tên ông. Qua đó, tác giả khẳng định giá trị bất tử của những đóng góp thầm lặng nhưng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến vệ quốc, đồng thời lưu giữ ký ức lịch sử cho thế hệ mai sau. Câu 5: Anh/chị thấy ấn tượng với chi tiết nào? Vì sao? Bạn có thể tự chọn chi tiết mình thích nhất, ví dụ: Chi tiết: "Cái bếp đã đi vào lịch sử... trở thành cái bếp huyền thoại" Vì sao: Nó cho thấy một vật dụng đời thường, thô sơ lại có tầm vóc vĩ đại, gắn liền với vận mệnh dân tộc. Nó chứng minh rằng trong chiến tranh, không chỉ có vũ khí hiện đại mà chính sự thông minh, tình yêu thương đồng đội (muốn bộ đội có cơm nóng mà không bị lộ) đã tạo nên điều kỳ diệu. Chi tiết về tên gọi "Bếp Hoàng Cầm": Vì sao: Tên của một người chiến sĩ bình thường đã trở thành danh từ chung cho một biểu tượng quân sự, thể hiện sự ghi nhận xứng đáng của lịch sử đối với cá nhân ông.

Câu 1.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản:


  • Tự sự (kể chuyện) – là chính.
  • Thuyết minh (giới thiệu về bếp Hoàng Cầm và cách hoạt động).
  • Miêu tả (miêu tả quá trình nghiên cứu, thử nghiệm bếp).
  • Biểu cảm (thể hiện sự trân trọng, cảm phục).

Câu 2.

Văn bản kể về quá trình anh nuôi Hoàng Cầm sáng tạo ra chiếc bếp Hoàng Cầm để phục vụ bộ đội trong thời chiến.

Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo của văn bản là sự ca ngợi, trân trọng tinh thần sáng tạo, tận tụy và lòng yêu nước của người chiến sĩ Hoàng Cầm cũng như tình cảm dành cho bộ đội trong kháng chiến

Câu 4.

Nội dung văn bản:

Văn bản kể lại quá trình Hoàng Cầm suy nghĩ, nghiên cứu và sáng chế ra bếp Hoàng Cầm giúp bộ đội nấu ăn mà không bị lộ khói, góp phần bảo vệ an toàn cho bộ đội trong chiến tranh, qua đó ca ngợi trí tuệ, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước của người chiến sĩ.

Câu 5.

Chi tiết em ấn tượng nhất là Hoàng Cầm kiên trì đào hàng chục cái bếp khác nhau để thử nghiệm.

Vì chi tiết này thể hiện sự kiên trì, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của ông đối với bộ đội, luôn tìm cách để nấu ăn an toàn cho đồng đội trong chiến tranh.



14 tháng 3

Câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

Câu 2

Sự việc chính: Người chiến sĩ Hoàng Cầm sáng tạo ra loại bếp mới để phục vụ cho bộ đội thời chiến.

Câu 3

Qua quá trình kiên trì, nỗ lực của người chiến sĩ Hoàng Cầm, tác giả ca ngợi người chiến sĩ nuôi quân giàu lòng yêu nước, kiên trì và sáng tạo này.

Câu 4

Nội dung của văn bản: Văn bản

Chuyện ông Hoàng Cầm

ca ngợi lòng yêu nước sâu sắc, sự sáng tạo, kiên trì và sự cống hiến âm thầm của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm dành cho đất nước. Câu5

  • Chi tiết: "Hơi bếp Hoàng Cầm sưởi ấm khắp nơi nơi... - Vì chi tiết này không chỉ nói về hơi ấm vật lý để nấu chín thức ăn, mà còn tượng trưng cho hơi ấm của tình hậu phương, tình đồng đội. Nó biến một vật dụng thô sơ thành một biểu tượng của sự chăm sóc, che chở, giúp người lính vượt qua gian khổ, ác liệt của chiến tranh.


14 tháng 3

là gợi ý trả lời ngắn gọn nhưng đúng kiểu bài làm điểm cao (HSG): Câu 1.

Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: tự sự, miêu tả và biểu cảm.

Câu 2.

Văn bản kể về câu chuyện người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm sáng tạo ra chiếc bếp Hoàng Cầm để phục vụ kháng chiến, giúp bộ đội nấu ăn mà không để lộ khói, góp phần bảo vệ lực lượng trong chiến tranh.

Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo của văn bản là sự trân trọng, ngợi ca những con người thầm lặng đã cống hiến cho cuộc kháng chiến và lòng tự hào về những sáng tạo giản dị nhưng có ý nghĩa lớn lao đối với lịch sử dân tộc.

Câu 4.

Nội dung văn bản: Ca ngợi sự sáng tạo của người chiến sĩ Hoàng Cầm với chiếc bếp Hoàng Cầm – một sáng kiến giản dị nhưng góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, đồng thời khẳng định giá trị lịch sử và ý nghĩa lâu dài của sáng tạo ấy.

Câu 5.

Em ấn tượng nhất với chi tiết “cái bếp của ông… có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời.” Vì chi tiết này cho thấy một sáng tạo giản dị trong chiến tranh lại mang ý nghĩa lớn lao, góp phần vào lịch sử dân tộc và thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với những đóng góp thầm lặng của con người trong kháng chiến.

14 tháng 3

Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản Văn bản sử dụng các phương thức biểu đạt như: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Tác giả sử dụng tự sự để kể về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Cầm, miêu tả để tái hiện hình ảnh và tính cách của ông, và biểu cảm để thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn trọng đối với Hoàng Cầm. Câu 2. Văn bản kể về sự việc chính nào? Văn bản kể về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Cầm, một người nghệ sĩ tài hoa và giàu tình yêu với cuộc sống. Câu 3. Phát biểu cảm hứng chủ đạo được tác giả thể hiện trong văn bản* Cảm hứng chủ đạo của tác giả là sự ngưỡng mộ và tôn trọng đối với Hoàng Cầm, một người nghệ sĩ tài hoa và một tâm hồn đẹp. Câu 4. Nội dung của văn bản này là gì? Nội dung của văn bản là cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Cầm, một người nghệ sĩ tài hoa và giàu tình yêu với cuộc sống. Câu 5. Tôi thấy ấn tượng với chi tiết Hoàng Cầm là một người lang thang, không ràng buộc bởi địa vị hay vật chất, nhưng lại giàu có trong tâm hồn và tình yêu với con người. Chi tiết này cho thấy Hoàng Cầm là một người nghệ sĩ đích thực, luôn tìm kiếm sự chân thật và đẹp đẽ trong cuộc sống.

14 tháng 3

Câu 1.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản:

  • Tự sự (kể lại câu chuyện về Hoàng Cầm và quá trình sáng tạo bếp Hoàng Cầm).
  • Miêu tả (miêu tả cách hoạt động của bếp, khói, lửa…).
  • Biểu cảm (thể hiện sự cảm phục, trân trọng đối với Hoàng Cầm).

Câu 2.

Văn bản kể về quá trình anh nuôi Hoàng Cầm suy nghĩ, nghiên cứu và sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm để phục vụ bộ đội trong thời chiến.

Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo của tác giả là ca ngợi sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước của người chiến sĩ Hoàng Cầm; đồng thời thể hiện niềm tự hào về sáng kiến góp phần vào thắng lợi của quân đội.

Câu 4.

Văn bản kể lại câu chuyện anh nuôi Hoàng Cầm sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm giúp bộ đội nấu ăn mà không lộ khói, tránh sự phát hiện của máy bay địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng trong các cuộc kháng chiến.

Câu 5.

Em ấn tượng nhất với chi tiết Hoàng Cầm miệt mài suy nghĩ, thử nghiệm nhiều lần để cải tiến chiếc bếp cho đến khi khói tỏa là là mặt đất.

Vì chi tiết này thể hiện sự kiên trì, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của ông đối với đồng đội, giúp bộ đội vừa có cơm ăn vừa tránh bị địch phát hiện.


15 tháng 3

Câu 1:

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản :

Tự sự( kể lại quá trình Hoàng Cầm sáng tạo bếp )

Miêu tả ( miêu tả khói, lửa , cách làm bếp )

Biểu cảm ( thể hiện sự khâm phục , trân trọng ).

Câu 2:

Văn bản kể về quá trình anh nuôi Hoàng Cầm suy nghĩ , sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm để nấu ăn cho bộ đội mà không bị địch phát hiện khói lửa .

Câu 3:

Cảm hứng chủ đạo của tác giả là ca ngợi sự sáng tạo , tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước của người chiến sĩ Hoàng Cầm và bộ đội trong kháng chiến .

Câu 4:

Nội dung văn bản :

-kể về sự ra đời của bếp Hoàng Cầm , một sáng kiến quan trọng giúp bộ đội nấu ăn an toàn trong chiến tranh.

- Quan đó ca ngợi trí tuệ, sự sáng tạo và tinh thần đồng đội của người lính Việt Nam.

Câu 5:

Em ấn tượng nhất với chi tiết Hoàng Cầm ngày đêm suy nghĩ , thử nghiệm nhiều lần để tạo ra chiếc bếp không khói. Vì chi tiết này cho thấy sự kiên trì, trách nhiệm và tình thương đồng đội của anh, nhờ đó giúp bộ đội tránh bị địch phát hiện .

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: HÃY LÀ NGƯỜI VÔ LÝ           Một trong những câu nói tôi thích nhất của George Bernard Shaw là: “Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân. Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc vào người vô lý.” Hãy suy nghĩ về ý tưởng này trong chốc lát. Đó là một ý tưởng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

HÃY LÀ NGƯỜI VÔ LÝ

          Một trong những câu nói tôi thích nhất của George Bernard Shaw là: “Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân. Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc vào người vô lý.” Hãy suy nghĩ về ý tưởng này trong chốc lát. Đó là một ý tưởng lớn.

          Tất nhiên, bạn cần thực tế và ứng xử khôn khéo khi làm việc trong môi trường của mình. Tôi đồng ý rằng việc áp dụng các quan niệm phổ biến với người khác cũng quan trọng. Những rủi ro ngu ngốc có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Nhưng như đã nói, đừng nên sợ hãi trước thất bại hay thất vọng để rồi không dám ước mơ.

          Đừng lúc nào cũng tỏ ra có lý và thực dụng, quá nhạy cảm đến nỗi bạn từ chối không chộp lấy cơ hội ngàn vàng khi nó đến. Hãy đẩy xa giới hạn của những gì bạn nghĩ mình có thể thực hiện. Đừng quên rằng những kẻ chỉ trích luôn cười nhạo tầm nhìn của nhiều nhà tư tưởng can trường, nhiều nhà khai phá nổi tiếng. Đừng để ý đến những lời chỉ trích. Luôn ghi nhớ rằng những tiến bộ vượt bậc mà con người đạt tới đều nhờ nỗ lực can trường của một người nào đó từng bị chỉ trích rằng ý tưởng của họ là viễn vông, không thể trở thành hiện thực. Thế giới cần nhiều người biết ước mơ. Cần người vô lý biết đấu tranh chống lại những gì thông thường. Cần người chống lại sự cám dỗ của tính tự mãn và dám hành động theo cách họ vẫn luôn thực hiện. Bạn có thể là một trong những người ấy. Từ ngày hôm nay.

(Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma,

NXB Trẻ, 2014, Tr. 29)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau chỗ nào?

Câu 3. Dựa vào đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là người vô lí?

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “thế giới cần nhiều người biết ước mơ” không? Vì sao?

7
15 tháng 5 2021

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.

Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:

“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”

Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.

Câu 3.  Dựa vào đoạn trích, người vô lí  được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…

Câu 4.

- Đồng tình vì:

+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.

+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…

15 tháng 5 2021

c1; nghị luận

c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân

c3?

c4?

[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]

k cho e ạ , mong chị thông cảm

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂNThế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...”

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

1
1 tháng 12 2024

Xhcjfjgcc

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM) Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:             Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM)

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

            Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó.

            Thế là khi ông ta sở hữu ngôi nhà đẹp, người hàng xóm liền có cả dinh thự lộng lẫy. Ông ta ước mình giàu có, người hàng xóm có hẳn một mỏ vàng. Không chịu được sự “bất công” đó, người đàn ông may mắn liền ước mình bị mù một mắt để người hàng xóm bị mù cả hai…

            Chính lòng đố kị đã tạo nên sự nhỏ nhen, biến thành cảm giác hận thù và suy nghĩ mù quáng cho ông ta: thà kém may mắn hơn một chút để người khác đau khổ hơn mình thay vì chọn điều ngược lại.

            Lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục. Con người cần phải có lòng cao thượng, rộng rãi, biết vui với thành công của người khác. Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ.

(Trích Về những câu chuyện ngụ ngôn, nguồn Internet)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên. (0.5 điểm)

Câu 2: Tại sao tác giả ngụ ngôn lại cho rằng: mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó. (0.5 điểm)

Câu 3: Theo anh/chị, vì sao lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục? (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/ chị rút ra thông điệp gì tâm đắc nhất từ đoạn ngữ liệu trên? Vì sao? (1.0 điểm)

8
20 tháng 5 2021

hhj

 

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau,...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau, cuộc đời ông là bài học lớn về nghị lực sống, sống để cống hiến cho đời. Bị mù đôi mắt, nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chịu đầu hàng số phận, vẫn sống và làm nhiều việc có ích: dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn. Là một thầy giáo, ông đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, được nhiều thế hệ học trò kính yêu. Là thầy thuốc, ông xem trọng y đức, lấy việc cứu người làm trọng. Là một nhà thơ, cụ Đồ Chiểu quan tâm đến việc dùng văn chương để hướng con người đến cái thiện, đến một lối sống cao đẹp, đúng đạo lí làm người. Khi quê hương bị thực dân Pháp xâm lược. Đồ Chiểu dùng thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân. (3) Nguyễn Đình Chiểu còn là tấm gương sáng ngời lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu cao lập trường kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc chống giặc và sáng tác thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ. Khu triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, bất lực đến phải dâng cả Nam Kì lục tỉnh cho giặc Pháp, Đồ Chiểu đã nêu cao khí tiết, giữ gìn lối sống trong sạch, cao cả, từ chối mọi cám dỗ của thực dân, không chịu hợp tác với kẻ thù. Câu 1: Văn bản trên có mấy ý chính? Đó là những ý nào? Câu 2: Tìm câu chủ đề trong đoạn văn (2),(3) Câu 3: Xác định thao tác lập luận trong đoạn văn (2),(3

2
4 tháng 12 2021

giJovhilhvgiyppuiviuipguugu

4 tháng 12 2021

kbufqsj kDn,  sd! J qsfoi j ckjb

erVhchvulwdyilgcqre

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:           Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý nghĩa. Không có ai luôn thành công...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

          Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý nghĩa. Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh hay dại khờ, tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston Churchill, từng nói: “Người bị quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn”. Sẽ có những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại một cách tích cực.

(Trích Thành công và thất bại, internet)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Theo tác giả, thất bại sẽ giúp con người nhận thức được những điều gì?

Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về lời khuyên “Hãy thất bại một cách tích cực.”

Câu 4: Điều anh/chị tâm đắc nhất qua đoạn trích là gì?

1

Câu 1 :Phương thức biểu đtạ chính là:Nghị luận

Câu 2:Theo tác giả:Thất bại giúp con người ta đúc kết kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và giúp thành công đạt thêm phần ý nghĩa.

Câu 3:Em hiểu câu"Hẫy thất bại một cách tích cực" là:Nếu ta thất bại một lần thì chúng ta có thể nhận được một số bài học và kinh nghiệm nhưng nếu ta thất bại nhiều thì bài học và kinh nghiệm đó sẽ nhân lên,nhân lên rất nhiều.Từ đó,ta có thể thành công với số bài học và kinh nghiệm đó.

Câu 4:Điều em tâm đắc nhất trong đoạn trích chính là:em đã có thêm những phần kiến thức bổ ích,tốt đẹp,nó sẽ giúp em vươn lên towisthanhf công từ những thất bại của mình!