Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”
Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”
Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.
Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.
Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.
Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.
câu 1
Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.
câu 2
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.
Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.
Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.
Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.
Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.
Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.
Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.
Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Thúy Kiều
Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, tình cảm sâu sắc nhưng phải chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời. Nhân vật vừa thể hiện vẻ đẹp nghiêm trang, dịu dàng, vừa toát lên sự thông minh, nhạy cảm, đặc biệt là trong cách đối nhân xử thế và cảm nhận nỗi đau, niềm vui. Thúy Kiều còn là biểu tượng của sự hy sinh, lòng trung hiếu và tình yêu chân thành, khi sẵn sàng chịu đựng gian truân để bảo vệ gia đình, trọn nghĩa với người thân và tình yêu. Qua đó, nhân vật phản ánh bi kịch của thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải đối mặt với những éo le, bất công, dù bản thân đầy phẩm chất tốt đẹp. Đồng thời, Thúy Kiều còn khơi gợi ở người đọc cảm xúc thương cảm và ngưỡng mộ, khiến bà trở thành hình tượng nhân vật trường tồn trong văn học Việt Nam. Nhân vật không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp và tài năng, mà còn là tấm gương về nhân cách, đức hy sinh và lòng trung trinh, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay
Trong xã hội hiện đại, lí tưởng sống là mục tiêu, phương hướng giúp mỗi người định hình hành động và phát triển bản thân. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, lí tưởng không chỉ là thành công về vật chất, mà còn là giá trị tinh thần, đóng góp cho cộng đồng và đất nước. Một thanh niên có lí tưởng sống đúng đắn sẽ biết học tập, rèn luyện, sáng tạo, lao động và tôn trọng đạo đức, đồng thời nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp, như: trở thành người có ích, đóng góp cho xã hội, bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị tích cực.
Lí tưởng còn giúp thanh niên vững vàng trước cám dỗ, thử thách và khó khăn, không bị lạc hướng bởi những trào lưu tiêu cực. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, thế hệ trẻ cần biết kết hợp kiến thức, kỹ năng và lòng nhân ái để vừa phát triển bản thân, vừa xây dựng cộng đồng tốt đẹp. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Trần Lập hay những bạn trẻ tham gia hoạt động thiện nguyện đã chứng minh rằng lí tưởng sống đúng đắn sẽ tạo ra những hành động đẹp, ý nghĩa.
Từ đó, có thể thấy rằng lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là sự trưởng thành cá nhân, mà còn là sứ mệnh xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái và tiến bộ. Mỗi thanh niên cần xác định mục tiêu, nuôi dưỡng đam mê và hành động tích cực mỗi ngày, để biến lí tưởng thành thực tế cuộc sống. Chính lí tưởng sống cao đẹp sẽ giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân, cống hiến và lan tỏa những giá trị tốt đẹp, góp phần làm cho xã hội ngày càng văn minh, nhân văn.
Câu 1.
Thúy Kiều trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du hiện lên là một con người thấu tình đạt lí nhưng mang số phận mong manh, đau khổ. Trước hết, Kiều là người sống đàng hoàng, có ý thức đạo đức rõ ràng. Nàng chủ động khuyên Thúc Sinh trở về nhà, khuyên chàng phải nói rõ sự thật với Hoạn Thư, không nên “giấu ngược giấu xuôi”. Điều đó cho thấy Kiều không muốn dựa vào sự dối trá để níu giữ tình cảm, dù bản thân đang chịu nhiều thiệt thòi trong thân phận làm lẽ. Bên cạnh đó, qua những lời dặn dò, Kiều bộc lộ khát vọng hạnh phúc nhỏ bé: mong có một địa vị rõ ràng, một tình yêu được thừa nhận. Tuy nhiên, khát vọng ấy lại mong manh và đầy bất trắc, bởi chính Kiều cũng dự cảm về “sóng gió” đang chờ phía trước. Cảnh chia tay thấm đẫm nỗi buồn với hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi” đã khắc sâu nỗi cô đơn, đau đớn của nàng. Qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 2.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, lí tưởng sống luôn đóng vai trò quan trọng đối với thế hệ trẻ. Trong cuộc sống hôm nay – khi xã hội phát triển nhanh chóng, cơ hội và thách thức đan xen – việc xác định lí tưởng sống đúng đắn càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Lí tưởng của thế hệ trẻ là những giá trị, mục tiêu tốt đẹp mà người trẻ hướng tới để sống, học tập và cống hiến. Đó có thể là khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, sống có trách nhiệm với cộng đồng, hay không ngừng hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của bản thân. Lí tưởng không phải là những điều xa vời, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày.
Trong thực tế, lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay có nhiều biểu hiện tích cực. Nhiều bạn trẻ nỗ lực học tập, rèn luyện kĩ năng, làm chủ khoa học – công nghệ để đóng góp cho xã hội. Không ít người tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái. Bên cạnh đó, người trẻ ngày nay cũng mạnh dạn khẳng định bản thân, dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ chính đáng của mình.
So với thế hệ trẻ trong quá khứ, lí tưởng của người trẻ hôm nay vừa có sự tiếp nối vừa có sự thay đổi. Nếu thế hệ trẻ trước đây sống và chiến đấu vì lí tưởng độc lập, tự do của dân tộc, thì thế hệ trẻ ngày nay tiếp nối tinh thần ấy bằng việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Dù hoàn cảnh khác nhau, điểm gặp gỡ lớn nhất vẫn là khát vọng sống có ích và cống hiến cho xã hội.
Lí tưởng có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Lí tưởng là động lực thôi thúc người trẻ vượt qua khó khăn, là ngọn đuốc soi đường giúp họ không lạc lối giữa những cám dỗ của đời sống hiện đại. Một người trẻ sống có lí tưởng sẽ biết trân trọng thời gian, sống có trách nhiệm và biết hướng đến những giá trị bền vững.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lí tưởng, chạy theo hưởng thụ, sống thực dụng. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự nhận thức và tự rèn luyện, đồng thời gia đình, nhà trường và xã hội cần có vai trò định hướng đúng đắn.
Tóm lại, việc xác định lí tưởng sống đúng đắn chính là nền tảng để thế hệ trẻ khẳng định giá trị bản thân và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống, học tập và cống hiến vì những mục tiêu cao đẹp.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:
Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.
Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.
Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.
Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.
Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?
Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ
Hai câu:
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
- Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
- Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.
Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản
Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.
Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do
Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
Câu 1.
-Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3.
-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”
-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.
Câu 4.
Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.
Câu 5.
-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”
Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.
Câu 1. (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.
Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.
Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.
Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.
Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.
Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.
Câu 1:
Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính đã khắc họa thành công bức tranh biệt ly đượm buồn qua nghệ thuật điệp cấu trúc và ngôn ngữ bình dị. Nội dung bài thơ không chỉ là việc liệt kê những cuộc chia tay của nhiều mảnh đời khác nhau—từ đôi bạn trẻ, cặp tình nhân đến người vợ tiễn chồng—mà còn là sự đồng cảm sâu sắc của thi sĩ trước nỗi đau nhân thế. Hình ảnh sân ga trở thành một không gian nghệ thuật chứa đựng sự cô đơn, nơi "cây đàn sum họp đứt từng dây". Với giọng thơ nhẹ nhàng, đậm chất chân quê, Nguyễn Bính đã biến những quan sát đời thường thành những bóng hình nghệ thuật ám ảnh, thể hiện cái tôi nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn trước những cảnh "biệt ly" trong xã hội cũ.
Câu 2:
Trong rừng đời mênh mông với vô vàn ngã rẽ, mỗi người đều phải đối mặt với một quyết định quan trọng: đi theo lối mòn an toàn hay dũng cảm khai phá một hành trình mới. Nhà thơ Robert Frost đã để lại một tư tưởng sâu sắc qua dòng thơ: "Trong rừng có nhiều lối đi/ Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Câu nói này là lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị của sự chủ động và tinh thần sáng tạo trong việc định hình số phận cá nhân.
"Lối đi chưa có dấu chân người" không chỉ là một con đường vật lý, mà là biểu tượng cho những lựa chọn khác biệt, những thử thách mới mẻ mà số đông thường e ngại. Lựa chọn lối đi này đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, đối mặt với sự cô đơn để tìm kiếm những giá trị thực sự thuộc về bản thân. Trong một xã hội hiện đại dễ bị cuốn theo những chuẩn mực rập khuôn, việc chủ động chọn lối đi riêng giúp con người không bị hòa tan, đồng thời tạo ra những đột phá mà những lối mòn cũ kỹ không bao giờ có được.
Sự chủ động trong lựa chọn mang lại cho chúng ta quyền làm chủ cuộc đời. Thay vì thụ động chờ đợi hay bắt chước người khác, người sáng tạo luôn khao khát khẳng định bản sắc cá nhân. Những vĩ nhân hay những người thành công vượt trội đều là những người dám bước ra khỏi vùng an toàn để khai phá những "vùng đất mới" trong tư duy và hành động. Tuy nhiên, chọn lối đi riêng không phải là sự liều lĩnh mù quáng, mà phải là kết quả của sự thấu hiểu bản thân và khát vọng cống hiến mãnh liệt.
Tóm lại, con đường dẫn đến thành công và hạnh phúc đích thực thường không nằm ở những nơi đã quá đông đúc dấu chân. Hãy bản lĩnh để trở thành người mở đường, vì chính những khó khăn trên lối đi riêng sẽ mài giũa ta trở nên cứng cỏi và giúp ta để lại những dấu ấn ý nghĩa cho cuộc đời.
Câu 1.
Bài thơ Những bóng người trên sân ga gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu tính nhân văn và giọng điệu trầm lắng, suy tư. Hình ảnh “những bóng người” hiện lên mờ nhạt, thoáng qua trên sân ga – một không gian của chia ly, chờ đợi và dịch chuyển – đã gợi ra cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trong dòng chảy cuộc sống. Sân ga không chỉ là địa điểm cụ thể mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho những ngã rẽ của số phận, nơi con người gặp nhau rồi rời xa nhau trong im lặng. Bài thơ không kể chuyện cụ thể mà thiên về gợi cảm xúc, để lại nhiều khoảng trống cho người đọc suy ngẫm. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chiều sâu, nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với tâm trạng hoài niệm, bâng khuâng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật đã làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ, khiến người đọc nhận ra những khoảnh khắc rất đời nhưng dễ bị lãng quên trong cuộc sống vội vã hôm nay.
Câu 2.
Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:
“Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”
Câu thơ gợi lên một triết lí sâu sắc về sự chủ động lựa chọn con đường riêng và tinh thần sáng tạo trong cuộc sống của mỗi con người.
Cuộc đời giống như một khu rừng rộng lớn với vô vàn lối đi khác nhau. Mỗi lối đi tượng trưng cho một lựa chọn: học tập, nghề nghiệp, cách sống, cách khẳng định bản thân. Việc “chọn lối đi chưa có dấu chân người” không chỉ thể hiện khát vọng khác biệt mà còn cho thấy sự chủ động, dũng cảm và tự tin của con người khi dám bước ra khỏi những lối mòn quen thuộc. Chủ động lựa chọn lối đi riêng là khi ta hiểu rõ bản thân, biết mình muốn gì, có khả năng tự quyết định thay vì chạy theo đám đông hay sống theo sự sắp đặt của người khác.
Sự chủ động ấy gắn liền với tinh thần sáng tạo – yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Sáng tạo không chỉ tồn tại trong nghệ thuật hay khoa học mà còn thể hiện trong cách con người học tập, làm việc và giải quyết vấn đề. Những người dám đi con đường riêng thường là những người mang tư duy đổi mới, không ngại thử thách, sẵn sàng chấp nhận thất bại để tìm ra giá trị mới. Chính họ là những người tạo ra sự khác biệt và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, lựa chọn lối đi riêng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Con đường chưa có dấu chân người thường đầy rẫy khó khăn, cô đơn và cả hoài nghi. Người đi trên con đường ấy phải có bản lĩnh, ý chí và tinh thần chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Nếu thiếu sự chuẩn bị và hiểu biết, việc “khác biệt” rất dễ trở thành bồng bột hoặc lạc hướng. Vì vậy, lối đi riêng cần được xây dựng trên nền tảng của tri thức, sự nỗ lực nghiêm túc và những giá trị tích cực.
Đối với người trẻ hôm nay, đặc biệt là học sinh, việc chủ động lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và ước mơ của bản thân là vô cùng cần thiết. Thay vì học tập, sống và mơ ước theo khuôn mẫu sẵn có, mỗi người cần dám khám phá bản thân, phát huy điểm mạnh, nuôi dưỡng đam mê và sáng tạo. Khi đó, lối đi riêng không chỉ giúp ta khẳng định giá trị cá nhân mà còn góp phần làm cho cuộc sống trở nên phong phú và ý nghĩa hơn.
Tóm lại, thông điệp trong câu thơ của Robert Frost khẳng định giá trị của sự chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn lối đi cho cuộc đời mình. Dám bước trên con đường riêng chính là dám sống là chính mình, dám ước mơ và dám chịu trách nhiệm để tạo nên một cuộc sống có ý nghĩa.
Câu 1: Thể thơ: Lục bát.
Câu 2: Địa điểm gặp gỡ
Hai nhân vật gặp nhau tại lầu hồng (nơi ở của Thúy Kiều khi nàng đang ở lầu xanh của Tú Bà/Mã Kiều). Đây là cuộc gặp gỡ định mệnh khi Từ Hải tìm đến để thăm thú danh tiếng của nàng Kiều.
Câu 3: Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều qua 4 câu thơ Qua lời thoại, ta thấy một Thúy Kiều:
- Sự khiêm nhường và tự trọng: Nàng tự coi mình là "cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt" để bày tỏ sự kính trọng trước bậc anh hùng, nhưng đồng thời vẫn giữ được cốt cách thanh cao.
- Sự tinh tế và sắc sảo: Kiều không chỉ khen ngợi bình thường mà dùng điển tích "Tấn Dương", "mây rồng" để khẳng định Từ Hải không phải người thường mà là bậc quân vương, có chí lớn làm nên nghiệp lớn.
- Khát vọng tìm nơi nương tựa: Nàng nhìn thấy ở Từ Hải một "lượng cả bao dung", một người có thể cứu vớt cuộc đời mình khỏi vũng bùn nhơ nhớp.
Câu 4: Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích Từ Hải hiện lên với vẻ đẹp lẫm liệt của một vị anh hùng lý tưởng:
- Vẻ ngoài và khí phách: "Đội trời đạp đất", "côn quyền hơn sức lược thao gồm tài". Đây là con người của tự do, phóng khoáng, không chịu sự gò bó của lễ giáo hay cường quyền.
**Tâm hồn tri kỷ, trọng nghĩa: ** Từ Hải không nhìn Kiều như một kỹ nữ mà nhìn nàng như một "má đào", một người bạn tâm phúc. Chàng trân trọng "mắt xanh" (cái nhìn thấu suốt) của Kiều.
- Sự quyết đoán và hào hiệp: Ngay sau khi gặp gỡ, chàng lập tức "phát hoàn" tiền bạc, chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, biến tình yêu thành hành động giải phóng con người.
Câu 5: Tình cảm/ Cảm xúc khơi gợi từ văn bản Văn bản khơi gợi cảm xúc ngưỡng mộ và xúc động:
- Ngưỡng mộ: Trước tình yêu dựa trên cơ sở tri kỷ ("Anh hùng đoán giữa trần ai mới già"). Đây không chỉ là tình nam nữ thông thường mà là sự trân trọng tài năng và nhân cách của nhau giữa những người cùng khổ và cùng chí hướng.
- Xúc động và hy vọng: Cảm thấy ấm lòng khi thấy Thúy Kiều sau bao sóng gió đã gặp được người thực sự hiểu và trân trọng mình. Hình ảnh Từ Hải đem lại niềm tin vào công lý và sự giải phóng con người trong một xã hội đen tối.
Nói cái đấy hoài
Câu 1. Thể thơ: Lục bát.
Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: + Ngoại hình: Oai phong + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều , xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5:Sự đồng cảm, xót thương cho số phận Thúy Kiều và niềm tin vào tình yêu, công lý.Đoạn trích khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc với số phận bi kịch, đầy tủi nhục của Thúy Kiều.Thể hiện niềm tin vào tình yêu chân thành, sự gặp gỡ định mệnh giữa hai con người tài hoa, bạc mệnh.Tình cảm trân trọng đối với nhân vật Từ Hải, biểu tượng của người anh hùng dám hành động, mang lại hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn cho Kiều.Khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Nguyễn Du, lên án xã hội phong kiến bất công và đề cao khát vọng hạnh phúc con người.
Câu 1
Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau tại phòng Tiên liên do Từ Hải thiết đãi
Câu 3
Nhân vật Thúy Kiều qua lời đáp rất khiêm nhường và thận trọng
Nàng ca ngợi tấm lòng khoan dung, độ lượng của Từ Hải so với người anh hùng ,đồng thời những câu thơ này cho thấy Thúy Kiều mang sáng rất của một người phụ nữ dịu dàng nhún nhường nhưng rất thông minh và có lập trường đúng đắn.
Câu 4
Từ Hải là một người anh hùng ,tài giỏi ,khí phách hiên ngang ,có chí lớn và sống trọng tình nghĩa, ông trân trọng yêu thương Thúy Kiều và đối xử với nàng rất đàng hoàng.
Câu 5
Đoạn trích gợi trong em cảm xúc xúc động và ngưỡng mộ. Xúc động vì sau bao sóng, Thúy Kiều cuối cùng cũng gặp được một người thật sự trân trọng và thấu hiểu mình. Ngưỡng mộ trước hình ảnh từ hải người anh hùng có chí lớn nhưng rất trọng tình nghĩa. Cuộc gặp gỡ giữa "trai anh hùng -gái thuyền quyên " tạo nên vẻ đẹp lãng mạn, đầy hy vọng. Đoạn thơ khiến em tin rằng giữa cuộc đời nhiều bất công, vẫn có những tấm lòng cao đẹp và những mối duyên đáng trân trọng.
Câu 1
Văn bản được viết theo thể thơ: Lục bát.
Câu 2
Hai nhân vật gặp nhau tại lầu hồng (nơi Thúy Kiều đang ở, cụ thể là lầu xanh của Tú Bà/Bạc Bà nơi nàng đang phải tiếp khách). Chi tiết trong văn bản: "Thiếp danh đưa đến lầu hồng".
Câu 3
Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều qua các câu thơ. Sự khiêm nhường và khéo léo: Kiều tự coi mình là "cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt", thể hiện thái độ tôn kính trước vị anh hùng. Sự tinh tế, sắc sảo: Nàng nhận ra chân giá trị của Từ Hải ngay từ lần đầu gặp mặt ("Tấn Dương được thấy mây rồng có phen"). Khát vọng tri kỷ: Qua cách nói chuyện, Kiều không chỉ coi Từ Hải là khách làng chơi mà là một "bậc đại lượng", một người có thể cứu vớt cuộc đời nàng.
Câu 4
Vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt: Là một "đấng anh hào" với tầm vóc vũ trụ ("Đội trời đạp đất ở đời"), tài năng xuất chúng. Tính cách phóng khoáng, tự do: Không chịu gò bó, thích vẫy vùng giữa trời đất. Con mắt tinh đời và trọng nghĩa: Từ Hải nhận ra vẻ đẹp tâm hồn và tài năng của Kiều ngay lập tức ("Khen cho con mắt tinh đời"). Chàng đối xử với Kiều bằng sự trân trọng của một người tri kỷ, không phải thái độ trịch thượng của kẻ có tiền..
Câu 5
Sự ngưỡng mộ: Đối với vẻ đẹp nam nhi đại trượng phu của Từ Hải và sự thông minh, sắc sảo của Thúy Kiều. Sự xúc động: Trước cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn tri kỷ ("trai anh hùng, gái thuyền quyên"). Niềm hy vọng: Cảm thấy ấm lòng khi giữa nghịch cảnh, Thúy Kiều đã tìm thấy một điểm tựa vững chắc, một người thực sự hiểu và trân trọng giá trị của nàng. Vì sao: Vì văn bản đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật lý tưởng, đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du khi để những con người tài hoa tìm thấy nhau.
Cầu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2
Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau tại lầu hồng (nơi Kiều tiếp khách). “Thiếp danh đưa đến lầu hồng”.
Câu 3
Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều qua các câu thơ:
“Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!”
Qua đoạn thơ, Thúy Kiều hiện lên là người khiêm nhường, ý thức rõ thân phận, giàu tự trọng và có nhân cách đẹp. Kiều tự xem mình là “thân bèo bọt”, “cỏ nội hoa hèn”, thể hiện sự tự ti về thân phận, nhưng không hèn mọn trong nhân cách. Đồng thời, nàng cũng bộc lộ sự trân trọng, ngưỡng mộ Từ Hải, coi Từ Hải như “mây rồng” – hình ảnh của người anh hùng phi thường. Lời nói của Kiều vừa lễ độ, khiêm nhường, vừa tinh tế, sâu sắc, cho thấy nàng là người có trí tuệ, hiểu đạo lí, biết cư xử đúng mực.
Câu 4
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
Từ Hải hiện lên là hình tượng người anh hùng lí tưởng: có chí lớn, bản lĩnh lớn, khí phách hiên ngang (“đội trời đạp đất”, “gươm đàn nửa gánh non sông”). Không chỉ mạnh mẽ, Từ Hải còn là người trọng tình, trọng nghĩa, có chiều sâu tâm hồn, biết trân trọng con người, trân trọng tri kỉ. Khi gặp Thúy Kiều, Từ Hải không chỉ bị cuốn hút bởi nhan sắc mà còn bị chinh phục bởi trí tuệ, nhân cách và tâm hồn của nàng. Nhân vật Từ Hải kết hợp hài hòa giữa chất anh hùng và chất trữ tình, vừa oai phong, vừa giàu cảm xúc nhân văn.
Câu 5
Đoạn trích khơi gợi trong em sự ngưỡng mộ, cảm phục và xúc động. Ngưỡng mộ trước hình tượng người anh hùng Từ Hải – mạnh mẽ, nghĩa khí, cao thượng. Xúc động trước vẻ đẹp nhân cách của Thúy Kiều – khiêm nhường, sâu sắc, giàu lòng tự trọng. Đồng thời, em cũng cảm nhận được vẻ đẹp của một mối tri kỉ: sự gặp gỡ không chỉ bằng nhan sắc mà bằng tâm hồn, trí tuệ và nhân cách. Chính sự đồng điệu giữa hai con người đẹp cả tài năng lẫn tâm hồn đã tạo nên cảm xúc trân trọng và tin tưởng vào những giá trị tốt đẹp của con người trong cuộc sống.
Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
Câu 1.
Thể thơ Lục bát (cặp câu 6 tiếng và 8 tiếng luân phiên).
Câu 2.
Hai nhân vật gặp nhau tại lầu hồng (nơi Thúy Kiều đang ở tại lầu xanh của Tú Bà/Mã Kiều, cụ thể trong đoạn này là nơi tiếp khách của nàng).
Câu 3.
"Thưa rằng: Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!"
* Nhận xét:
* Sự tinh tế và khéo léo: Kiều sử dụng ngôn ngữ khiêm nhường, lễ phép (thưa rằng, chút thân bèo bọt) nhưng lại rất sắc sảo trong việc nhận diện chân tướng anh hùng của Từ Hải.
* Khả năng "nhìn người" (tinh đời): Nàng ví Từ Hải như "mây rồng" (bậc đế vương, anh hùng thực thụ), cho thấy nàng không chỉ xem Từ Hải là một khách làng chơi thông thường mà là cứu cánh của đời mình.
* Thân phận đáng thương: Qua cách nói "cỏ nội hoa hèn", "bèo bọt", ta thấy được ý thức sâu sắc của Kiều về thân phận trôi nổi, thấp kém của mình trong xã hội đương thời, đồng thời là khát vọng được che chở.
Câu 4.
* Vẻ đẹp ngoại hình và khí phách: Là một "đấng anh hào" với tầm vóc kỳ vĩ (đội trời đạp đất), tự do phóng khoáng (giang hồ quen thú vẫy vùng).
* Sự tinh đời và trọng nghĩa: Từ Hải không nhìn Kiều như một kỹ nữ mà nhìn nàng như một "tri kỷ". Chàng khen Kiều có "con mắt tinh đời" khi nhận ra chí hướng anh hùng của mình giữa lúc chưa thành danh.
* Tính cách quyết đoán, tự tin: Cách nói năng mạnh mẽ, dứt khoát, phong thái ung dung, đĩnh đạc của một bậc quân tử, anh hùng đại trượng phu.
Câu 5. Văn bản gợi :
* Tình cảm: Sự ngưỡng mộ và trân trọng.
* Vì sao: * Ngưỡng mộ vẻ đẹp của những tâm hồn tri kỷ: Dù gặp nhau trong hoàn cảnh éo le (lầu xanh), nhưng họ đã vượt qua những định kiến tầm thường để tìm thấy sự đồng điệu về tâm hồn và chí hướng.
* Trân trọng khát vọng tự do và công lý: Hình ảnh Từ Hải đại diện cho ước mơ về một người anh hùng có thể giải thoát con người khỏi áp bức, mang lại lẽ phải cho những thân phận như Thúy Kiều.
* Xót xa cho thân phận người phụ nữ: Cảm thấy mủi lòng trước sự khiêm nhường, tự ti về thân phận của một người con gái tài hoa nhưng gặp nhiều truân chuyên.
Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thủy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: Gợi ý trả lời: + Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiểu ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. Tình cảm/cảm xúc của bản thân: + Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. + Trần trọng đối với Thúy Kiều. + Vui mừng với kết thúc viên mãn
Cầu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật
Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh
Câu 1: Thể thơ
Câu 2: Địa điểm gặp nhau
Câu 3: Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều
Qua các câu thơ: "Thưa rằng: Lượng cả bao dung... Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau ta có thể thấy:
Câu 4: Nhận xét về nhân vật Từ Hải
Dựa vào đoạn trích và bối cảnh tác phẩm:
Câu 5: Tình cảm/ cảm xúc khơi gợi
Câu 1 (0,5 điểm):
– Thể thơ: Lục bát.
Câu 2 (0,5 điểm):
– Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (chốn thanh lâu) – nơi Kiều đang ở.
Câu 3 (1,0 điểm):
– Qua những câu thơ, Thúy Kiều hiện lên là người khéo léo, thông minh, khiêm nhường nhưng tinh tế và biết nhìn người.
– Nàng tự nhận mình “thân bèo bọt” nhưng thực chất là lời nói nhún nhường, thể hiện sự sắc sảo và trân trọng anh hùng Từ Hải.
Câu 4:
Qua đoạn trích, Từ Hải hiện lên là một người anh hùng có chí lớn và khí phách hiên ngang. Chàng tự tin, bản lĩnh, lời nói mạnh mẽ thể hiện tầm vóc phi thường. Tuy là bậc anh hùng nhưng Từ Hải rất tinh tế và biết trân trọng người tri kỉ. Chàng nhận ra vẻ đẹp tâm hồn và sự thông minh của Thúy Kiều. Điều đó cho thấy Từ Hải không chỉ có sức mạnh mà còn có tấm lòng rộng mở, biết yêu và biết quý trọng tài sắc.
Câu 5:
Đoạn trích gợi cho em cảm xúc ngưỡng mộ và xúc động trước cuộc gặp gỡ giữa anh hùng và giai nhân. Đó không chỉ là sự đồng cảm trong tình yêu mà còn là sự gặp gỡ của hai tâm hồn tri kỉ. Em cảm thấy trân trọng vẻ đẹp tài năng và nhân cách của Thúy Kiều. Đồng thời, em cũng khâm phục khí phách và tấm lòng của Từ Hải. Qua đó, tác giả gửi gắm ước mơ về một tình yêu đẹp, cao thượng và đầy sự thấu hiểu.
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (lầu hồng), nơi Kiều đang sống cuộc đời chốn thanh lâu sau những biến cố đau thương của số phận.
Câu 3: Qua những câu thơ “Lượng cả bao dung… Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!”, Thúy Kiều hiện lên là người phụ nữ có tâm hồn cao đẹp và giàu lòng tự trọng. Nàng ý thức rõ thân phận nhỏ bé, lênh đênh của mình qua hình ảnh “cỏ nội hoa hèn”, “chút thân bèo bọt”, thể hiện sự khiêm nhường và tự ý thức sâu sắc về hoàn cảnh. Tuy nhiên, trong cách nói trang trọng, dùng điển tích “Tấn Dương”, “mây rồng”, Kiều còn cho thấy sự thông minh, tinh tế và có học thức. Dù sống trong cảnh éo le, nàng vẫn giữ được phẩm giá và nét đẹp thanh cao trong tâm hồn.
Câu 4: Qua đoạn trích, Từ Hải được khắc họa là hình tượng anh hùng lí tưởng mang tầm vóc lớn lao. Những câu thơ như “đội trời đạp đất ở đời”, “côn quyền hơn sức lược thao gồm tài” đã làm nổi bật khí phách hiên ngang, tài năng xuất chúng và chí lớn tung hoành bốn phương của chàng. Từ Hải sống tự do giữa giang hồ, coi thường danh lợi tầm thường, khát vọng lập nên sự nghiệp lớn. Không chỉ là anh hùng dũng mãnh, chàng còn là người trọng tình nghĩa, có con mắt tinh đời khi nhận ra giá trị của Thúy Kiều giữa chốn “trần ai”, trân trọng và coi nàng là tri kỉ.
Câu 5: Đoạn trích đã khơi gợi trong em cảm xúc ngưỡng mộ và xúc động trước cuộc gặp gỡ đẹp đẽ giữa hai con người tài sắc. Đó là sự đồng điệu giữa “trai anh hùng” và “gái thuyền quyên”, giữa hai tâm hồn biết trân trọng nhau vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã. Đồng thời, em càng thêm khâm phục tài năng của Nguyễn Du khi xây dựng thành công hình tượng Từ Hải mang khát vọng tự do, công lí và vẻ đẹp lí tưởng, qua đó gửi gắm ước mơ về một cuộc đời xứng đáng hơn cho con người, đặc biệt là cho Thúy Kiều.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy
Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu
Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
- Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
- Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.
Câu 1:
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2:
Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3:
Qua những câu thơ đã cho, Thúy Kiều hiện lên là người phụ nữ khiêm nhường, ý thức rõ thân phận nhỏ bé, nổi trôi của mình. Nàng nói năng mềm mỏng, lễ độ, thể hiện sự trân trọng và biết ơn trước tấm lòng của Từ Hải. Dù rơi vào hoàn cảnh éo le, Kiều vẫn giữ được lòng tự trọng và phẩm giá đáng quý.
Câu 4:
Từ Hải hiện lên là một đấng anh hùng có chí khí lớn, “đội trời đạp đất”, tung hoành ngang dọc. Chàng có khí phách mạnh mẽ, sống tự do, không bị ràng buộc bởi lễ giáo thông thường. Đồng thời, Từ Hải còn là người biết trân trọng tài sắc và nhân cách của Thúy Kiều, thể hiện sự tri kỉ và nghĩa tình.
Câu 5:
Đoạn trích gợi cho em sự ngưỡng mộ trước khí phách anh hùng của Từ Hải và niềm cảm thương đối với thân phận Thúy Kiều. Qua đó, em càng thêm trân trọng giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.
Câu 1
Thể thơ: Thơ lục bát.
Câu 2
Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (chốn thanh lâu) – nơi Kiều đang sống.
Câu 3
Qua những câu thơ:
“Lượng cả bao dung…
Rộng thương cỏ nội hoa hèn…”
→ Thúy Kiều hiện lên là người:
-Thông minh, sắc sảo, tinh tế.
-Khiêm nhường nhưng không tự ti.
-Có tấm lòng nhân hậu, biết trân trọng anh hùng.
-Khéo léo, có con mắt nhìn người chính xác.
Câu 4 Từ Hải qua đoạn trích:
-Là bậc anh hùng “đội trời đạp đất”, chí lớn phi thường.
-Tài năng, bản lĩnh, khí phách hiên ngang.
-Trọng tình, biết quý trọng người tài sắc.
-Có sự đồng điệu tâm hồn với Thúy Kiều.
Câu 5
Đoạn trích gợi trong em:
Sự ngưỡng mộ mối tình tri âm tri kỉ giữa Từ Hải và Thúy Kiều.Trân trọng vẻ đẹp của người anh hùng và người phụ nữ tài sắc.Cảm nhận được khát vọng tự do, hạnh phúc và sự đồng cảm sâu sắc giữa hai con người.
Câu1:Thể thơ lục bát
Câu 2: Thúy Kiều và Lý Hải gặp nhau ở lầu xanh
Câu 3 Ngôn ngữ Thúy Kiều:từ tốn,dịu dàng,sử dụng điển cố,điển tích,vận dụng lối nói ẩn dụ,bóng gió để gửi gắm tâm tư ,tình cảm của bản thân
Câu 4:
Lý Hải là một người có ngoại hình oai phong lẫm liệt,đúng hình mẫu một anh hùng sử dụng ngôn ngữ nhẹ nhàng,từ tốn,hào phóng ,hành động tôn trọng Kiều xem Kiều như người tri kỉ,cứu Kiều ra khỏi lầu xanh.
Câu 5 Qua văn bản em thấy sự ngưỡng mộ đối với Lý Hải vì đã cứu Kiều ra khỏi lầu xanh giúp Kiều thoát khỏi nguy hiểm.Trân trọng đối với Thúy Kiều, một người phụ nữ hiền lành,xinh đẹp.Và cuối cùng họ cũng đã có đưojc một cái kết viên mãn
Câu 1:
- Thể Thơ lục bát
Câu 2:
2 nhân vật Từ Hải và Thuý Kiều gặp nhau ở lầu xanh
Câu 3:
Nhật xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thuý Kiều qua bốn câu thơ : Dịu dàng, từ tốn, sử dụng điển cố, điển tích, vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân
Câu 4:
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích
+ Ngoại hình: Oan phong lẫm liệ, đúng hình mẫu một anh hùng
+ Ngôn ngữ : Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng
+ Hành động: tôn trọng kiều, xem kiều như người tri kỉ, cứu kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “ Phỉ nguyên sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”
Câu 5:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải
+ Trân trọng đối với Thuý Kiều
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn
Câu1 thể thơ lục bát
Câu 1 Thể thơ lục bát
Câu 2 Hai nhân vật gặp nhau tại lầu hồng (nơi Thúy Kiều đang ở - chốn lầu xanh của Tú Bà/Băng Nhân).
Câu 3 Nhận xét:
Sự tinh tế và sắc sảo: Thúy Kiều sớm nhận ra Từ Hải không phải người thường mà là một bậc anh hùng ("mây rồng").
Sự khiêm nhường và khéo léo: Cách xưng hô "cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt" cho thấy thái độ nhún nhường, biết mình biết người của Kiều. Cô đang gửi gắm hy vọng vào sự che chở của Từ Hải để thoát khỏi cảnh bùn lầy.
Khát vọng tự do: Qua lời nói, Kiều thể hiện mong muốn tìm được một điểm tựa vững chắc để thay đổi số phận.
Câu 4 Vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt: Là một "đấng anh hào", "đội trời đạp đất", có tài năng phi thường ("thao gồm tài").
Phóng khoáng, tự tại: Sống đời giang hồ, coi khinh những ràng buộc tầm thường.
Trọng tình trọng nghĩa: Dù là anh hùng, Từ Hải vẫn trân trọng tài năng và nhan sắc của Kiều, coi nàng là "tri kỷ", có cái nhìn thấu suốt nhân thế ("con mắt tinh đời"). Từ Hải hiện thân cho khát vọng công lý và tự do.
Câu 5 Đoạn trích về cuộc kỳ ngộ giữa Thúy Kiều và Từ Hải trong Truyện Kiều đã khơi gợi trong lòng người đọc một niềm ngưỡng mộ sâu sắc pha lẫn sự xúc động chân thành. Trước hết, đó là sự ngưỡng mộ dành cho vẻ đẹp khí phách "đội trời đạp đất" của Từ Hải – một người anh hùng không chỉ có sức mạnh phi thường mà còn sở hữu một tâm hồn phóng khoáng, vượt lên trên mọi định kiến tầm thường của xã hội đương thời để nhận ra giá trị thực sự của nàng Kiều. Người đọc không khỏi xúc động khi chứng kiến sự thấu hiểu giữa hai tâm hồn cô đơn: một bên là người con gái tài hoa bạc mệnh đang chìm nổi chốn lầu xanh, một bên là bậc trượng phu phong trần đầy khát vọng. Cảm giác hy vọng len lỏi trong từng câu chữ khi Thúy Kiều khéo léo gửi gắm thân phận "bèo bọt" của mình vào sự che chở của "mây rồng". Chính sự trân trọng mà Từ Hải dành cho Kiều thông qua lời khẳng định "tri kỷ trước sau" đã tạo nên một niềm tin mãnh liệt về sự công bằng và tự do, khiến người đọc cảm thấy ấm lòng trước một tình yêu không chỉ dựa trên nhan sắc mà còn dựa trên sự thấu hiểu và tôn trọng nhân cách lẫn nhau.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
– Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.
Câu 1
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2
Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu hồng (chốn thanh lâu – nơi Kiều ở).
Câu 3
Qua những câu thơ trên, Thúy Kiều hiện lên là người khéo léo, thông minh và tinh tế trong lời nói. Nàng biết nhún nhường, ca ngợi khí độ của Từ Hải (“Lượng cả bao dung”), đồng thời kín đáo bày tỏ tấm lòng mình. Điều đó cho thấy Kiều vừa sắc sảo vừa giàu tình cảm.
Câu 4
Qua đoạn trích, Từ Hải là người anh hùng, có chí lớn, hào hiệp và trọng tình nghĩa. Chàng có phong thái đường đường, tự tin, dám đội trời đạp đất, đồng thời biết trân trọng tài sắc và tấm lòng của Kiều.
Câu 5
Văn bản gợi lên cảm xúc trân trọng, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của người anh hùng và người phụ nữ tài sắc. Đồng thời còn gợi cảm xúc xúc động trước sự đồng điệu tâm hồn giữa Từ Hải và Thúy Kiều – một mối tình đẹp, đầy tri kỉ.
Câu 1
Thể thơ của văn bản: Thể thơ Lục bát
Câu 2
Nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở: Lầu hồng (nơi Thúy Kiều đang ở, thuộc lều xanh/nhà chứa của Tú Bà/Bạc Bà). Đoạn trích có câu: "Thiếp danh đưa đến lầu hồng".
Câu 3
Qua những câu thơ "Thưa rằng: Lượng cả bao dung... Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!", ta thấy nhân vật Thúy Kiều: Sự khiêm nhường, nhún nhường: Kiều tự ví mình là "cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt" để bày tỏ sự kính trọng trước tầm vóc của Từ Hải. Sự tinh tế, khéo léo trong giao tiếp: Nàng dùng lời lẽ chân thành để cầu mong sự che chở, bao dung từ người anh hùng. Ý thức về thân phận: Dù tài sắc nhưng nàng luôn ý thức được cảnh ngộ bấp bênh, trôi dạt của mình giữa cuộc đời.
Câu4
Vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt: Là một "đấng anh hào" với cốt cách phi thường ("Đội trời đạp đất ở đời"), đầy bản lĩnh và khát vọng tự do. Sự phóng khoáng, tự tin: Cách nói năng thẳng thắn, không câu nệ, tin vào mắt nhìn người của mình ("Anh hùng đoán giữa trần ai mới già"). Tâm hồn tri kỷ: Từ Hải không nhìn Kiều như một kỹ nữ tầm thường mà nhìn thấy ở nàng một "tri kỷ", một người thấu hiểu và xứng đáng được trân trọng.
Câu 5
Văn bản khơi gợi những tình cảm/cảm xúc: Sự ngưỡng mộ: Ngưỡng mộ vẻ đẹp khí phách của Từ Hải và sự thông minh, tinh tế của Thúy Kiều. Sự xúc động: Trước cuộc gặp gỡ định mệnh giữa "trai anh hùng, gái thuyền quyên", nơi những tâm hồn tri kỷ tìm thấy nhau giữa cuộc đời đầy sóng gió. Niềm tin vào giá trị con người: Cảm giác ấm lòng khi thấy những con người có tài, có tâm biết trân trọng và nâng đỡ nhau. Vì sao? Vì đoạn trích không chỉ là một cuộc gặp gỡ thông thường mà là sự giao thoa của hai tâm hồn lớn, vượt qua những định kiến về thân phận để tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiêu qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cám cúa bán thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ('thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều
"Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
- Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
- Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thế hiện được quan điếm cá nhân.
Câu 1. -Thể thơ của văn bản là thể thơ Lục bát. (Dấu hiệu là : Các cặp câu 6 chữ và 8 chữ luân phiên, gieo vần chân và vần lưng đặc trưng). Câu 2. - Hai nhân vật gặp nhau tại lầu hồng (nơi ở của Thúy Kiều tại lầu xanh). - Dẫn chứng: "Thiếp danh đưa đến lầu hồng / Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa." Câu 3. Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều qua những câu thơ được trích dẫn. - Sự khiêm nhường và tinh tế: Kiều sử dụng những hình ảnh so sánh hạ mình như "cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt" để bày tỏ thái độ kính trọng trước vị anh hùng. - Sự sắc sảo trong nhìn nhận con người: Nàng dùng những từ ngữ trang trọng như "lượng cả bao dung", "mây rồng" để ca ngợi chí khí của Từ Hải, cho thấy nàng là người có "mắt tinh đời", thấu hiểu giá trị của người đối diện. Câu 4. - Vẻ đẹp khí phách, lẫm liệt: Là một bậc anh hùng có tầm vóc phi thường, "đội trời đạp đất", yêu thích cuộc sống tự do, phóng khoáng nơi "giang hồ". - Tâm hồn phóng khoáng, trọng nghĩa khí: Từ Hải không câu nệ xuất thân của Kiều, trái lại còn đánh giá rất cao tài năng và tâm hồn nàng. - Sự chân thành: Cách xưng hô và đối thoại của Từ cho thấy đây là một người thẳng thắn, coi Kiều là tri kỷ đích thực chứ không phải một cuộc gặp gỡ trăng hoa thông thường. Câu 5. Văn bản trên đã khởi gợi cảm xúc: - Cảm xúc: Sự ngưỡng mộ và niềm xúc động trước một tình cảm tri âm tri kỷ đẹp đẽ. - Lý do: Vì văn bản đã khắc họa một cuộc gặp gỡ vượt lên trên những quy chuẩn thông thường của xã hội phong kiến: một bên là anh hùng, một bên là mỹ nữ nhưng cùng gặp nhau ở sự thấu hiểu và trân trọng tài năng của nhau. - Đồng thời, đoạn trích thắp lên hy vọng về sự tự do và công bằng cho những con người tài hoa nhưng gặp cảnh truân chuyên như Thúy Kiều.
Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gửi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: – Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. – Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. – Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” → Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. Tình cảm/cảm xúc của bản thân: – Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. – Trân trọng đối với Thúy Kiều. – Vui mừng với kết thúc viên mãn.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật
Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ấn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
Đoạn trích gợi cho em:
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (chốn thanh lâu).
Câu 3.
Qua những câu thơ trên, Thúy Kiều hiện lên là người khiêm nhường, khéo léo và thông minh trong cách nói chuyện. Nàng tự nhận mình “bèo bọt”, nhỏ bé để bày tỏ sự kính trọng với Từ Hải. Đồng thời, lời nói của Kiều cũng cho thấy tấm lòng biết ơn và mong muốn được nương tựa, thể hiện vẻ đẹp tài sắc, tinh tế và giàu tình cảm của nàng.
Câu 4.
Qua đoạn trích, Từ Hải hiện lên là người anh hùng có khí phách, tự tin và hào sảng. Chàng có con mắt tinh đời, biết trân trọng tài sắc của Thúy Kiều. Đồng thời, Từ Hải cũng là người rộng lượng, nghĩa khí và có khát vọng lớn, mang phong thái của một bậc anh hùng.
Câu 5.
Đoạn trích gợi cho em sự cảm phục trước vẻ đẹp tài sắc và phẩm chất của Thúy Kiều, đồng thời ngưỡng mộ khí phách anh hùng của Từ Hải. Qua đó, em cảm nhận được giá trị nhân văn sâu sắc và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du khi xây dựng nhân vật và khắc họa tâm lí con người rất tinh tế.
Câu 1.
Thế thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiêu gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ('thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
- Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
- Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.
1