​...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng...

 

− Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

 

Ta biết người buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

 

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

 

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (1932 – 1941), NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 280 – 281)

*Giới thiệu: Thâm Tâm (1917 – 1950), tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương, là một trong những gương mặt của phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Ông nổi tiếng với bài thơ "Tống biệt hành".

Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Câu 2. Nêu không gian, thời gian của cuộc chia tay.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong hai câu thơ sau:

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Câu 4. Phân tích ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh "tiếng sóng" trong văn bản.

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp anh/ chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống và giải thích lí do.

30
6 tháng 2

Câu 1. Nhân vật trữ tình: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "Ta" – người đưa tiễn, đang đứng ở vị trí quan sát, đồng cảm và thấu hiểu sâu sắc tâm trạng của người ra đi (li khách).

Câu 2. Không gian và thời gian của cuộc chia tay:

- Không gian: Không phải bến sông hay cửa ải xa xôi như thơ cổ, mà là một không gian đời thường (đưa người ấy qua một "con đường nhỏ"). Tuy nhiên, cái thực của không gian đã chuyển hóa thành không gian tâm tưởng với "tiếng sóng ở trong lòng", "đầy hoàng hôn".

- Thời gian: Diễn ra xuyên suốt từ "chiều hôm trước" đến "sáng hôm nay". Đây là khoảng thời gian kéo dài sự day dứt, lưu luyến giữa người đi và người ở lại.

Câu 3. Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ và tác dụng:

- Hiện tượng: Cách dùng từ "mắt trong" (danh từ + tính từ) để đối lập với hình ảnh "hoàng hôn". Thông thường, hoàng hôn là khái niệm thời gian/ánh sáng bên ngoài, nhưng ở đây lại "đầy" trong mắt.

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh nỗi buồn ly biệt đã thấm sâu vào tâm hồn. "Hoàng hôn" không còn là của thiên nhiên mà là nỗi buồn của sự tàn tạ, chia lìa đang bao trùm lên cái nhìn của người ở lại/người ra đi.

+ Tăng tính biểu cảm: Gợi ra hình ảnh đôi mắt trong trẻo nhưng u uẩn, chất chứa nỗi niềm, tạo sự ám ảnh cho người đọc về một nỗi buồn đẹp nhưng đau đớn.

Câu 4. Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh "tiếng sóng":

- Tiếng sóng ở đây không phải là tiếng sóng thực ngoài lòng sông (bởi tác giả khẳng định: "không đưa qua sông").

- Đây là sóng lòng, là sự dao động dữ dội, sự bão tố trong tâm hồn con người trước giây phút chia ly. Nó tượng trưng cho nỗi xúc động mãnh liệt, sự giằng xé giữa cái "dửng dưng" bên ngoài và sự luyến lưu, đau đớn bên trong của nhân vật trữ tình và li khách.

Câu 5. Thông điệp và lý do:

- Thông điệp: Sự hy sinh những tình cảm riêng tư vì lí tưởng lớn lao của cuộc đời.

- Lý do: Hình ảnh li khách trong bài thơ dứt áo ra đi ("Một giã gia đình, một dửng dưng") không phải vì vô tâm, mà vì chí lớn ("Chí nhớn chưa về bàn tay không"). Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta phải dám chấp nhận hy sinh những niềm vui cá nhân, những tình cảm gia đình ấm áp để theo đuổi mục đích cao đẹp hoặc cống hiến cho xã hội. Đó là thái độ sống quyết đoán, có trách nhiệm với ước mơ của chính mình.

6 tháng 2

Câu 1. Nhân vật trữ tình trong bài thơ hiện lên trực tiếp qua đại từ "Ta" – người đang đứng ở vị trí đưa tiễn để dõi theo và đối thoại tâm tưởng với người ra đi ("Li khách"). Tuy nhiên, ở tầng nghĩa sâu hơn, nhân vật "Ta" và người "Li khách" dường như có sự hòa nhập làm một; "Ta" chính là sự phân thân của tác giả để tự vấn, để nói hộ nỗi lòng đầy mâu thuẫn, giằng xé nhưng cũng đầy quyết tâm của người tráng sĩ trong giây phút dứt áo ra đi vì nghĩa lớn.

6 tháng 2

Câu 2. Không gian và thời gian của cuộc chia tay trong bài thơ được xây dựng đan xen giữa thực và ảo, mang đậm màu sắc tâm trạng. Về thời gian, dù sự kiện thực tế diễn ra vào "sáng hôm nay" với trời chưa vào thu còn rất tươi, nhưng trong cảm giác của người đưa tiễn, bao trùm lên tất cả lại là bóng chiều tà và "hoàng hôn" của ngày hôm trước, gợi sự tàn phai và u buồn. Về không gian, cuộc đưa tiễn không diễn ra ở bến sông, con đò quen thuộc trong thơ cổ mà là trên một "con đường nhỏ", biểu tượng cho hành trình dấn thân đầy gian nan, đơn độc và thầm lặng của người mang chí lớn.

6 tháng 2

Câu 3. Trong hai câu thơ này, tác giả đã phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường khi biến danh từ chỉ thời gian "hoàng hôn" thành một thực thể hữu hình, có khối lượng để có thể đong đếm ("đầy") và chứa đựng trong ánh mắt ("trong mắt trong"). Sự cách tân táo bạo này tạo nên hiệu quả nghệ thuật tương phản độc đáo: trong khi cảnh vật thiên nhiên bên ngoài "không thắm, không vàng vọt" (bình thường, hờ hững), thì tâm cảnh bên trong lại ngập tràn bóng tối của buổi chiều tà. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi buồn đau ly biệt xuất phát từ chính nội tâm mãnh liệt của con người, nhuốm màu u tối lên ánh mắt chứ không phải do cảnh vật bên ngoài tác động.

6 tháng 2

Câu 4. Hình ảnh "tiếng sóng" ở ngay khổ đầu mang ý nghĩa tượng trưng cho những con sóng lòng, những xao động tình cảm mãnh liệt đang cuộn trào trong tâm trí người đưa tiễn và cả người ra đi. Mặc dù thực tế không có cuộc chia ly trên bến sông ("Đưa người ta không đưa qua sông"), nhưng "tiếng sóng" vẫn vang lên, đại diện cho bão tố trong lòng người: đó là sự cộng hưởng của nỗi đau chia biệt, sự luyến tiếc và cả những giằng xé nội tâm dữ dội giữa tình cảm gia đình êm ấm với tiếng gọi của chí lớn phương xa.

6 tháng 2

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất mà em nhận thấy qua văn bản là: Để thực hiện được khát vọng lớn lao, con người đôi khi phải có bản lĩnh để vượt qua sự ràng buộc của tình cảm riêng tư và chấp nhận nỗi đau của sự chia biệt. Hình ảnh người li khách với thái độ "dửng dưng" hay cách nói "thà coi như" không biểu hiện cho sự vô tình, bạc bẽo, mà trái lại, đó là sự nén đau, là sự hy sinh tình riêng để kiên định với lý tưởng chung. Bài học này nhắc nhở chúng ta rằng con đường đi đến thành công vĩ đại luôn đòi hỏi một ý chí sắt đá và sự dấn thân chấp nhận đánh đổi những hạnh phúc bình dị thường ngày.

25 tháng 2

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “ta” – người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian cụ thể. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là sự kết hợp từ bất bình thường trong cụm từ: “đầy hoàng hôn trong mắt trong”.

“Đầy” là tính từ chỉ trạng thái không còn chứa thêm được nữa, gợi sự tràn ngập.

“Hoàng hôn” là thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu dần.

Tác giả đã làm cho “hoàng hôn” – một hình ảnh của không gian rộng lớn – như tràn đầy trong đôi mắt người ra đi.

Tác dụng:

Thể hiện kín đáo tâm trạng buồn man mác, lưu luyến, vương vấn của người li khách.

Cho thấy con người đang cố kìm nén cảm xúc bằng lí trí.

Gợi không khí chia li thời cổ, tạo sắc thái trang trọng, mang hơi thở Đường thi.

Câu 4

Hình ảnh “tiếng sóng” trong hai câu thơ:

“Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”

“Tiếng sóng” trong lòng là hình ảnh tượng trưng cho tâm trạng xao động, bâng khuâng, lưu luyến, buồn thương của người đưa tiễn. Nỗi buồn ấy dâng lên như những lớp sóng trào trong lòng, dù bên ngoài không hề có con sông nào.

Hình ảnh này góp phần gợi không khí chia li cổ kính và làm câu thơ giàu cảm xúc, đậm chất trữ tình.

Câu 5

Một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống đó la:

Lí trí và tình cảm luôn có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng không phải lúc nào cũng thống nhất. Trong nhiều hoàn cảnh, con người phải lựa chọn giữa lí trí và cảm xúc. Tuy nhiên, những cuộc chia li dù buồn đau vẫn giúp ta nhận ra giá trị của tình cảm chân thành.

Vì vậy, mỗi người – đặc biệt là người trẻ – cần sống có ước mơ, hoài bão, biết tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời mình, đồng thời trân trọng những tình cảm sâu sắc trong cuộc sống.

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

- Chỉ ra được hiện tượng phá võ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường:

"đầy hoàng hôn trong mắt";"

đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dân.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi

Câu 4 .

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

  • "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
  • Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ.

Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5

- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

+ Môi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.

+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiếu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

+...

- Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.

.

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

- Chí ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dân.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cố, góp phần thối vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

- "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.

- Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cố.

Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5

- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chế, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.

+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

+...

- Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.

Câu 1 (0,5 điểm).


Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn.


Câu 2 (0,5 điểm).


Cuộc chia tay không xác định không gian.


Thời gian là trong chiều hôm nay.


Câu 3 (1,0 điểm).


Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "


đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;


hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.


Tác giả đã để dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.


Câu 4 (1,0 điểm).


Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:


Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng?


"Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.


Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.


Câu 5 (1,0 điểm).


Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:


+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau. thâm chí đối lập nhau. buộc cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.


Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng

Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "Ta" – người đưa tiễn.

Câu 2: Không gian: Một không gian đượm màu sắc ly biệt, có sự xuất hiện của "sông", "hoàng hôn" (chiều), "con đường nhỏ". Dù tác giả nói "không đưa qua sông" nhưng hình ảnh con sông tâm tưởng vẫn hiện hữu qua "tiếng sóng ở trong lòng".

Thời gian: Diễn ra vào buổi chiều tà (hoàng hôn) và cả trong ký ức về buổi sáng hôm nay.

Câu 3: Cách dùng từ phủ định kép "không thắm, không vàng vọt" và sự tương phản giữa cái "không" bên ngoài với cái "đầy" bên trong "mắt trong".

• Tác dụng: + Nhấn mạnh rằng nỗi buồn không đến từ cảnh vật khách quan (chiều không rực rỡ cũng chẳng héo úa).

+Nỗi buồn "hoàng hôn" thực chất là sự ngưng đọng cảm xúc trong tâm hồn người đi và người ở. Nó cho thấy sự cộng hưởng mãnh liệt giữa tâm cảnh và thiên nhiên: nỗi buồn ly biệt đã nhuộm màu lên cả đôi mắt.

Câu 4:


Hình ảnh "tiếng sóng ở trong lòng" mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc:

• Đó là sóng lòng, là những đợt sóng cảm xúc trào dâng mãnh liệt, xao động không ngừng trước giờ phút chia ly.

• Nó thay thế cho hình ảnh con sông thực, khẳng định rằng dù không có dòng sông ngăn cách về địa lý, thì dòng sông tình cảm và sự cách trở về lý tưởng, chí hướng đã tạo ra những dư chấn tâm lý mạnh mẽ.

Câu 5:


Thông điệp: Sự hy sinh tình cảm cá nhân vì nghĩa lớn


Trong bài thơ, người ra đi dứt khoát rời bỏ gia đình (mẹ già, chị, em) để theo đuổi chí hướng ("Chí lớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại"). Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cần bản lĩnh để bước ra khỏi "vùng an toàn", chấp nhận tạm gác lại những tình cảm riêng tư để thực hiện những mục tiêu lớn lao hơn cho cộng đồng hoặc cho chính sự nghiệp của mình.

4 tháng 3

Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" -người đưa tiễn Câu 2 - không gian: không xác định cụ thể - Tgian: Trong chiều hôm này câu 3: Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thỳ kết hợp hợp từ bất bình thường: đây hoàng hồn trong mắt trong", đầy hoàng hôn" kết hợp "mắt trong" Tác dụng: + Làm cho cách diễn đạt trở nên mới lạ, độc đáo, giàu tính sáng tạo, tăng chất lãng mạn, giàu cxúc, + Diễn tả nỗi buồn chia tay sâu kín, ánh mắt đượm màu hoàng hôn như chất chưa bao lưu luyến và xao xuyên của ng ra đi + Qua đó tg bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, giàu cxúc và nỗi buồn chia li sâu lắng Câu 4: - Hình ảnh "sóng" xuất hiện trong 2 câu thơ: "Đưa người, ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sông ở trong lòng" - Ý nghĩa: + Hình ảnh "tiếng sóng" mang ý btg cho sóng từng lòng diễn tả tâm trạng xao động bâng khuâng dâng trào + Gợi ra khung cảnh chia lí thời cổ, góp phần tạo nên hơi thơ Đường thi cho câu thơ Câu 5. Qua văn bản, thông điệp có ý nghĩa nhất với em là: mỗi ng ai cũng cần phải có ước mơ, hoài bão, và bt cố gắng, nỗ lực để thực hiện khát vọng ấy. Cuộc chia tay trong bài thơ kchỉ là nỗi buồn mà còn gợi suy nghĩ về con đường phía trước của ng ra đi, đó cũng là lúc con ng lựa chọn con đường mình sẽ đi. Muốn trở thành phiên bản tốt nhất, ta phải dám rời khỏi vùng an toàn và dám nỗ lực theo đuổi khát vọng của mik. Hãy sống có mục tiêu, kiên trì phần đấu, đó chính là cách để cuộc đời ý nghĩa hơn

4 tháng 3

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

- hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả “hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câuthơ:

“Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”

  • "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiền đưa.
  • Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ.

Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5 (1,0 điểm).

- Thông điệp ý nghĩa nhất đối với em: Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau,

4 tháng 3

Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn.

Câu 2: * Không gian: không xác định cụ thể.

• Thời gian: Trong chiều hôm nay.

Câu 3: * Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường: kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt trong"; "đầy hoàng hôn" kết hợp "mắt trong".

• Tác dụng:

• Làm cho cách diễn đạt trở nên mới lạ, độc đáo, giàu tính sáng tạo, tăng chất lãng mạn, giàu cảm xúc.

• Diễn tả nỗi buồn chia tay sâu kín, ánh mắt đượm màu hoàng hôn như chất chứa bao lưu luyến và xao xuyến của người ra đi.

• Qua đó tác giả bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc và nỗi buồn chia ly sâu lắng.

Câu 4: * Hình ảnh "sóng" xuất hiện trong 2 câu thơ: "Đưa người, ta không đưa qua sông, / Sao có tiếng sóng ở trong lòng"

• Ý nghĩa:

• Hình ảnh "tiếng sóng" mang ý nghĩa biểu tượng cho sóng trong lòng, diễn tả tâm trạng xúc động bàng hoàng dâng trào.

• Gợi ra khung cảnh chia li thời cổ, góp phần tạo nên hơi thở Đường thi cho câu thơ.

Câu 5: Qua văn bản, thông điệp có ý nghĩa nhất với em là mỗi người ai cũng cần phải có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng, nỗ lực nhân lên khát vọng ấy. Cuộc chia tay trong bài thơ không chỉ là nỗi buồn mà còn gợi suy nghĩ về con đường phía trước của người ra đi đó cũng là lúc con người lựa chọn con đường mình sẽ đi. Muốn trở thành phiên bản tốt nhất, ta phải dám rời khỏi vùng an toàn và dám nỗ lực theo đuổi khát vọng của mình. Hãy sống có mục tiêu và kiên trì phấn đấu chính là cách để cuộc đời ý nghĩa hơn.

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

- Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dân.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thế hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

  • "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
  • Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ.

Góp phần thối vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5

- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chạt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.

+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

Câu 1.

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người ở lại tiễn đưa người ra đi (người đưa tiễn).

Câu 2.

  • Không gian: con đường nhỏ, không gian buổi tiễn biệt.
  • Thời gian: buổi chiều hoàng hôn và sáng hôm sau.

Câu 3.

  • Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ:
    Câu thơ đảo trật tự và lược bỏ thành phần câu:
    “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”.
  • Tác dụng:
  • Tạo giọng điệu giàu cảm xúc, gợi sự bâng khuâng, xao xuyến.
  • Nhấn mạnh nỗi buồn, sự lưu luyến của người tiễn đưa trong giờ chia tay.

Câu 4.

Hình ảnh “tiếng sóng trong lòng” mang ý nghĩa tượng trưng:

  • Gợi sự dâng trào của cảm xúc, nỗi buồn và sự xao động trong tâm hồn khi chia tay.
  • Thể hiện nỗi nhớ, sự lưu luyến sâu sắc của người ở lại đối với người ra đi.
  • Làm nổi bật tâm trạng bồi hồi, day dứt của cuộc chia ly.

Câu 5.

Thông điệp có ý nghĩa: Mỗi con người cần dũng cảm bước đi trên con đường mình đã chọn.

Bởi vì trong cuộc sống ai cũng có lúc phải rời xa những điều thân thuộc để theo đuổi lí tưởng và ước mơ của mình. Sự chia ly tuy mang lại nỗi buồn nhưng cũng thể hiện khát vọng sống có ý nghĩa. Vì vậy, mỗi người cần mạnh mẽ, kiên định với lựa chọn của bản thân


Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là : " Ta"

Câu 2

Không gian : Không xác định

Thời gian: chiều hôm nay

Câu 3

- Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là " Đây hoàng hôn trong mắt "

- Tác dụng: Góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách : thể hiện nỗi buồn mang mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn ; gọi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ .

Câu 4

Hình ảnh " tiếng sóng " xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người , ta không đưa qua sông,

sao có tiếng sóng ở trong lòng?

- " Tiếng sóng " trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động , bâng khuâng , lưu luyến cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng trong lòng người tiễn đưa.

- Gợi ra những cuộc chia li thời cổ . Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5

- Thông điệp thấy có ý nghĩa nhất trong cuộc sống: Hãy trân trọng tình cảm và những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời , bởi vì chia ly là điều khó tránh.Khi con người rời xa nhau , tình cảm chân thành và ký ức đẹp sẽ luôn tồn tại trong lòng.

- Lý do: Bài thơ hiện sâu sắc nỗi buồn , sự lưu luyến trong phút chia tay , cho thấy tình cảm giữa cn người với nhau rất đáng quý.

6 tháng 3

Câu 1

- Nhân vật trữ tình trong bài thơ là " ta" - người đưa tiễn.

Câu 2 :

- Cuộc chia tay không xác định không gian .Thời gian là: chiều hôm nay.

Câu 3:

-Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong hai câu thơ " Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?"

Là kết hợp từ bất bình thường" đầy Hoàng hôn trong mắt";"đầy" (tính từ) : ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả

" Hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn , ánh sáng yếu ớt và mờ dần.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn ,man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người ly khách; thể hiện nỗi buồn man mát vấn vương của ly khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lý trí kìm nén những cảm xúc trong lòng mình; gửi ra khung cảnh những cuộc chia ly thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4:

- Hình ảnh" tiếng sóng " xuất hiện xong hai câu thơ :

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

- "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến vợ vấn vương cùng nỗi buồn man mát khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vua hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.

- Gợi ra khung cảnh những cuộc chia ly thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở đường Thi.

Câu 5 :

- Qua văn bản, Em thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống là : Con người còn sống có lý tưởng và dũng cảm theo đuổi khát vọng lớn của mình.

Vì bài thơ khắc họa hình ảnh người ra đi với chí lớn, quyết tâm không quay lại, dù phía sau là gia đình và người thân đầy thương nhớ. Điều đó cho thấy khát vọng cống hiến và lý tưởng sống cao đẹp.

Câu1: Nhân vật trữ tình là " ta"- người đưa tiễn

Câu 2: Cuộc chia tay ko có không gian,thời gian là trong chiều hôm nay

Câu 3 :chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường " đầy hoàng hôn trong mắt" đầy ở trạng thái ko còn chứa thêm đc nữa có nhiều và ở khắp nơi"

"Hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn ,ánh sáng yếu ớt và mở dần

Tác dụng: góp phần thể hiện 1 cách kín đáo tâm trạng của người li khách 1 cách đầy lãng mạn ,gợi khung cảnh giữa cuộc chia li thời cổ ,góp phần thổi vào câu thở hơi thở đường thi

Câu 4:" tiếng sóng " lòng tượng trưng cho sự sáo động ,bâng khuâng,lưu luyến vào nhớ thương

7 tháng 3

Câu 1:nhân vật trữ tình: “ta” – người tiễn bạn lên đường.

Câu 2:không gian: con đường nhỏ, nơi tiễn đưa.

thời gian: buổi chiều hôm trước và sáng hôm sau khi chia tay.

Câu 3:hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: cách diễn đạt phi lí, đảo logic (bóng không thắm, không vàng vọt nhưng mắt lại đầy hoàng hôn).

tác dụng: thể hiện nỗi buồn sâu sắc, tâm trạng xúc động và trống vắng của người tiễn biệt.

Câu 4:“tiếng sóng” tượng trưng cho sự xao động, nỗi buồn dâng lên trong lòng người tiễn khi chia tay.

Câu 5:thông điệp: cần trân trọng những tình cảm và những khoảnh khắc bên nhau trong cuộc sống, vì chia ly luôn để lại nhiều lưu luyến và đau buồn


14 tháng 3

Câu 1 (0,5 điểm).

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2 (0,5 điểm).

Cuộc chia tay không xác định không gian.

Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3 (1,0 điểm).

Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dân.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thế hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cố, góp phần thối vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4 (1,0 điểm).

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

  • "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
  • Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cố. Góp phần thối vào câu thơ hơi thở

Đường thi.

Câu 5 (1,0 điểm).

Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì nhữngước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy. Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

câu 2: Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

câu 3: hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt", " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

"hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người r đi

Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi

câu 5:

 

16 tháng 3

Câu 1

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta"

Câu 2

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3

Câu 4

Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng"Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiền đưa Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ.

Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Caau 5 : Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

17 tháng 3

Câu 1: phương thức biểu đạt chính la biểu cam

Câu 2: không gian thời gian là buổi chiều tà nắng dần

Câu 3: câu bất thường là sao dayf hoàng hôn trong mắt trong

Câu 4 : ý nghĩa của hình tượng sóng trong văn bản là thể hiện tâm trạng bồi hồi và lo lắng những thứ ấy đang ko ngừng trôi dậy như cơn sóng nuoc

Câu 5: theo em thông điệp của đoạn thơ là mỗi người đều mang trong mình một con đường riêng có người vì tình yêu cũng có người chỉ vì một cuộc song ko lo ăn mặc nhưng nhìn chung thì ọn đều hướng đến sự bình yêu tronẩtm hon

19 tháng 3
Câu 1
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn. 
Câu 2
Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay. 
Câu 3

-Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. 

-Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi. —Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 4 Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ:  Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

-"Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa. 

-Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. 

Câu 5 (1,0 điểm). Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

-Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

-Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình. -Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy. 

-Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người. 


Câu 1 (khoảng 200 chữ)


Hình tượng “li khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm hiện lên vừa mang vẻ đẹp bi tráng, vừa thấm đẫm nỗi cô đơn. Đó là con người ra đi với “chí nhớn”, mang khát vọng lập thân, lập nghiệp, sẵn sàng dấn thân vào con đường chưa biết trước. Lời thề “không bao giờ nói trở lại” cho thấy ý chí kiên quyết, bản lĩnh mạnh mẽ của một kẻ sĩ dám từ bỏ chốn bình yên để theo đuổi lý tưởng. Tuy nhiên, đằng sau vẻ cứng cỏi ấy lại là một tâm hồn đầy tình cảm. Người ra đi không vô cảm mà mang theo nỗi buồn chia ly: buồn vì mẹ già, vì chị, vì em nhỏ. Những người thân cũng cố kìm nén đau thương, càng làm nổi bật sự giằng xé trong lòng li khách. Chính vì thế, hình tượng này vừa mang tầm vóc lớn lao của người anh hùng, vừa rất đỗi đời thường với những rung động sâu kín. Qua đó, tác giả đã khắc họa vẻ đẹp của con người thời đại: sống có lý tưởng nhưng cũng giàu tình nghĩa.




Câu 2 (khoảng 600 chữ)


Trong hành trình trưởng thành, mỗi người đều có lúc phải rời khỏi vòng tay gia đình để tự mình bước đi. Ý kiến “Ở một thời điểm nào đó trong hành trình của cuộc đời, ta sẽ phải độc lập tự mình bước đi” đã gợi ra một chân lý quan trọng: sự tự lập là điều tất yếu và có ý nghĩa đặc biệt đối với tuổi trẻ.


Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, không phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Đối với người trẻ, tự lập không chỉ là việc tự chăm sóc bản thân mà còn là dám đối mặt với khó khăn, thử thách để khẳng định giá trị của mình.


Trước hết, tự lập giúp tuổi trẻ trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Khi không còn dựa dẫm, mỗi người buộc phải học cách giải quyết vấn đề, từ đó rèn luyện bản lĩnh, ý chí và kỹ năng sống. Những va vấp trong cuộc đời chính là bài học quý giá mà không ai có thể học thay. Nhờ đó, con người trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn trước mọi thử thách.


Bên cạnh đó, tự lập còn là điều kiện để mỗi cá nhân thực hiện ước mơ và khẳng định giá trị riêng. Nếu mãi sống trong sự bao bọc, con người sẽ dễ trở nên thụ động, thiếu sáng tạo. Ngược lại, khi dám bước ra khỏi “vùng an toàn”, người trẻ sẽ có cơ hội khám phá khả năng của mình và tìm thấy con đường phù hợp. Chính sự tự lập đã giúp nhiều người trẻ thành công, đóng góp tích cực cho xã hội.


Không chỉ vậy, tự lập còn giúp con người trân trọng hơn những giá trị của cuộc sống, đặc biệt là tình cảm gia đình. Khi tự mình trải qua khó khăn, ta mới hiểu được sự hy sinh của cha mẹ, từ đó sống có trách nhiệm và biết yêu thương nhiều hơn.


Tuy nhiên, cần hiểu rằng tự lập không đồng nghĩa với cô lập hay tách rời hoàn toàn khỏi sự giúp đỡ của người khác. Người trẻ vẫn cần học hỏi, lắng nghe và tiếp nhận sự hỗ trợ khi cần thiết. Tự lập đúng nghĩa là biết đứng vững trên đôi chân của mình, nhưng không đánh mất sự kết nối với gia đình và xã hội.


Trong thực tế, vẫn còn không ít bạn trẻ sống phụ thuộc, thiếu kỹ năng sống, ngại khó khăn, thậm chí sợ thất bại. Điều này khiến họ dễ mất phương hướng khi đối mặt với cuộc sống thực. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính tự lập từ những việc nhỏ nhất: tự học, tự quản lý thời gian, tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình.


Tóm lại, tự lập là chìa khóa giúp tuổi trẻ trưởng thành và vững bước trên hành trình cuộc đời. Mỗi người hãy dũng cảm bước ra khỏi sự bao bọc để khám phá thế giới và khẳng định chính mình. Bởi chỉ khi tự mình bước đi, ta mới thực sự hiểu được giá trị của cuộc sống và ý nghĩa của chính bản thân mình.


Câu 1 (0,5 điểm).

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiền.

Câu 2 (0,5 điểm).

Cuộc chia tay không xác định không gian.

Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3 (1,0 điểm).

- Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; " đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

"

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lạn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thế hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố găng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cố, góp phần thối vào câu thơ hơi thở

Đường thi.


Câu 5 (1,0 điểm).

- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.

+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

+...

- Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.

19 tháng 3

Câu 1: Nhân vật trữ tình là ta

Câu 2: Cuộc chia tay k xác định k gian. Thời gian là trong “ chiều hôm nay”

Câu 3:”đầy hoàng hôn trong mắt”

- Tác dụng:

Góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của li khách, nỗi buồn man mác vẫn vương của li khách một cách đầy lãng mạn

Câu 4: Hình ảnh tiếng sóng thể hiện tâm trạng xáo động, bâng khuâng lưu luyến và vấn vương cùn nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hạn trong lòng người tiễn đưa

Câu 5: Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ nhưng trong nhiều tình huống

Con người nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình

Mỗi người cần có ước mơ hoài bão mục tiêu cho riêng mình

23 tháng 3

Câu 1:

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “ta”.

Câu 2:

-Cuộc chia tay không xác định không gian. 

-Thời gian là trong “chiều hôm nay”.

Câu 3:

-Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong 2 câu thơ là kết hợp từ bất bình thường: “Đầy hoàng hôn trong mắt”.

-Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người ly khách, thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của ly khách một cách đầy lãng mạn, cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lý trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình, gợi ra khung cảnh những cuộc chia ly thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu4:

Hình ảnh “tiếng sóng” xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

-“Tiếng sóng” trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mát khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.

-Gợi ra khung cảnh những cuộc chia ly thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

Câu 5:

-Qua văn bản, 1 thông điệp mà em thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống là mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.



16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

15
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


Câu 1. (2,0 điểm)Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.            CHÂN QUÊ     Hôm qua em đi tỉnh về,     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!     Nào đâu cái yếm lụa sồi?     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?     Nào...
Đọc tiếp

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.

            CHÂN QUÊ

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.

     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

     Nào đâu cái yếm lụa sồi?

     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

     Nào đâu cái áo tứ thân?

     Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


     Nói ra sợ mất lòng em,

     Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

     Như hôm em đi lễ chùa,

     Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

     Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

     Thầy u mình với chúng mình chân quê.

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                      (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau đây: Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại. (Barack Obama)

10
19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:

Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.

Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.

Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.

Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.

19 tháng 9 2025

tặng mik mấy xu đi

1 xu cx đc nha

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

29
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.            Nghe lời khuyên nhủ thong dong,    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.           Rạng ra gửi đến xuân đường,    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.           Tiễn đưa một chén quan hà,    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.           Sông Tần một dải xanh xanh,    Loi thoi bờ liễu mấy cành...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

           Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
           Rạng ra gửi đến xuân đường,
    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
           Tiễn đưa một chén quan hà,
    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
           Sông Tần một dải xanh xanh,
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
           Cầm tay dài ngắn thở than,
    Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
           Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
           Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, 
    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
          Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
    Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
          Dù khi sóng gió bất bình,
    Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
          Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
    Lại mang những tiếng tày trời đến sau.
          Thương nhau xin nhớ lời nhau,
    Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
          Chén đưa nhớ bữa hôm nay, 
    Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
          Dặm hồng bụi cuốn chinh an, 
    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
          Người về chiếc bóng năm canh,
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
          Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

                                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

        Người về chiếc bóng năm canh,
   Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là gì?

Câu 5. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do. 

8
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.


Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.


Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ

Hai câu:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

  • Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
  • Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản

Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.


Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do

Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.

  • Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.

Câu 3.

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”

-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.

Câu 4.

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.

Câu 5.

-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.



(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


17 tháng 9 2025

e

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):

Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:

“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”

Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (600 chữ):

Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.

Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.

Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.

Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.

I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM) Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:             Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM)

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

            Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó.

            Thế là khi ông ta sở hữu ngôi nhà đẹp, người hàng xóm liền có cả dinh thự lộng lẫy. Ông ta ước mình giàu có, người hàng xóm có hẳn một mỏ vàng. Không chịu được sự “bất công” đó, người đàn ông may mắn liền ước mình bị mù một mắt để người hàng xóm bị mù cả hai…

            Chính lòng đố kị đã tạo nên sự nhỏ nhen, biến thành cảm giác hận thù và suy nghĩ mù quáng cho ông ta: thà kém may mắn hơn một chút để người khác đau khổ hơn mình thay vì chọn điều ngược lại.

            Lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục. Con người cần phải có lòng cao thượng, rộng rãi, biết vui với thành công của người khác. Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ.

(Trích Về những câu chuyện ngụ ngôn, nguồn Internet)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên. (0.5 điểm)

Câu 2: Tại sao tác giả ngụ ngôn lại cho rằng: mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó. (0.5 điểm)

Câu 3: Theo anh/chị, vì sao lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục? (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/ chị rút ra thông điệp gì tâm đắc nhất từ đoạn ngữ liệu trên? Vì sao? (1.0 điểm)

8
20 tháng 5 2021

hhj