Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1. Thể loại: Văn bản thuộc thể loại Tản văn (hoặc tùy bút).
Câu 2. Đề tài: Văn bản viết về đề tài sự vô cảm và đạo đức của con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là sự chi phối của mạng xã hội làm rạn nứt các mối quan hệ và suy giảm tình người.
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
- Các hình ảnh liệt kê: Tin nồi nước luộc có pin đèn, tin nước dùng chuột cống, tin chè bưởi có thuốc rầy...
- Tác dụng: * Về nội dung: Nhấn mạnh sự tràn lan của những tin đồn ác ý, tin giả (fake news) trên mạng xã hội và báo chí lá cải. Nó cho thấy sức công phá khủng khiếp của những thông tin sai lệch này có thể trực tiếp hủy hoại sinh kế, danh dự và công sức của những người lao động nghèo.
+ Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức thuyết phục và tính chân thực cho lập luận, giúp người đọc hình dung rõ nét sự bất an trong một xã hội mà niềm tin giữa người với người trở nên xa xỉ.
Câu 4. Suy nghĩ về thực trạng đạo đức con người qua hai câu văn: Hai câu văn gợi lên một thực trạng đau xót về sự lên ngôi của lòng tham và sự vô cảm:
- Con người quá chú trọng vào vật chất trước mắt (giấy bạc bay, bia lăn lóc) mà quên đi nỗi đau, sự mất mát của đồng loại (không thấy nạn nhân).
- Đạo đức đang bị băng hoại khi cái tôi cá nhân và sự tư lợi lấn át lòng trắc ẩn. "Thấy vật mà không thấy người" là biểu hiện cao nhất của sự lạnh lùng, khi con người đối xử với nhau như những vật thể vô tri thay vì những tâm hồn cần được sẻ chia và bảo vệ.
Câu 5. Bài học rút ra từ văn bản: Từ văn bản, chúng ta có thể rút ra những bài học sâu sắc:
- Sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm: Phải biết tỉnh táo trước thông tin, không tiếp tay cho những tin đồn ác ý và không biến nỗi đau của người khác thành phương tiện "câu view".
-Giữ gìn sự thấu cảm: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cần đặt "tình người" lên trên hết. Đừng để các thiết bị thông minh hay những lợi ích nhỏ nhen che mờ đi lòng trắc ẩn.
- Trân trọng những giá trị thực: Đừng để những "bức tường vô hình" của định kiến, bầy đàn hay công nghệ ngăn cách sự kết nối chân thành giữa người với người.
Câu 1. Thể loại của văn bản
Văn bản thuộc thể loại: Tản văn
Câu 2. Đề tài của văn bản
Đề tài: Bàn về mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội hiện đại. Cụ thể là thực trạng vô cảm, sự chi phối của công nghệ/mạng xã hội và những "lời nguyền" vô hình khiến con người ngày càng xa cách, tàn nhẫn với nhau.
Câu 3. Trong đoạn trích, biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng triệt để qua việc kể ra hàng loạt tin đồn thất thiệt như "bắp luộc có pin đèn", "hủ tiếu gõ nước dùng chuột cống" hay "chè bưởi có thuốc rầy". Việc liệt kê dồn dập các sự kiện này có tác dụng nhấn mạnh sự phổ biến đến mức báo động của vấn nạn tin giả và sự tàn nhẫn của truyền thông "bẩn". Qua đó, tác giả không chỉ phơi bày hậu quả đau lòng là sự sụp đổ chén cơm manh áo của những người lao động nghèo lương thiện mà còn bộc lộ niềm xót xa, phẫn uất trước sự vô trách nhiệm của những kẻ dùng nỗi đau người khác làm "mồi câu" dư luận.
Câu 4. Hai câu văn nhắc đến vụ cướp tiền và nạn hôi bia gợi lên trong tôi những suy nghĩ đầy trăn trở và lo ngại về thực trạng xuống cấp của đạo đức một bộ phận người Việt hiện nay. Nó phản ánh căn bệnh "vô cảm" đang có chiều hướng lan rộng, khi con người ta thờ ơ, lạnh lùng trước hoạn nạn của đồng loại và đặt lòng tham vật chất tầm thường lên trên lòng tự trọng và tình người. Hình ảnh đám đông chỉ thấy "tiền bay", "bia lăn" mà không thấy "nạn nhân" là minh chứng chua xót cho lối sống thực dụng và hiệu ứng đám đông tiêu cực, nơi lương tri con người dễ dàng bị che lấp bởi những lợi ích nhỏ nhen trước mắt.
Câu 5. Qua những trăn trở của Nguyễn Ngọc Tư, bài học thấm thía nhất mà tôi rút ra là cần phải nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và ý thức trách nhiệm khi tham gia vào thế giới ảo cũng như đời sống thực. Chúng ta tuyệt đối không được biến nỗi đau, hình ảnh hay danh dự của người khác thành công cụ để "câu like" hay thỏa mãn sự tò mò, đồng thời phải luôn tỉnh táo kiểm chứng thông tin để không vô tình tiếp tay cho cái ác làm hại người vô tội. Quan trọng hơn cả, văn bản nhắc nhở mỗi người hãy sống chậm lại, phá bỏ những rào cản vô hình để kết nối với nhau bằng sự thấu hiểu và tình thương, đừng để công nghệ làm xói mòn đi cốt lõi nhân văn trong mỗi con người.
Câu 1 (0,5 điểm).
Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2 (0,5 điểm).
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3 (1,0 điểm).
- Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm
"mồi người" - một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
- Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội.
Câu 4 (1,0 điểm).
HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ:
- Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng.
- Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đối.
Câu 5 (1,0 điểm).
+ Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh.
+ Không nên đế mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Câu 1.
Thể loại văn bản: tản văn / nghị luận xã hội mang tính suy ngẫm.
Câu 2.
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong thời đại mạng xã hội — sự vô cảm, lệch chuẩn đạo đức và nguy cơ làm tổn thương nhau từ tin tức, cách ứng xử và truyền thông.
Câu 3.
Biện pháp tu từ: liệt kê hàng loạt sự việc, hiện tượng: tin đồn thực phẩm bẩn, quán ăn bị tẩy chay, thông tin lan truyền chóng mặt, báo chí chộp lấy tin, cộng đồng phản ứng dây chuyền…
Tác dụng:
Câu 4.
Hai câu văn cho thấy thực trạng đáng lo về đạo đức và sự vô cảm: nhiều người chỉ chú ý đến tiền bạc, sự kiện giật gân, lợi ích hay hình ảnh bề nổi mà quên mất con người – nạn nhân – ở phía sau.
→ Gợi suy nghĩ: xã hội hiện nay có biểu hiện thờ ơ, thiếu quan tâm, thiếu lòng trắc ẩn; cần khôi phục sự cảm thông và trách nhiệm cộng đồng.
Câu 5. Bài học rút ra:
Câu 1.
Truyện ngắn
Câu 2.
→ Sự xa cách, vô cảm giữa con người với con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt dưới tác động của mạng xã hội và tin tức giật gân.
Câu 3.
Đoạn văn liệt kê hàng loạt sự việc: tin đồn thực phẩm, thông tin sai lệch, câu chuyện lan truyền trên mạng…
→ Tác dụng:
Làm nổi bật thực trạng tin giả, thông tin giật gân lan nhanh. Tạo cảm giác dồn dập, chân thực về những hệ lụy của truyền thông vô trách nhiệm. Qua đó nhấn mạnh sự tổn thương của con người và sự suy giảm lòng tin xã hội.
Câu 4.
Hai câu văn cho thấy con người dễ chú ý đến hiện tượng bề ngoài (tiền bay, bia lăn) mà quên mất nỗi đau của con người phía sau.
→ Thực trạng đáng lo: một bộ phận người trong xã hội trở nên thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của người khác, chạy theo sự hiếu kỳ và lợi ích cá nhân. Tuy vậy, vẫn còn nhiều người giàu lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng. Vì thế, mỗi người cần nuôi dưỡng lòng trắc ẩn, sống trách nhiệm và biết quan tâm đến người khác.
Câu 5. Bài học rút ra
Sống nhân ái, biết cảm thông và tôn trọng người khác. Tiếp nhận thông tin có chọn lọc, không lan truyền tin sai sự thật. Dùng mạng xã hội một cách văn minh, có trách nhiệm. Luôn đặt tình người lên trên sự hiếu kỳ và lợi ích cá nhân.
Câu 1.
Thể loại: Văn bản nghị luận xã hội
Câu 2.
Đề tài:Thực trạng sự thờ ơ, vô cảm và cách con người tiếp nhận thông tin, tin đồn trong xã hội hiện nay, đặc biệt trước những sự việc liên quan đến đạo đức và lòng trắc ẩn.
Câu 3.
Biện pháp liệt kê: “đầu năm… cuối năm…”, “tin… tin…”, “mở báo thấy…”, “tai bay vạ gió…”, “những trang báo… cả nước biết tin… tẩy chay…”.
Tác dụng:
-Làm nổi bật sự dồn dập của các thông tin tiêu cực.
-Nhấn mạnh tốc độ lan truyền chóng mặt của tin đồn.
-Thể hiện tâm lí hoang mang, lo sợ của người dân.
-Góp phần tăng sức thuyết phục cho lập luận.
Câu 4.
Hai câu văn cho thấy thực trạng đáng lo ngại con người ngày càng vô cảm, chỉ quan tâm đến vật chất, sự việc bề nổi mà thờ ơ với nỗi đau của người khác. Đây là biểu hiện suy giảm đạo đức, thiếu lòng trắc ẩn trong xã hội hiện đại.
Câu 5.
Bài học rút ra là,cần sống có trách nhiệm, biết kiểm chứng thông tin trước khi lan truyền.Không a dua, hùa theo dư luận thiếu căn cứ.Nuôi dưỡng lòng nhân ái, sự cảm thông với người khác.Giữ gìn đạo đức và văn hóa ứng xử trong xã hội.
HƯỚNG DẪN GIẢI Câu 1 Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2 Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại. Câu 3 – Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm “mồi người” – một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống. – Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội. Câu 4 – Tình trạng người dân thờ ơ khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng. – Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đổi. Câu 5 + Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh. + Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống. + …
Câu 1.
Thể loại: Tản văn (văn xuôi nghị luận – cảm xúc mang đậm tính chiêm nghiệm).
⸻
Câu 2.
Đề tài:
Văn bản bàn về thực trạng con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong thời đại mạng xã hội – khi con người dần vô cảm, lợi dụng nỗi đau của người khác để câu like, câu view; từ đó đặt ra vấn đề về sự xuống cấp đạo đức và khoảng cách “giữa người với người”.
⸻
Câu 3.
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Đoạn trích đã liệt kê hàng loạt sự việc:
• Người bán bắp luộc “chết giấc” vì tin đồn nồi nước có pin đèn.
• Giới hủ tiếu gõ “sập tiệm” vì tin nước dùng chuột cống.
• Người bán chè lo sợ tin đồn chè có thuốc rầy.
• Một tin đồn vô căn cứ lan truyền khiến cả nước tẩy chay.
Tác dụng:
• Làm nổi bật thực trạng tin giả, tin giật gân lan truyền nhanh chóng và gây hậu quả nghiêm trọng.
• Nhấn mạnh sự vô trách nhiệm của một bộ phận truyền thông và cư dân mạng.
• Tạo cảm giác dồn dập, liên tiếp, cho thấy mức độ phổ biến và đáng báo động của hiện tượng.
• Thể hiện sự xót xa, lo lắng của tác giả trước sự tổn thương mà con người phải gánh chịu chỉ vì tin đồn.
⸻
Câu 4.
Hai câu văn gợi suy nghĩ sâu sắc về thực trạng đạo đức con người hiện nay:
• Con người đôi khi quá chú ý đến vật chất (tiền bạc, của cải) mà quên mất nỗi đau, sự mất mát của đồng loại.
• Tình trạng “hôi của” cho thấy sự xuống cấp về ý thức, lòng trắc ẩn và tinh thần tương thân tương ái.
• Sự vô cảm khiến người ta chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà không còn thấy con người phía sau sự việc.
• Đây là lời cảnh tỉnh về nguy cơ mất dần nhân tính trong xã hội hiện đại nếu con người không biết tự điều chỉnh hành vi và nuôi dưỡng lòng nhân ái.
⸻
Câu 5.
Bài học rút ra:
• Phải biết tôn trọng con người, dù họ ở trong hoàn cảnh nào.
• Không lợi dụng nỗi đau của người khác để trục lợi cá nhân.
• Cần tỉnh táo trước thông tin trên mạng xã hội, tránh tiếp tay cho tin giả.
• Sống có trách nhiệm, có lòng trắc ẩn và biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác.
• Giữ gìn tình người trong thời đại công nghệ để “gần” nhau hơn chứ không phải xa nhau hơn.
Câu 1.
Thể loại: Tản văn (văn xuôi nghị luận – cảm xúc mang đậm tính chiêm nghiệm).
Câu 2.
Đề tài:
Văn bản bàn về thực trạng con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong thời đại mạng xã hội – khi con người dần vô cảm, lợi dụng nỗi đau của người khác để câu like, câu view; từ đó đặt ra vấn đề về sự xuống cấp đạo đức và khoảng cách “giữa người với người”.
Câu 3.
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Đoạn trích đã liệt kê hàng loạt sự việc:
• Người bán bắp luộc “chết giấc” vì tin đồn nồi nước có pin đèn.
• Giới hủ tiếu gõ “sập tiệm” vì tin nước dùng chuột cống.
• Người bán chè lo sợ tin đồn chè có thuốc rầy.
• Một tin đồn vô căn cứ lan truyền khiến cả nước tẩy chay.
Tác dụng:
• Làm nổi bật thực trạng tin giả, tin giật gân lan truyền nhanh chóng và gây hậu quả nghiêm trọng.
• Nhấn mạnh sự vô trách nhiệm của một bộ phận truyền thông và cư dân mạng.
• Tạo cảm giác dồn dập, liên tiếp, cho thấy mức độ phổ biến và đáng báo động của hiện tượng.
• Thể hiện sự xót xa, lo lắng của tác giả trước sự tổn thương mà con người phải gánh chịu chỉ vì tin đồn.
Câu 4.
Hai câu văn gợi suy nghĩ sâu sắc về thực trạng đạo đức con người hiện nay:
• Con người đôi khi quá chú ý đến vật chất (tiền bạc, của cải) mà quên mất nỗi đau, sự mất mát của đồng loại.
• Tình trạng “hôi của” cho thấy sự xuống cấp về ý thức, lòng trắc ẩn và tinh thần tương thân tương ái.
• Sự vô cảm khiến người ta chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà không còn thấy con người phía sau sự việc.
• Đây là lời cảnh tỉnh về nguy cơ mất dần nhân tính trong xã hội hiện đại nếu con người không biết tự điều chỉnh hành vi và nuôi dưỡng lòng nhân ái.
Câu 5.
Bài học rút ra:
• Phải biết tôn trọng con người, dù họ ở trong hoàn cảnh nào.
• Không lợi dụng nỗi đau của người khác để trục lợi cá nhân.
• Cần tỉnh táo trước thông tin trên mạng xã hội, tránh tiếp tay cho tin giả.
• Sống có trách nhiệm, có lòng trắc ẩn và biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác.
• Giữ gìn tình người trong thời đại công nghệ để “gần” nhau hơn chứ không phải xa nhau hơn.
Câu 1 Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3:Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm "mồi người" - một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống .
-Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn khổ của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội.
Câu 4; Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng.Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đổi.
Câu 1.
Thể loại: Tản văn (văn xuôi nghị luận – cảm xúc mang đậm tính chiêm nghiệm).
Câu 2.
Đề tài:
Văn bản bàn về thực trạng con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong thời đại mạng xã hội – khi con người dần vô cảm, lợi dụng nỗi đau của người khác để câu like, câu view; từ đó đặt ra vấn đề về sự xuống cấp đạo đức và khoảng cách “giữa người với người”.
Câu 3.
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Đoạn trích đã liệt kê hàng loạt sự việc:
• Người bán bắp luộc “chết giấc” vì tin đồn nồi nước có pin đèn.
• Giới hủ tiếu gõ “sập tiệm” vì tin nước dùng chuột cống.
• Người bán chè lo sợ tin đồn chè có thuốc rầy.
• Một tin đồn vô căn cứ lan truyền khiến cả nước tẩy chay.
Tác dụng:
• Làm nổi bật thực trạng tin giả, tin giật gân lan truyền nhanh chóng và gây hậu quả nghiêm trọng.
• Nhấn mạnh sự vô trách nhiệm của một bộ phận truyền thông và cư dân mạng.
• Tạo cảm giác dồn dập, liên tiếp, cho thấy mức độ phổ biến và đáng báo động của hiện tượng.
• Thể hiện sự xót xa, lo lắng của tác giả trước sự tổn thương mà con người phải gánh chịu chỉ vì tin đồn.
Câu 4.
Hai câu văn gợi suy nghĩ sâu sắc về thực trạng đạo đức con người hiện nay:
• Con người đôi khi quá chú ý đến vật chất (tiền bạc, của cải) mà quên mất nỗi đau, sự mất mát của đồng loại.
• Tình trạng “hôi của” cho thấy sự xuống cấp về ý thức, lòng trắc ẩn và tinh thần tương thân tương ái.
• Sự vô cảm khiến người ta chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà không còn thấy con người phía sau sự việc.
• Đây là lời cảnh tỉnh về nguy cơ mất dần nhân tính trong xã hội hiện đại nếu con người không biết tự điều chỉnh hành vi và nuôi dưỡng lòng nhân ái.
Câu 5.
Bài học rút ra:
• Phải biết tôn trọng con người, dù họ ở trong hoàn cảnh nào.
• Không lợi dụng nỗi đau của người khác để trục lợi cá nhân.
• Cần tỉnh táo trước thông tin trên mạng xã hội, tránh tiếp tay cho tin giả.
• Sống có trách nhiệm, có lòng trắc ẩn và biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác.
• Giữ gìn tình người trong thời đại công nghệ để “gần” nhau hơn chứ không phải xa nhau hơn.
Câu 1 (0,5 điểm).
Thế loại: Truyện ngăn.
Câu 2 (0,5 điểm).
Đề tài: Môi quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3 (1,0 điểm).
Câu 4 (1,0 điểm).
HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ:
Câu 5 (1,0 điểm).
+ Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh.
+ Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Câu 1 .
Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2 .
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3
Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm "mồi người"
một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
– Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội.
Câu 4
Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng.
Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đổi.
Câu 5
Một số bài học có thể được rút ra từ văn bản:
+ Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh.
+ Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Câu 1:
- Thể loại của văn bản là: Truyện ngắn.
Câu 2:
- Đề tài của văn bản là : Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện tại.
Câu 3 :
-Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm " mồi người " -một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
- Tác dụng: thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác ,những âm mưu đầy vị kỷ của những cá nhân tổ chức trên mạng xã hội.
Câu 4:
- Hai câu văn " Một vụ cướp tiền giữa ban ngày, người ta chỉ thấy giấy bạc bay mà không thấy nạn nhân. Hôi bia cũng vì chỉ thấy bia lóc tóc ra đường."gợi cho em những suy nghĩ về thực trạng đạo đức con người hiện nay là: Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức ,nhân cách con người Việt Nam nói riêng.
Câu 5
- Qua văn bản em rút ra được bài học là:
+ Cần học cách đồng cảm yêu thương sẻ chia với mọi người xung quanh.
+ Không nên để mạng xã hội thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Thể loại
- Nội dung: Nhấn mạnh sự lan tràn của các tin tức giả, độc hại trên mạng xã hội, tạo cảm giác hoang mang, sợ hãi (như mẹ nhân vật lo rầu).
- Nghệ thuật: Làm cho lập luận thêm cụ thể, sinh động; tố cáo sự vô lương tâm của những người làm báo lá cải và sự a dua của đám đông khi "tẩy chay" bất chấp hậu quả.
Câu 4: Suy nghĩ về thực trạng đạo đức (từ câu: "Một vụ cướp... chỉ thấy bia lăn lóc"):- Thực trạng: Sự vô cảm, ích kỷ lên ngôi. Con người bị vật chất (tiền, bia) làm lóa mắt, coi nhẹ mạng người và nhân phẩm.
- Nguyên nhân: Mạng xã hội khiến người ta xa rời thực tế, chỉ nhìn thấy bề nổi (hàng hóa, hình ảnh kịch tính) mà bỏ quên nạn nhân đau đớn. Đạo đức bị "lời nguyền" vô hình che khuất.
Câu 5: Bài học rút ra:câu 1
thể loại truyện ngắn
câu 2
đề tài mối quan hệ giữa người với người trọng cuộc đối thoaị hiện đại
câu3
-biện pháp liệt kê
- tác dụng:thể hiện rõ sự khốn đốn của ngừoi dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò tương tác, nhưng âm mưu đầy ích kỉ
câu 4:
- tình trạng đã xuất hiện đã lâu và cho đến hiện tại nó chưa dứt hoàn toàn. Đây là hành vi xấu, gây ảnh hưởng đến hình anh của người việt nam trên quốc tế nói chung và người việt nam nói riêng
câu 5
- bài học được rút ra
+cần học cách đồng cảm ,yêu thương,sẻ chia với người xung quanh
+không nên để mangj xã hội chi phối chúng ta
Nckdos
Câu 1.Thể loại: Tản văn (nghị luận xã hội mang tính chất suy ngẫm).
Câu 2.Đề tài: Văn bản bàn về sự xuống cấp của đạo đức, sự vô cảm giữa con người với con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là qua ảnh hưởng của mạng xã hội và truyền thông.
Câu 3.Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Liệt kê hàng loạt sự việc: tin bắp luộc có pin đèn, hủ tiếu có chuột cống, chè có thuốc rầy…
→ Tạo cảm giác dồn dập, liên tiếp, cho thấy các tin giả, tin thất thiệt xuất hiện tràn lan.
Câu 1
Thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2
Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.
Câu 3
- Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm
"mồi người" - một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
- Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tố chức trên mạng xã hội.
Câu 4
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại tản văn (nghị luận xã hội kết hợp tự sự và biểu cảm).
Câu 2.
Văn bản bàn về thực trạng xuống cấp đạo đức, sự vô cảm trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội hiện đại, đặc biệt dưới tác động của mạng xã hội.
Câu 3.
Biện pháp tu từ liệt kê, thể hiện qua các chi tiết như: “nồi nước luộc có pin đèn”, “nước dùng chuột cống”, “chè bưởi có thuốc rầy”,…
Tác giả sử dụng biện pháp tu từ liệt kê đã làm nổi bật hàng loạt thông tin sai lệch, giật gân lan truyền trên mạng xã hội, qua đó phản ánh thực trạng tin giả gây hoang mang dư luận và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người buôn bán lương thiện.
Đồng thời , cách liệt kê liên tiếp tạo nhịp điệu dồn dập, tăng tính chân thực và sức gợi hình, giúp người đọc cảm nhận rõ mức độ phổ biến và nghiêm trọng của vấn đề.
Qua đó, tác giả bày tỏ thái độ phê phán, lên án những hành vi tung tin thất thiệt, đồng thời thể hiện sự xót xa, lo lắng trước sự xuống cấp của tình người trong xã hội.
Câu 4.
Hai câu văn: “Một vụ cướp tiền giữa ban ngày, người ta chỉ thấy giấy bạc bay mà không thấy nạn nhân. Hôi bia cũng vì chỉ thấy bia lăn lóc ra đường.” cho thấy con người chỉ chú ý đến vật chất mà thờ ơ với nỗi đau, sự mất mát của người khác.
Từ đó gợi lên thực trạng đáng lo ngại của đạo đức xã hội hiện nay: một bộ phận con người đang trở nên vô cảm, thiếu lòng trắc ẩn, sẵn sàng đặt lợi ích cá nhân lên trên giá trị nhân văn. Trong nhiều tình huống, thay vì giúp đỡ người gặp nạn, họ lại thờ ơ hoặc lợi dụng hoàn cảnh để trục lợi. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều tấm lòng nhân ái, vì vậy mỗi người cần ý thức lên án cái xấu và lan tỏa điều tốt đẹp để góp phần xây dựng xã hội văn minh, giàu tình người.
Câu 5.
Văn bản phản ánh thực trạng con người ngày càng xa cách, vô cảm, bị chi phối bởi mạng xã hội và lợi ích cá nhân, từ đó làm suy giảm các giá trị đạo đức tốt đẹp.
Từ đó, mỗi người cần rút ra bài học: phải biết yêu thương, tôn trọng con người, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác; sử dụng mạng xã hội một cách có trách nhiệm; không lan truyền thông tin sai lệch; đồng thời biết đặt mình vào vị trí của người khác để sống nhân ái hơn, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị tình người trong xã hội hiện đại.
Câu 1
Văn bản thuộc thể loại nghị luận xã hội (kết hợp tự sự và biểu cảm).
Câu 2
Văn bản bàn về mối quan hệ giữa người với người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là sự vô cảm, thiếu trách nhiệm và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội đến tình người.
Câu 3 Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Câu4
Hai câu văn cho thấy một thực trạng đáng buồn: con người ngày càng vô cảm, chỉ nhìn bề ngoài mà không quan tâm đến con người phía sau.
Hiện nay, trong xã hội:
Câu5
Qua văn bản, em rút ra một số bài học:
Câu 1
Văn bản thuộc thể loại nghị luận xã hội (kết hợp tự sự và biểu cảm).
Câu 2
Văn bản bàn về mối quan hệ giữa người với người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là sự vô cảm, thiếu trách nhiệm và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội đến tình người.
Câu 3 Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Câu4
Hai câu văn cho thấy một thực trạng đáng buồn: con người ngày càng vô cảm, chỉ nhìn bề ngoài mà không quan tâm đến con người phía sau.
Hiện nay, trong xã hội:
Câu5
Qua văn bản, em rút ra một số bài học:
Câu 1 : Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn Câu 2 : Văn bản đề cập đến mối quan hệ giữa con người với con người trong cuộc sống hiện đại, đặc biệt là cách con người đối xử với nhau dưới tác động của mạng xã hội Câu 3 : Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê khi đưa ra hàng loạt những sự việc như các tin đồn về thực phẩm bẩn, những câu chuyện bị thổi phồng và lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Từ đó nhấn mạnh và khẳng định : - Làm nổi bật thực trạng con người dễ dàng trở thành “mồi câu tương tác”, bị lợi dụng bởi những thông tin sai lệch, giật gân - Đồng thời làm cho câu văn trở nên hấp dẫn , giàu sức gợi hình gợi cảm , tăng nhịp điệu cho câu văn hơn - Cuối cùng tác giả thể hiện rõ sự xót xa trước cảnh những người dân, đặc biệt là người lao động nghèo, có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tin đồn vô căn cứ Câu 4 : Hai câu văn đã gợi lên trong em nhiều suy nghĩ về thực trạng đạo đức của con người trong xã hội hiện nay. Hình ảnh “cướp tiền mà không thấy nạn nhân” hay “hôi bia” cho thấy một bộ phận người dân đang trở nên vô cảm và ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mà quên đi những chuẩn mực đạo đức cơ bản. Khi chứng kiến người khác gặp hoạn nạn, thay vì giúp đỡ, họ lại tranh thủ trục lợi, thậm chí coi đó là cơ hội để chiếm đoạt tài sản. Đây là một biểu hiện đáng buồn của sự xuống cấp về đạo đức, làm xói mòn lòng tin giữa con người với con người trong xã hội. Thực trạng này đặt ra yêu cầu mỗi cá nhân cần phải tự ý thức, rèn luyện nhân cách, biết sống có trách nhiệm và biết quan tâm, sẻ chia với người khác nhiều hơn Câu 5 : Qua văn bản, em rút ra được nhiều bài học ý nghĩa trong cách ứng xử với mọi người xung quanh. Trước hết, mỗi người cần có ý thức kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, tránh lan truyền những tin đồn sai sự thật gây ảnh hưởng đến người khác. Bên cạnh đó, cần biết sống nhân ái, biết đồng cảm và giúp đỡ những người gặp khó khăn thay vì thờ ơ hay lợi dụng hoàn cảnh của họ. Ngoài ra, trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, mỗi cá nhân càng cần phải có trách nhiệm với lời nói và hành động của mình, không biến người khác thành công cụ để câu tương tác. Từ đó, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nơi con người biết tôn trọng và yêu thương lẫn nhau
1: thể loại truyện ngắn
2: đề tài của vb trên là: Sự vô cảm của con người và những mặt trái của mạng xã hội trong đời sống hiện đại. tgiả tập trung vào sự đứt gãy trong tình người khi công nghệ và sự vô cảm trong tâm trí con người
3: đoạn văn trên sd bptt liệt kê "người bán bắp luộc chết giấc với tin nồi nước luộc có pin đèn, cuối năm giới hủ tiếu gõ sập tiệm với tin nước dùng chuột cống... tin chè bưởi có thuốc rầy... awn chè bưởi ngộ độc thuốc trừ sâu..."
+Tác dụng:
Về nội dung: Nhấn mạnh những tin đồn thất thiệt trên không gian mạng. cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của "tin giả" đối với cái mưu sinh và danh dự của những người lao động nghèo
Về nghệ thuật: Gợi hình, gợi cảm, thêm phần thu hút và tăng sức thuyết phục cho lập luận về sự sai lệch của truyền thông và sự thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng
c4: thực trạng của ng VN qua hai câu văn trên cho em thấy được: sự vô cảm khi chỉ tập trung vào tiền tài địa vị hay sự hiếu kì cuar bản thaan mà quên mất nỗi đau, sự khốn cùng của ng khác. cùng với đó là lòng tham và sự ích kỉ khi thờ ơ trước hcanh đau thương của ng khác cho thấy một bộ phận xã hội đang dần mất đi sự thấu cảm, coi trọng lợi ích cá nhân hoặc sự giải trí nhất thời
c5: qua văn bản trên về câu chuyện nói về cách cư xử giữa ng và ng rút ra cho em bài học:Mỗi chúng ta cần có trách nhiệm với thông tin: một lượt chia sẻ vô tâm có thể hủy hoại cả một đời người lao động nghèo. Đừng để mình trở thành "công cụ" lan truyền sự ác ý. hãy học cách kết nối thực chất . và cần hiểu rằng mxh luôn là con dao hai lưỡi. Thay vì đứng ngoài chụp ảnh nỗi đau của đồng loại, hãy chìa tay giúp đỡ. Sau tất cả, bài học cốt lõi là: mọi thông tin đưa lên mxh đều phải được xác thực, đừng vì sự vô trách trong việc vô tình lan truyền mà đẩy ng khác vào con đường khốn khó, đường cùng