Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong những bài học mà cha ông ta vẫn truyền lại cho thế hệ trẻ có bài học về sự đoàn kết giữa cá nhân và tập thể. Không có cá nhân tách biệt, cũng không có tập thể mà chỉ có một người. Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể vẫn biểu hiện rất rõ trong cuộc sống của mỗi người. Câu chuyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” đã phản ánh được đúng đắn mối quan hệ gắn bó ấy. Cha ông ta đã kín đáo gửi gắm quan niệm sống cũng như bài học qua câu chuyện dân gian hàm chứa ý nghĩa sâu sắc này.
“Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là câu chuyện hài hước, dí dỏm kể về cuộc sống của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng. Chỉ vì sự ganh ghét, đố kị của cô Mắt đã dẫn đến tình huống cả bọn cùng tẩy chay lão Miệng, vì nghĩ rằng lão Miệng không phải làm gì nhưng cũng được hưởng thụ mọi miếng ngon ở trên đời. Suy nghĩ của cô Mắt đã khiến cho cậu Chân, cậu Tay và bác Tai cùng đồng tình ủng hộ.
Và diễn biến câu chuyện cứ thế trở nên phức tạp hơn. Khi nghe sự giải thích của cô Mắt thì tất cả mọi người đều tìm đến lão Miệng và nói “Từ nay chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay chúng tôi đã cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi”. Mặc dù câu nói thể hiện sự tức giận, bực mình, bức bội bấy lâu nay nhưng suy nghĩ của cô Mắt không phải là không có lí. Vì cô Mắt chỉ nghĩ rằng lão Miệng không phải làm việc vất vả gì, chỉ việc ăn nên gây ra sự ghen ăn tức ở là đúng. Nhưng cô Mắt đã không biết rằng lão Miệng cũng làm, việc mà lão làm hằng ngày chính là nhai thức ăn, giúp nuôi sống cơ thể, để cho các bộ phận khác trên cơ thể có thể khỏe mạnh để hoạt động được.
Tuy nhiên lời giải thích của lão Miệng không được ai lắng nghe và đồng cảm. Sự rạn nứt, tan vỡ của các bộ phận trên cơ thể người cũng từ đó mà hình thành. Một tập thể từng hòa thuận, đoàn kết với nhau giờ bị tách biệt, chia bè kéo cánh.
Và chính suy nghĩ phiến diện của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai đã dẫn đến nhiều hậu quả tai hại, và cái giá mà họ phải trả cũng rất đắt. Vì không phải làm việc để nuôi lão Miệng nên các bộ phận đó trở nên uể oải, mệt nhọc, không có động lực và tinh thần làm việc. Cậu Chân, cậu Tay cũng không vận động, chạy nhảy nhiều như trước nữa. Cô Mắt không còn tinh anh, suốt ngày mệt mỏi. Tất cả mọi người đều rơi vào trạng thái mệt mỏi, không thiết tha làm việc. Đây chính là hậu quả mà cả bọn phải trả giá, và việc họp nhau bàn lại mọi chuyện cũng xuất phát từ đây.
Bác Tai là người lớn tuổi nhất, đã ngộ ra điều mà bấy lâu nay mọi người vẫn nghĩ không đúng. Bác đã giải thích cho mọi người “Chúng ta lầm rồi các cháu ạ….” Chính lời nói chí lí như thế này đã thuyết phục được cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay cùng đi đến nói chuyện với lão Miệng.
Những ngày cô Mắt, cậu Chân, cậu tay và bác Tai không làm việc, không có gì để ăn nên lão Miệng cũng trở nên mệt mỏi và không còn sức sống.
Như vậy qua chi tiết này có thể thấy được nếu như trong một tập thể không có sự đồng lòng và hợp sức của tất cả mọi người thì tập thể đó sẽ rơi vào bệ rạc và không còn một thể thống nhất. Bởi vậy trách nhiệm của mỗi cá nhân là phải cố gắng vì tập thể chứ không phải vì chính bản thân mình.
Câu chuyện kết thúc trong sự hòa thuận, vui vẻ của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng. Sự hòa thuận này xuất phát từ sự thấu hiểu cho nhau, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.
Từ câu chuyện hài hước, dí dỏm trên mà chúng ta mới ý thức được mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa cá nhân và tập thể, cách ứng xử của từng cá nhân trong một tập thể cũng hoàn toàn quan trọng, quyết định đến sự tồn tại của tập thể đó.
@.@
lm đc câu 1 thui !
Câu 1.
VB: Buổi học cuối cùng
TG: An-phông-xơ Đô-đê
Hoàn cảnh sáng tác :
- Truyện “Buổi học cuối cùng” lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử: Sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870-1871, nước Pháp thua trận, hai vùng An-dát và Lo-ren giáp biên giới với Phổ bị nhập vào nước Phổ. Cho nên các trường học ở hai vùng này bị buộc học tiếng Đức. Truyện viết về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở một trường làng thuộc vùng An-dát.
Câu 2.
Phó từ trong đoạn văn : vẫn , cũng
- Ý nghĩa : phó từ là làm thành tố phụ trong cụm động từ, chỉ sự so sánh, tiếp diễn của hành động
Câu 3.
- Câu nói của thầy Ha-men đã nêu bật giá trị thiêng liêng và sức mạnh to lớn của tiếng nói dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do
- Tiếng nói là tài sản tinh thần vô giá của một dân tộc nó được vun đắp qua hàng nghìn năm. Tiếng nói lưu giữ cả một nền văn hóa của dân tộc.
- Vì vậy kẻ thù khi xâm lược chúng muốn đồng hóa cả về ngôn ngữ, làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng bị mai một đi, làm cho nhân dân không còn tìm ra con đường đấu tranh
Câu 4.
việc làm để bảo vệ sự giàu đẹp của tiếng mẹ đẻ :
- Yêu tiếng nói của dân tộc mình
- Sử dụng tiếng nói của dân tộc trong giao tiếp hàng ngày, không lai căng, pha tạp ngôn ngữ khác vào ngôn ngữ nói của mình
- Trân trọng ngôn ngữ dân tộc mình, phát huy cái hay và giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc
- Sử dụng thành thạo ngôn từ dân tộc vào đúng mục đích, phù hợp với nội dung , hoàn cảnh giao tiếp
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN
Truyện ngắn Buổi học cuối cùng của nhà văn nổi tiếng An-phông-xơ Đô- đê (1840 – 1897) kể về lớp Tiểu học ở một làng quê nhỏ bé vùng An-dát, Lo-ren vào thời kì bị quân Phổ (Đức) chiếm đóng. Chính quyền Phổ sau khi thắng Pháp đã cắt phần đất giáp biên giới này nhập vào nước Phổ và ra lệnh các trường học phải dạy bằng tiếng Đức. Buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp đã diễn ra trong không khí trang nghiêm và cảm động. Hai nhân vật chính của truyện là chú học trò Phrăng và thầy giáo già Ha-men. Diễn biến tâm lí của hai nhân vật này được nhà văn miêu tả rất tự nhiên, chân thực. Sáng hôm nay, lúc đi qua trụ sở xã, thấy có nhiều người đứng lố nhố trước bảng dán cáo thị của quân Đức, Phrăng đã nghĩ bụng: Lại có chuyện gì nữa đây? Khi tới trường, điều làm cho chú lạ lùng hơn nữa là không khí lớp học mọi ngày ồn ào như vỡ chợ thì lúc này mọi sự đều bình lặng y như một buổi sáng chủ nhật. Nhìn qua cửa sổ, Phrăng thấy các bạn đã ngồi vào chỗ và thầy Ha-men đang đi đi lại lại với cây thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách. Cậu bé rón rén mở cửa bước vào lớp trước sự chứng kiến của mọi người. Cậu đỏ mặt tía tai và sợ hãi vô cùng. Chỉ khi đã ngồi xuống chỗ của mình, cậu mới hoàn hồn và..
chúc bạn học tốt
Mẹ ơi, mẹ hy sinh cho con nhiều đến thế mà chưa bao giờ mẹ đòi con trả công. mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất, cao cả nhất, vĩ đại nhất. Đi suốt đời này có ai bằng mẹ đâu. Có ai sẵn sàng che chở cho con bất cứ lúc nào. Ôi mẹ yêu của con! Giá như con đủ can đảm để nói lên ba tiếng: “ Con yêu mẹ! ” thôi cũng được. Nhưng con đâu dũng cảm, con chỉ điệu đà ủy mỵ chứ đâu được nghiêm khắc như mẹ. Con viết những lời này, dòng này mong mẹ hiểu lòng con hơn. Mẹ đừng nghĩ có khi con chống đối lại mẹ là vì con không thích mẹ. Con mãi yêu mẹ, vui khi có mẹ, buồn khi mẹ gặp điều không may. mẹ là cả cuộc đời của con nên con chỉ mong mẹ mãi mãi sống để yêu con, chăm sóc con, an ủi con, bảo ban con và để con được quan tâm đến mẹ, yêu thương mẹ trọn đời. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trên đời này. Tình cảm ấy đã nuôi dưỡng bao con người trưởng thành, dạy dỗ bao con người khôn lớn. Chính mẹ là nguời đã mang đến cho con thứ tình cảm ấy. Vì vậy, con luôn yêu thương mẹ, mong được lớn nhanh để phụng dưỡng mẹ. Và con muốn nói với mẹ rằng: “ Con dù lớn vẫn là con mẹ. Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con. ”
Câu 1. Ngôi kể: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" – nhân vật En-ri-cô).
Câu 2. Lời của nhân vật:
- "Cái gì thế?" (Lời của người bố).
- "Ông ấy chết rồi, chết rồi!" (Lời người đàn bà).
- "Cháu về đi, cháu ạ; chạy nhanh về với bố cháu, cháu sẽ thấy bố cháu mạnh khỏe, yên lành." (Lời người bố).
- "Cười à?" hoặc "Đồ khốn, ít nhất cũng phải bỏ mũ chào khi trông thấy một người bị tai nạn lao động đi qua." (Lời người râu đen).
Câu 3. Thái độ của Franti và nhân vật "tôi":
- Sự khác biệt:
+ Nhân vật Franti: Dửng dưng, vô cảm, thậm chí là cười cợt trước nỗi đau thương, mất mát của người khác.
+ Nhân vật "tôi": Cảm thấy khiếp sợ, lo lắng và đồng cảm sâu sắc. "Tôi" biết thương xót cho người bị nạn và nghĩ đến sự an toàn của bố mình cũng như bố của các bạn khác
- Suy nghĩ của em: Franti đại diện cho lối sống ích kỷ, thiếu đạo đức và sự thấu cảm – một thái độ đáng bị lên án. Ngược lại, nhân vật "tôi" có tâm hồn nhạy cảm, nhân hậu, biết yêu thương con người – đây là đức tính tốt đẹp cần được học tập.
Câu 4. Biện pháp tu từ:
- Biện pháp: So sánh ("run run như cầy sấy").
- Tác dụng:
+ Gợi hình: Làm nổi bật trạng thái sợ hãi cực độ, lo lắng đến mức không kiểm soát được hành vi của cậu bé thợ nề khi chứng kiến tai nạn.
+ Gợi cảm: Nhấn mạnh sự yếu ớt, đáng thương của đứa trẻ trước biến cố quá lớn, từ đó khơi gợi sự đồng cảm, xót thương nơi người đọc.
Câu 5. Thông điệp của tác giả: Qua văn bản, Edmondo De Amicis muốn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng trắc ẩn và sự thấu cảm giữa người với người. Trong cuộc sống, chúng ta cần biết sẻ chia, xúc động trước nỗi đau của đồng loại và tôn trọng những người lao động, đặc biệt là khi họ gặp hoạn nạn. Sự vô cảm (như nhân vật Franti) là một biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức. Đồng thời, câu chuyện còn nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự an toàn và tình cảm gia đình thiêng liêng, hãy luôn biết trân trọng những giây phút bình yên bên người thân.
Trả lời :
Câu 1. Ngôi kể
Câu 2. Lời của nhân vật
Câu 3. Sự khác biệt về thái độ của Franti và nhân vật "tôi"
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ
Câu 5. Thông điệp của tác giả
Qua câu chuyện, tác giả Edmondo De Amicis muốn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng trắc ẩn và sự tôn trọng đối với người lao động. Mỗi chúng ta cần biết đồng cảm, chia sẻ trước những rủi ro, mất mát mà người khác gặp phải, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Sự vô cảm trước nỗi đau của đồng loại (như nhân vật Franti) là một thái độ đáng xấu hổ và cần bị loại bỏ. Đồng thời, văn bản còn nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự an toàn và tình cảm gia đình thiêng liêng.
Câu 2. Lời của nhân vật
Câu 3. Sự khác biệt về thái độ của Franti và nhân vật "tôi"
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ
Câu 5. Thông điệp của tác giả
Qua câu chuyện, tác giả Edmondo De Amicis muốn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng trắc ẩn và sự tôn trọng đối với người lao động. Mỗi chúng ta cần biết đồng cảm, chia sẻ trước những rủi ro, mất mát mà người khác gặp phải, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Sự vô cảm trước nỗi đau của đồng loại (như nhân vật Franti) là một thái độ đáng xấu hổ và cần bị loại bỏ. Đồng thời, văn bản còn nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự an toàn và tình cảm gia đình thiêng liêng.
Câu 1,ngôi thứ nhất
Câu1: văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
Câu2:đó là câu
- cháu về đi,cháu ạ;cháu nên chạy về với bố cháu,cháu sẽ thấy bố cháu mạnh khỏe,yên lành.
Câu3:so sánh:
Nhân vật Eranti khi gặp khi gặp cảnh tượng đó:là vẫn còn nhôn nhạo, vô cảm,cười với sự không biết tôn trọng người bị thương và đã khuất.
Còn nhân vật "tôi" thì có vẻ xúc thương cảm,cảm động, thương cho nỗi đau ấy
Câu4: trong câu nói ấy tác giả đã sử dụng biệt pháp tu từ.so sánh cậu như cầy sấy.
Câu 1: ngôi thứ nhất.
câu1
-thuộc thể loại một
câu 2
-là từ “cười à”
câu 3
-
Ngôi thứ nhất
1 , ngôi thứ nhất