Câu 1 (2.0 điểm).

Viết đo...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (2.0 điểm).

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong đoạn trích dưới đây.

Người lên ngựa, kẻ chia bào1,

Rừng phong2, thu đã nhuốm màu quan san3.

Dặm hồng4 bụi cuốn chinh an5,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi?

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2002, tr. 120 – 122)

Chú thích:

*Vị trí đoạn trích: sau khi chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, Thúc Sinh từ biệt nàng về gặp Hoạn Thư để trình bày về việc mình đã cưới vợ lẽ.

1Chia bào: buông áo (bào: áo). Thường khi li biệt, người ta hay nắm lấy áo nhau, thể hiện tình cảm quyến luyến.

2Phong: một loại cây, đến mùa thu thì sắc lá hoá đỏ.

3Quan san: quan ải, núi non, thường chỉ sự xa xôi, cách trở.

4Dặm hồng: dặm đường đi giữa bụi hồng.

5Chinh an: việc đi đường xa (chinh: đi đường xa; an: yên ngựa).

Câu 2 (4,0 điểm).

"Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương."

(Trích từ trang Đạo Phật trong trái tim tôi)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/ chị về ý nghĩa của sự tha thứ đối với cuộc sống.

22
6 tháng 2

Đoạn thơ "Người lên ngựa, kẻ chia bào..." là một minh chứng rõ nét cho bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa của Nguyễn Du. Hình ảnh chia tay: người lên ngựa, kẻ chia bào gợi nỗi xót xa của cuộc ly biệt. Thiên nhiên hiện ra với rừng phong nhuốm màu quan san, bụi cỏ sương gió làm không gian thêm hiu quạnh. Cảnh người đi muôn dặm một mình gợi cảm giác cô đơn, xa vắng, câu thơ "Vầng trăng ai xẻ làm đôi" như diễn tả tám cảm chảy lòng. Qua những hình ảnh cảnh thu buồn hiu hắt, tác giả gửi gắm tình cảm luyến lưu, bịn rĩn của nhân vật và thể hiện tài năng làm cho cảnh vật trở thành tiếng lòng nhân vật.

6 tháng 2

Manager là j v

Câu 1. Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình một cách đặc sắc để khắc họa nỗi chia li đầy xót xa của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Cảnh vật hiện lên với “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, sắc đỏ của lá phong và không gian thu gợi cảm giác buồn thương, cách trở. Hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an” vừa tái hiện con đường xa mờ mịt bụi, vừa gợi bước chân người ra đi biền biệt. Cảnh “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” cho thấy khoảng cách không chỉ tính bằng không gian mà còn là sự xa cách trong tâm trạng. Đặc biệt, chi tiết “vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là hình ảnh giàu tính biểu tượng, vầng trăng vốn tròn đầy nay như bị chia cắt, phản chiếu nỗi đau chia lìa của đôi lứa. Cảnh và tình hòa quyện, cảnh sắc thiên nhiên không còn đơn thuần là phông nền mà trở thành tiếng nói của tâm trạng, qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du. Câu 2. “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương.” Lời nhắn nhủ giản dị ấy gợi mở một bài học sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ không có nghĩa là quên đi mọi tổn thương hay dung túng cho cái sai, mà là cách con người buông bỏ oán giận để tâm hồn được thanh thản. Khi nuôi dưỡng sự hận thù, con người tự trói mình trong những cảm xúc tiêu cực, để quá khứ chi phối hiện tại. Ngược lại, biết tha thứ giúp ta giải phóng chính mình, tìm lại sự bình yên và cân bằng nội tâm. Trong thực tế, có những mâu thuẫn gia đình, bạn bè nếu không được hóa giải sẽ âm ỉ kéo dài, làm rạn nứt tình cảm. Chỉ một lời xin lỗi chân thành và một sự bao dung đúng lúc có thể hàn gắn những vết thương tưởng chừng không thể chữa lành. Nhiều người từng trải qua biến cố lớn trong cuộc đời đã lựa chọn tha thứ thay vì nuôi hận thù, nhờ đó họ tìm lại được ý nghĩa sống và lan tỏa nguồn năng lượng tích cực đến cộng đồng. Tuy nhiên, tha thứ không đồng nghĩa với việc chấp nhận mọi hành vi sai trái. Tha thứ cần đi kèm với sự tỉnh táo, biết rút ra bài học và bảo vệ bản thân trước những tổn thương lặp lại. Đối với người trẻ, học cách tha thứ là học cách trưởng thành. Tha thứ cho người khác để lòng nhẹ nhõm hơn, và cũng tha thứ cho chính mình vì những sai lầm đã qua để có động lực sửa đổi. Khi khép lại một ngày bằng sự bao dung, ta sẽ bước vào ngày mới với tâm thế an yên và tích cực hơn. Có thể nói, tha thứ không chỉ là món quà dành cho người khác mà còn là món quà quý giá nhất ta trao cho chính mình.

2 tháng 3

Câu 1:

Đoạn thơ đã thể hiện đặc sắc bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Cảnh chia li được khắc họa qua những hình ảnh giàu sức gợi: “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, “dặm hồng bụi cuốn chinh an”, “vầng trăng ai xẻ làm đôi”… Thiên nhiên hiện lên trong sắc thu đỏ úa, không gian “quan san” xa cách, bụi đường mờ mịt, tất cả đều nhuốm màu buồn thương, chia biệt. Cảnh không chỉ tả thực mà còn phản chiếu tâm trạng con người: nỗi lưu luyến, xót xa của kẻ ở người đi. Đặc biệt, hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là một ẩn dụ đẹp và sáng tạo. Trăng vốn tròn đầy, nay như bị chia cắt, tượng trưng cho tình yêu đang phải xa lìa. Thủ pháp đối lập “người lên ngựa – kẻ chia bào”, “người về – kẻ đi” càng làm nổi bật sự cách trở. Với ngôn ngữ tinh tế, giàu tính tạo hình và biểu cảm, Nguyễn Du đã dùng cảnh để nói tình, khiến nỗi buồn chia li trở nên thấm thía, lay động lòng người.

Câu 2:

“Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương.” Lời nhắn nhủ ấy gợi mở một bài học sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ là việc ta buông bỏ oán giận, không để những tổn thương trong quá khứ tiếp tục làm mình đau đớn. Tha thứ không có nghĩa là quên hết mọi chuyện hay dung túng cho sai lầm, mà là lựa chọn cách đối diện với nỗi đau bằng sự bao dung và thấu hiểu. Khi một người biết tha thứ, họ không chỉ giải thoát cho người khác mà trước hết là giải thoát cho chính mình. Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi những lần bị hiểu lầm, phản bội hay làm tổn thương. Nếu cứ giữ mãi sự giận dữ, ta sẽ tự làm trái tim mình nặng nề. Oán hận giống như một gánh đá đè lên tâm hồn, khiến ta mệt mỏi và mất đi niềm vui sống. Ngược lại, tha thứ giúp tâm hồn nhẹ nhõm hơn, giúp ta ngủ yên mỗi tối và bắt đầu ngày mới với tinh thần tích cực. Tha thứ còn mở ra cơ hội hàn gắn các mối quan hệ, tạo điều kiện để con người hiểu nhau hơn và trưởng thành hơn sau sai lầm. Tuy nhiên, tha thứ không đồng nghĩa với việc chấp nhận mọi điều sai trái. Sự tha thứ cần đi cùng nhận thức đúng đắn. Ta có thể tha thứ nhưng vẫn giữ lập trường, biết bảo vệ bản thân và không để mình tiếp tục bị tổn thương. Tha thứ là biểu hiện của lòng bao dung và sự mạnh mẽ nội tâm, chứ không phải yếu đuối. Trong thực tế, nhiều người vì tự ái hoặc sĩ diện mà không thể mở lòng tha thứ. Điều đó khiến mối quan hệ rạn nứt và bản thân họ cũng chìm trong cảm xúc tiêu cực. Là học sinh, chúng ta cần học cách bao dung với bạn bè khi có hiểu lầm, biết nói lời xin lỗi và chấp nhận lời xin lỗi. Những mâu thuẫn nhỏ nếu được giải quyết bằng sự chân thành và tha thứ sẽ giúp tình bạn bền chặt hơn. Tóm lại, sự tha thứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống mỗi con người. Tha thứ giúp chữa lành những vết thương tinh thần, nuôi dưỡng lòng nhân ái và mang lại sự bình yên trong tâm hồn. Trước khi đi ngủ, nếu ta có thể buông bỏ những giận hờn của một ngày đã qua, ta sẽ thấy lòng mình thanh thản hơn và sẵn sàng đón nhận một ngày mới với trái tim rộng mở.

2 tháng 3

Câu 1:

Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh chia tay giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều được đặt trong không gian mùa thu với “rừng phong”, “màu quan san”, “dặm hồng”… Những hình ảnh ấy không chỉ tả thực cảnh vật mà còn nhuốm màu tâm trạng. Sắc đỏ của rừng phong như thấm đẫm nỗi chia lìa, xa cách. Không gian rộng lớn “mấy ngàn dâu xanh” gợi khoảng cách mênh mông, dự cảm về sự cách trở. Nghệ thuật đối được vận dụng tinh tế: “Người lên ngựa, kẻ chia bào” làm nổi bật hai thân phận trong khoảnh khắc biệt li. Ở bốn câu cuối, nỗi cô đơn càng được khắc sâu qua hình ảnh “chiếc bóng năm canh”, “nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”, diễn tả sự trống vắng kéo dài theo thời gian. Thiên nhiên vì thế trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng, làm cho nỗi buồn chia ly thêm sâu lắng, ám ảnh.

Câu 2:

Tha thứ là một trong những phẩm chất cao đẹp của con người. Tha thứ không có nghĩa là quên hết mọi lỗi lầm hay chấp nhận cái sai, mà là biết buông bỏ oán giận, không để quá khứ tiêu cực trói buộc tâm hồn mình. Trong cuộc sống, ai cũng có lúc mắc sai lầm, và chính sự bao dung giúp con người có cơ hội sửa chữa, hoàn thiện bản thân. Trước hết, tha thứ giúp giải phóng con người khỏi những cảm xúc tiêu cực như tức giận, thù hận, đau khổ. Khi giữ mãi oán giận, ta chỉ làm mình thêm mệt mỏi. Buông bỏ được hận thù, tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhõm, bình an hơn. Tha thứ còn góp phần hàn gắn các mối quan hệ, giúp con người xích lại gần nhau. Trong gia đình, tình bạn hay tình yêu, sự bao dung chính là sợi dây duy trì sự bền chặt. Bên cạnh đó, tha thứ thể hiện sự trưởng thành và bản lĩnh. Người biết tha thứ là người đủ mạnh mẽ để vượt lên tổn thương. Tuy nhiên, tha thứ không đồng nghĩa với dung túng cái xấu; cần có giới hạn và sự tỉnh táo để bảo vệ bản thân. Tóm lại, sự tha thứ mang ý nghĩa lớn lao đối với cuộc sống: giúp tâm hồn thanh thản, các mối quan hệ bền vững và xã hội nhân văn hơn. Mỗi người cần học cách tha thứ đúng đắn để sống nhẹ nhàng và tích cực hơn mỗi ngày.

Câu 1:

Trong đoạn trích "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều", đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng bậc thầy bút pháp tả cảnh ngụ tình để khắc họa nỗi lòng ly biệt. Ngay từ những câu đầu, thiên nhiên đã mang nặng tâm trạng con người: "Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san". Từ "nhuốm" không chỉ tả sắc đỏ của lá phong mà còn cho thấy nỗi buồn của kẻ ở người đi đã thấm đẫm vào cảnh vật, biến không gian thành một màu chia cắt mịt mù. Hình ảnh "dặm hồng bụi cuốn" càng tô đậm sự xa xôi, trắc trở của hành trình phía trước. Đặc biệt, ở bốn câu cuối, bút pháp ngụ tình đạt đến đỉnh cao qua hình ảnh vầng trăng: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường". Vầng trăng vốn là biểu tượng của sự đoàn viên, nay bị "xẻ" làm đôi, tượng trưng cho hạnh phúc bị rạn nứt. Một nửa vầng trăng cô đơn soi bóng Kiều nơi "gối chiếc", nửa kia dõi theo bước chân Thúc Sinh trên "dặm trường" vạn dặm. Phép đối "người về" – "kẻ đi" cùng sự vận động của không gian đã làm nổi bật nỗi cô đơn tuyệt đối và sự bàng hoàng, xót xa của nhân vật trước cuộc chia ly định mệnh. Qua đó, ta thấy được tài năng của Nguyễn Du trong việc mượn ngoại cảnh để bộc lộ chiều sâu nội tâm con người.

Câu 2:

Trong cuốn "Đạo Phật trong trái tim tôi", có một lời khuyên rất nhân văn: "Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương". Câu nói ấy không chỉ là một lời an ủi mà còn là một bài học sâu sắc về sức mạnh của lòng vị tha – chìa khóa mở ra cánh cửa bình an trong cuộc sống. ​Tha thứ, trước hết, không phải là sự nhu nhược, dung túng cho cái ác hay xóa sạch những tổn thương như thể chúng chưa từng tồn tại. Thực chất, tha thứ là khả năng buông bỏ sự oán hận, thù ghét và thôi thúc trả đũa đối với những người đã gây ra lỗi lầm cho mình. Đó là một sự lựa chọn chủ động của tâm hồn để giải phóng bản thân khỏi những xiềng xích của quá khứ. ​Ý nghĩa lớn nhất của sự tha thứ chính là dành cho chính bản thân người tha thứ. Khi chúng ta ôm giữ hận thù, tâm trí ta giống như một cốc nước đầy axit, nó sẽ bào mòn và làm tổn thương chính cái bình chứa nó trước khi đổ lên người khác. Sự tha thứ giúp ta trút bỏ gánh nặng ngàn cân của sự tức giận và đau khổ, nhường chỗ cho niềm vui, sự thanh thản và một sức khỏe tinh thần lành mạnh. Khi biết tha thứ, chúng ta sẽ có nhiều thời gian và năng lượng hơn để tập trung vào việc phát triển bản thân và yêu thương những người xứng đáng. ​Hơn thế nữa, lòng vị tha còn là sợi dây hàn gắn những mối quan hệ đã rạn nứt. Trong cuộc đời, ai cũng có lúc phạm sai lầm; sự tha thứ cho phép người khác có cơ hội được sửa sai, được hoàn thiện mình và giúp tình cảm giữa người với người trở nên bao dung, thấu hiểu hơn. Một xã hội biết tha thứ sẽ là một xã hội ít đi những xung đột, hận thù và thay vào đó là sự gắn kết nhân văn. ​Tuy nhiên, tha thứ cần đi đôi với sự tỉnh táo. Tha thứ để tâm hồn thanh thản nhưng không có nghĩa là mù quáng đặt niềm tin vào những người liên tục gây tổn thương mà không có ý định thay đổi. Chúng ta tha thứ để buông bỏ gánh nặng cho mình, nhưng cũng cần thiết lập những ranh giới lành mạnh để bảo vệ bản thân. ​Mỗi tối, khi nhắm mắt lại, việc tha thứ giống như ta đang thực hiện một nghi thức "tẩy rửa" cho tâm hồn. Hãy để những muộn phiền của ngày hôm nay trôi đi cùng bóng tối, để khi bình minh lên, ta có thể đón nhận ngày mới bằng một trái tim nhẹ nhõm và tràn đầy ánh sáng. Lòng vị tha không làm thay đổi được quá khứ, nhưng chắc chắn nó sẽ làm thay đổi cả tương lai của chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn.


5 tháng 3

Câu 1: Trong đoạn trích Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng đặc sắc bút pháp tả cảnh ngụ tình để khắc họa nỗi buồn chia li của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Bốn câu đầu dựng lên bức tranh thiên nhiên mùa thu với “rừng phong”, “màu quan san”, “dặm hồng bụi cuốn”… Những hình ảnh, màu sắc vừa gợi không gian xa cách, vừa nhuốm sắc đỏ úa của li biệt. Các động từ “lên ngựa”, “chia bào”, “nhuốm” kết hợp với phép đối giữa “người lên ngựa – kẻ chia bào” làm nổi bật khoảnh khắc tiễn đưa đầy lưu luyến. Cảnh vật như thấm đẫm tâm trạng, nỗi buồn dường như lan ra cả “mấy ngàn dâu xanh”. Bốn câu sau tiếp tục nhấn mạnh sự chia cắt qua phép đối: “người về – kẻ đi”, “chiếc bóng năm canh – muôn dặm một mình”. Không gian và thời gian trải rộng, kéo dài, gợi nỗi cô đơn, trống vắng. Câu hỏi tu từ “Vầng trăng ai xẻ làm đôi?” vừa như lời oán trách, vừa như tiếng thở dài cho hạnh phúc bị chia lìa. Qua đó, Nguyễn Du cho thấy tài năng miêu tả tinh tế: cảnh không chỉ là phông nền mà là tấm gương phản chiếu tâm trạng con người.

Câu 2:

Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương.” Lời nhắn nhủ ấy gợi ra ý nghĩa sâu sắc của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ là bỏ qua lỗi lầm của người khác, không nuôi giữ oán giận, không để hận thù chi phối tâm hồn. Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là quên hết mọi chuyện hay dung túng cho cái sai; đó là lựa chọn buông bỏ cảm xúc tiêu cực để lòng mình được nhẹ nhõm và bình an hơn. Trước hết, tha thứ giúp con người giải thoát chính mình. Khi ôm mãi sự tức giận hay đau khổ, ta tự làm tâm hồn trở nên nặng nề, mệt mỏi. Buông bỏ oán hờn cũng giống như đặt xuống một gánh nặng, để trái tim có chỗ cho niềm vui và hi vọng. Người biết tha thứ thường sống thanh thản, ít căng thẳng, từ đó giữ được sức khỏe tinh thần tốt hơn. Tha thứ không làm ta yếu đuối; ngược lại, đó là biểu hiện của bản lĩnh và sự trưởng thành. Bên cạnh đó, tha thứ còn hàn gắn các mối quan hệ. Trong cuộc sống, ai cũng có lúc mắc sai lầm. Nếu chỉ vì một lỗi lầm mà cắt đứt tình thân, tình bạn thì con người sẽ dần cô lập chính mình. Một lời tha thứ chân thành có thể mở ra cơ hội sửa sai cho người khác, đồng thời giữ gìn những giá trị tốt đẹp của tình cảm. Nhiều gia đình, nhiều tình bạn đã được cứu vãn nhờ sự bao dung và thấu hiểu. Tuy nhiên, tha thứ cần đi kèm với sự tỉnh táo. Không nên tha thứ mù quáng cho những hành vi cố ý gây tổn hại nghiêm trọng, bởi điều đó có thể khiến cái xấu tiếp tục lặp lại. Tha thứ đúng nghĩa là buông bỏ hận thù nhưng vẫn biết đặt ra ranh giới, biết bảo vệ bản thân và tôn trọng công bằng. Trong xã hội hiện đại với nhiều áp lực, con người càng cần học cách tha thứ để sống nhẹ nhàng hơn. Tha thứ cho người khác cũng chính là học cách tha thứ cho bản thân khi ta lỡ sai. Khi biết nhìn nhận lỗi lầm, rút ra bài học và buông bỏ quá khứ, ta sẽ trưởng thành hơn từng ngày. Tóm lại, sự tha thứ có ý nghĩa to lớn đối với mỗi cá nhân và cộng đồng. Nó giúp con người tìm lại bình an trong tâm hồn, nuôi dưỡng lòng nhân ái và giữ gìn những mối quan hệ tốt đẹp. Học cách tha thứ không phải là việc dễ dàng, nhưng đó là hành trình cần thiết để mỗi chúng ta sống nhân hậu và hạnh phúc hơn.

câu 1:

Trong đoạn trích cảnh Thúy Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình một cách điêu luyện để diễn tả nỗi buồn chia ly. Cảnh vật thiên nhiên không chỉ là phông nền mà còn là tấm gương phản chiếu tâm trạng con người. Hình ảnh "Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san" với sắc đỏ úa tàn gợi lên sự chia lìa, nhuốm màu sắc buồn thương của không gian cách biệt. Hình ảnh "dặm hồng bụi cuốn" và "ngàn dâu xanh" vừa gợi bước chân đi xa vạn dặm, vừa cho thấy sự mịt mù, nhỏ bé của con người trước định mệnh. Đặc biệt, hình ảnh "vầng trăng ai xẻ làm đôi" là đỉnh cao của nghệ thuật ngụ tình. Trăng vốn tròn đầy nhưng trong mắt kẻ chia ly, nó bị xẻ làm đôi: một nửa soi gối chiếc đơn độc của người ở lại, một nửa dặm trường theo bước kẻ đi xa. Qua đó, Nguyễn Du đã tái hiện một cuộc chia ly đầy lưu luyến, buồn đau, dự cảm về những sóng gió phía trước của nhân vật.

câu 2:

Trong cuốn "Đạo Phật trong trái tim tôi", có một lời khuyên đầy chiêm nghiệm: "Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương". Lời dạy ấy không chỉ là một phương châm sống tu tập mà còn là một triết lý nhân sinh sâu sắc, nhắc nhở chúng ta về sức mạnh chữa lành kỳ diệu của sự tha thứ đối với tâm hồn con người.

Tha thứ trước hết không phải là sự nhu nhược, cũng không phải là việc đồng tình hay dung túng cho cái sai. Tha thứ là khả năng chủ động buông bỏ những oán hận, thù hằn và ý định trả đũa đối với những người đã gây ra đau khổ cho ta. Đó là một quyết định thuộc về lý trí và tình thương, nhằm giải phóng bản thân khỏi xiềng xích của những cảm xúc tiêu cực.

Ý nghĩa lớn nhất của sự tha thứ chính là giải phóng và chữa lành bản thân. Cuộc đời vốn dĩ đầy rẫy những va chạm và tổn thương không mong muốn. Nếu chúng ta cứ mãi cầm giữ sự tức giận, ta vô tình tự giam cầm mình trong "nhà tù" của quá khứ. Sự oán hận giống như một liều thuốc độc mà ta uống vào nhưng lại mong người khác chết; nó gặm nhấm niềm vui, vắt kiệt năng lượng và ngăn cản ta nhìn thấy ánh sáng của hiện tại. Khi ta chọn cách tha thứ trước khi khép mắt ngủ mỗi đêm, ta đang thực hiện một nghi thức "thanh lọc" tâm hồn, để trái tim được nhẹ nhàng, thanh thản và sẵn sàng đón nhận những điều tốt đẹp vào ngày mai.

Hơn thế nữa, tha thứ là nhịp cầu hàn gắn các mối quan hệ và cảm hóa con người. Trong một xã hội mà cái tôi cá nhân thường được đẩy lên quá cao, sự vị tha trở thành chất keo gắn kết những rạn nứt. Thay vì lấy oán báo oán khiến thù hằn chồng chất, sự bao dung có thể khiến kẻ lầm lỗi thức tỉnh và quay đầu. Tha thứ cho người khác cũng là cho chính mình một cơ hội để tìm lại một người bạn, một người thân, hay đơn giản là giữ lại một môi trường sống nhân văn, hòa ái. Một cộng đồng biết tha thứ sẽ giảm bớt đi những xung đột khốc liệt và trở nên bền vững hơn.

Tuy nhiên, tha thứ cần đi đôi với sự tỉnh táo và sắc sảo. Trong cuốn "Đạo Phật trong trái tim tôi", có một lời khuyên đầy chiêm nghiệm: "Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương". Lời dạy ấy không chỉ là một phương châm sống tu tập mà còn là một triết lý nhân sinh sâu sắc, nhắc nhở chúng ta về sức mạnh chữa lành kỳ diệu của sự tha thứ đối với tâm hồn con người.

Tha thứ trước hết không phải là sự nhu nhược, cũng không phải là việc đồng tình hay dung túng cho cái sai. Tha thứ là khả năng chủ động buông bỏ những oán hận, thù hằn và ý định trả đũa đối với những người đã gây ra đau khổ cho ta. Đó là một quyết định thuộc về lý trí và tình thương, nhằm giải phóng bản thân khỏi xiềng xích của những cảm xúc tiêu cực.

Ý nghĩa lớn nhất của sự tha thứ chính là giải phóng và chữa lành bản thân. Cuộc đời vốn dĩ đầy rẫy những va chạm và tổn thương không mong muốn. Nếu chúng ta cứ mãi cầm giữ sự tức giận, ta vô tình tự giam cầm mình trong "nhà tù" của quá khứ. Sự oán hận giống như một liều thuốc độc mà ta uống vào nhưng lại mong người khác chết; nó gặm nhấm niềm vui, vắt kiệt năng lượng và ngăn cản ta nhìn thấy ánh sáng của hiện tại. Khi ta chọn cách tha thứ trước khi khép mắt ngủ mỗi đêm, ta đang thực hiện một nghi thức "thanh lọc" tâm hồn, để trái tim được nhẹ nhàng, thanh thản và sẵn sàng đón nhận những điều tốt đẹp vào ngày mai. Hơn thế nữa, tha thứ là nhịp cầu hàn gắn các mối quan hệ và cảm hóa con người. Trong một xã hội mà cái tôi cá nhân thường được đẩy lên quá cao, sự vị tha trở thành chất keo gắn kết những rạn nứt. Thay vì lấy oán báo oán khiến thù hằn chồng chất, sự bao dung có thể khiến kẻ lầm lỗi thức tỉnh và quay đầu. Tha thứ cho người khác cũng là cho chính mình một cơ hội để tìm lại một người bạn, một người thân, hay đơn giản là giữ lại một môi trường sống nhân văn, hòa ái. Một cộng đồng biết tha thứ sẽ giảm bớt đi những xung đột khốc liệt và trở nên bền vững hơn. Tuy nhiên, tha thứ cần đi đôi với sự tỉnh táo và sắc sảo. Tha thứ để bao dung nhưng không có nghĩa là mù quáng để người khác tiếp tục lấn lướt hay gây hại. Tha thứ cho quá khứ là để bản thân bước tiếp, nhưng đồng thời ta cũng cần rút ra bài học để bảo vệ mình trong tương lai. Sự tha thứ chân chính phải xuất phát từ một tâm thế mạnh mẽ, hiểu rõ giá trị của bản thân và tôn trọng sự thật.

Tóm lại, tha thứ là một món quà vô giá mà chúng ta dành tặng cho chính mình và cho thế giới. Nó giúp chúng ta sống trọn vẹn với hiện tại thay vì bị cầm tù bởi quá khứ đau thương. Hãy tập thói quen buông bỏ những phiền muộn trước khi ngủ, để mỗi sớm mai thức dậy, tâm hồn ta lại tinh khôi như nắng mới, tràn đầy yêu thương và hy vọng. Đúng như ý nghĩa của lời nhắc nhở: tha thứ là để ngủ ngon, và quan trọng hơn, là để sống một cuộc đời ý nghĩa.

Tha thứ để bao dung nhưng không có nghĩa là mù quáng để người khác tiếp tục lấn lướt hay gây hại. Tha thứ cho quá khứ là để bản thân bước tiếp, nhưng đồng thời ta cũng cần rút ra bài học để bảo vệ mình trong tương lai. Sự tha thứ chân chính phải xuất phát từ một tâm thế mạnh mẽ, hiểu rõ giá trị của bản thân và tôn trọng sự thật.

Tóm lại, tha thứ là một món quà vô giá mà chúng ta dành tặng cho chính mình và cho thế giới. Nó giúp chúng ta sống trọn vẹn với hiện tại thay vì bị cầm tù bởi quá khứ đau thương. Hãy tập thói quen buông bỏ những phiền muộn trước khi ngủ, để mỗi sớm mai thức dậy, tâm hồn ta lại tinh khôi như nắng mới, tràn đầy yêu thương và hy vọng. Đúng như ý nghĩa của lời nhắc nhở: tha thứ là để ngủ ngon, và quan trọng hơn, là để sống một cuộc đời ý nghĩa.


Câu 1.

Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình một cách đặc sắc để khắc họa nỗi chia li đầy xót xa của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Cảnh vật hiện lên với “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, sắc đỏ của lá phong và không gian thu gợi cảm giác buồn thương, cách trở. Hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an” vừa tái hiện con đường xa mờ mịt bụi, vừa gợi bước chân người ra đi biền biệt. Cảnh “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” cho thấy khoảng cách không chỉ tính bằng không gian mà còn là sự xa cách trong tâm trạng. Đặc biệt, chi tiết “vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là hình ảnh giàu tính biểu tượng, vầng trăng vốn tròn đầy nay như bị chia cắt, phản chiếu nỗi đau chia lìa của đôi lứa. Cảnh và tình hòa quyện, cảnh sắc thiên nhiên không còn đơn thuần là phông nền mà trở thành tiếng nói của tâm trạng, qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du.

Câu 2.

“Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương.” Lời nhắn nhủ giản dị ấy gợi mở một bài học sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ không có nghĩa là quên đi mọi tổn thương hay dung túng cho cái sai, mà là cách con người buông bỏ oán giận để tâm hồn được thanh thản. Khi nuôi dưỡng sự hận thù, con người tự trói mình trong những cảm xúc tiêu cực, để quá khứ chi phối hiện tại. Ngược lại, biết tha thứ giúp ta giải phóng chính mình, tìm lại sự bình yên và cân bằng nội tâm.

Trong thực tế, có những mâu thuẫn gia đình, bạn bè nếu không được hóa giải sẽ âm ỉ kéo dài, làm rạn nứt tình cảm. Chỉ một lời xin lỗi chân thành và một sự bao dung đúng lúc có thể hàn gắn những vết thương tưởng chừng không thể chữa lành. Nhiều người từng trải qua biến cố lớn trong cuộc đời đã lựa chọn tha thứ thay vì nuôi hận thù, nhờ đó họ tìm lại được ý nghĩa sống và lan tỏa nguồn năng lượng tích cực đến cộng đồng. Tuy nhiên, tha thứ không đồng nghĩa với việc chấp nhận mọi hành vi sai trái. Tha thứ cần đi kèm với sự tỉnh táo, biết rút ra bài học và bảo vệ bản thân trước những tổn thương lặp lại.

Đối với người trẻ, học cách tha thứ là học cách trưởng thành. Tha thứ cho người khác để lòng nhẹ nhõm hơn, và cũng tha thứ cho chính mình vì những sai lầm đã qua để có động lực sửa đổi. Khi khép lại một ngày bằng sự bao dung, ta sẽ bước vào ngày mới với tâm thế an yên và tích cực hơn. Có thể nói, tha thứ không chỉ là món quà dành cho người khác mà còn là món quà quý giá nhất ta trao cho chính mình.

câu 1 :

Trong đoạn trích trên của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc để thể hiện nỗi buồn chia ly của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Trước hết, cảnh vật thiên nhiên được khắc họa với màu sắc và không gian gợi cảm giác xa cách: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Hình ảnh rừng phong đỏ trong mùa thu vừa gợi vẻ đẹp thiên nhiên vừa gợi nỗi buồn man mác của sự chia lìa. Tiếp đó, hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an, trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” gợi ra con đường xa xôi, bụi bay mờ mịt, khiến bóng người đi khuất dần trong nỗi nhớ của người ở lại. Không gian rộng lớn, khoảng cách ngày càng xa càng làm nổi bật tâm trạng cô đơn, lưu luyến. Đặc biệt, hai câu thơ cuối “Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa. Vầng trăng vốn tròn đầy nay như bị chia đôi, tượng trưng cho tình yêu phải xa cách của đôi lứa: một nửa ở lại cô đơn, một nửa theo bước người đi xa. Qua việc miêu tả cảnh vật thiên nhiên gắn với tâm trạng con người, Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc nỗi buồn, sự nhớ thương và lưu luyến trong phút chia tay. Bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế ấy góp phần làm nổi bật giá trị nghệ thuật đặc sắc của Truyện Kiều.

câu 2 :

Trong cuộc sống, mỗi con người đều có lúc bị tổn thương bởi lời nói hay hành động của người khác. Chính vì vậy, sự tha thứ trở thành một giá trị tinh thần quan trọng giúp con người vượt qua những đau buồn và sống thanh thản hơn. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống.


Tha thứ là sự rộng lượng, bao dung của con người khi bỏ qua lỗi lầm của người khác và không giữ trong lòng sự oán giận hay thù hằn. Tha thứ không có nghĩa là quên đi mọi chuyện hay chấp nhận cái sai, mà là cách để chúng ta giải phóng bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực. Khi con người biết tha thứ, tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhàng, bình yên hơn. Ngược lại, nếu cứ giữ mãi sự tức giận hay hận thù, chúng ta chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi và đau khổ.


Sự tha thứ mang lại nhiều ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc sống. Trước hết, tha thứ giúp con người chữa lành những tổn thương trong tâm hồn. Khi biết buông bỏ những điều không vui, chúng ta sẽ có thể sống tích cực và lạc quan hơn. Bên cạnh đó, tha thứ còn giúp duy trì và hàn gắn các mối quan hệ giữa con người với nhau. Trong gia đình, bạn bè hay xã hội, nếu mọi người biết bao dung và tha thứ, các mối quan hệ sẽ trở nên bền chặt và tốt đẹp hơn. Ngoài ra, sự tha thứ còn thể hiện nhân cách cao đẹp của con người, bởi chỉ những người có tấm lòng rộng lượng mới có thể bỏ qua lỗi lầm của người khác.


Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là dễ dàng bỏ qua mọi sai lầm mà không có sự suy nghĩ. Đôi khi chúng ta cần sự nghiêm khắc để giúp người khác nhận ra lỗi lầm và sửa đổi. Tha thứ đúng nghĩa là vừa bao dung vừa giúp người mắc lỗi hiểu được sai lầm của mình để trở nên tốt hơn.


Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người nên học cách tha thứ cho người khác cũng như cho chính bản thân mình. Là học sinh, chúng ta có thể bắt đầu từ những điều đơn giản như bỏ qua những hiểu lầm nhỏ với bạn bè, biết xin lỗi và chấp nhận lời xin lỗi. Khi mỗi người biết mở lòng và bao dung, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng và tràn đầy tình yêu thương.


Tóm lại, sự tha thứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Nó không chỉ giúp chữa lành những vết thương trong tâm hồn mà còn góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và một xã hội nhân văn hơn. Vì vậy, hãy học cách tha thứ để tâm hồn luôn bình yên và cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

6 tháng 3

câu1:Trong đoạn trích cảnh Thúy Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy để khắc họa một cuộc chia ly đầy ám ảnh. Cảnh vật không đơn thuần là thiên nhiên khách quan mà là sự soi chiếu của tâm trạng con người. Hình ảnh "rừng phong" nhuốm màu "quan san" gợi lên sắc đỏ úa tàn, lạnh lẽo, báo hiệu một cuộc đi xa đầy gian truân. Màu sắc ấy không chỉ là màu của mùa thu mà là màu của sự nhuốm lệ, chia lìa. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập và ước lệ được vận dụng tài tình qua hình ảnh "vầng trăng ai xẻ làm đôi". Vầng trăng vốn là biểu tượng của sự viên mãn, nay bị "xẻ" ra để diễn tả nỗi đau xé lòng và sự trống trải đến tận cùng của đôi ta: kẻ ở lại với "chiếc bóng năm canh", người đi xa cùng "dặm trường" thăm thẳm. Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, cảnh vật từ "ngàn dâu xanh" đến "bụi hồng" đều nhuốm màu tâm trạng, khiến cái tình ngấm vào cái cảnh, tạo nên một không gian nghệ thuật mênh mông, hiu quạnh, dự cảm về những trắc trở trong tương lai của nhân vật

câu 1 :

Trong đoạn trích trên của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc để thể hiện nỗi buồn chia ly của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Trước hết, cảnh vật thiên nhiên được khắc họa với màu sắc và không gian gợi cảm giác xa cách: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Hình ảnh rừng phong đỏ trong mùa thu vừa gợi vẻ đẹp thiên nhiên vừa gợi nỗi buồn man mác của sự chia lìa. Tiếp đó, hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an, trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” gợi ra con đường xa xôi, bụi bay mờ mịt, khiến bóng người đi khuất dần trong nỗi nhớ của người ở lại. Không gian rộng lớn, khoảng cách ngày càng xa càng làm nổi bật tâm trạng cô đơn, lưu luyến. Đặc biệt, hai câu thơ cuối “Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa. Vầng trăng vốn tròn đầy nay như bị chia đôi, tượng trưng cho tình yêu phải xa cách của đôi lứa: một nửa ở lại cô đơn, một nửa theo bước người đi xa. Qua việc miêu tả cảnh vật thiên nhiên gắn với tâm trạng con người, Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc nỗi buồn, sự nhớ thương và lưu luyến trong phút chia tay. Bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế ấy góp phần làm nổi bật giá trị nghệ thuật đặc sắc của Truyện Kiều.

câu 2 :

Trong cuộc sống, mỗi con người đều có lúc bị tổn thương bởi lời nói hay hành động của người khác. Chính vì vậy, sự tha thứ trở thành một giá trị tinh thần quan trọng giúp con người vượt qua những đau buồn và sống thanh thản hơn. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống.


Tha thứ là sự rộng lượng, bao dung của con người khi bỏ qua lỗi lầm của người khác và không giữ trong lòng sự oán giận hay thù hằn. Tha thứ không có nghĩa là quên đi mọi chuyện hay chấp nhận cái sai, mà là cách để chúng ta giải phóng bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực. Khi con người biết tha thứ, tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhàng, bình yên hơn. Ngược lại, nếu cứ giữ mãi sự tức giận hay hận thù, chúng ta chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi và đau khổ.


Sự tha thứ mang lại nhiều ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc sống. Trước hết, tha thứ giúp con người chữa lành những tổn thương trong tâm hồn. Khi biết buông bỏ những điều không vui, chúng ta sẽ có thể sống tích cực và lạc quan hơn. Bên cạnh đó, tha thứ còn giúp duy trì và hàn gắn các mối quan hệ giữa con người với nhau. Trong gia đình, bạn bè hay xã hội, nếu mọi người biết bao dung và tha thứ, các mối quan hệ sẽ trở nên bền chặt và tốt đẹp hơn. Ngoài ra, sự tha thứ còn thể hiện nhân cách cao đẹp của con người, bởi chỉ những người có tấm lòng rộng lượng mới có thể bỏ qua lỗi lầm của người khác.

Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là dễ dàng bỏ qua mọi sai lầm mà không có sự suy nghĩ. Đôi khi chúng ta cần sự nghiêm khắc để giúp người khác nhận ra lỗi lầm và sửa đổi. Tha thứ đúng nghĩa là vừa bao dung vừa giúp người mắc lỗi hiểu được sai lầm của mình để trở nên tốt hơn.

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người nên học cách tha thứ cho người khác cũng như cho chính bản thân mình. Là học sinh, chúng ta có thể bắt đầu từ những điều đơn giản như bỏ qua những hiểu lầm nhỏ với bạn bè, biết xin lỗi và chấp nhận lời xin lỗi. Khi mỗi người biết mở lòng và bao dung, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng và tràn đầy tình yêu thương.

Tóm lại, sự tha thứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Nó không chỉ giúp chữa lành những vết thương trong tâm hồn mà còn góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và một xã hội nhân văn hơn. Vì vậy, hãy học cách tha thứ để tâm hồn luôn bình yên và cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Câu 1 Trong đoạn trích của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình rất tinh tế để diễn tả nỗi buồn chia ly của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Cảnh vật thiên nhiên hiện lên với “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, gợi không gian mùa thu nhuốm màu đỏ buồn, tượng trưng cho sự chia lìa và cách trở. Hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an” gợi con đường xa xôi, mờ mịt, như báo hiệu cuộc chia tay đầy lưu luyến và nỗi cô đơn của người ở lại. Thiên nhiên dường như mang tâm trạng của con người. Khi “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh”, khoảng cách không gian cũng chính là khoảng cách của nỗi nhớ thương. Đặc biệt, hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Vầng trăng vốn tròn đầy nay bị chia đôi như chính tình cảnh của đôi lứa: một người cô đơn nơi phòng vắng, một người lên đường xa. Qua việc miêu tả cảnh vật để bộc lộ tâm trạng, Nguyễn Du đã làm nổi bật nỗi buồn chia ly và tình cảm sâu nặng của nhân vật, đồng thời thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của mình.

Câu 2

Trong cuộc sống, con người khó tránh khỏi những lúc bị tổn thương bởi lời nói hay hành động của người khác. Vì vậy, câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” trong cuốn Đạo Phật trong trái tim tôi gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ là thái độ bỏ qua lỗi lầm của người khác, không giữ mãi sự giận dữ, oán trách trong lòng. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận cái sai, mà là lựa chọn buông bỏ sự thù hận để tâm hồn được thanh thản. Trong cuộc sống, mỗi người đều có thể mắc sai lầm. Nếu ai cũng chỉ biết trách móc và ghi nhớ những tổn thương, con người sẽ sống trong sự căng thẳng và đau khổ. Vì vậy, tha thứ chính là cách giúp chúng ta giải thoát bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực. Sự tha thứ trước hết mang lại sự bình yên cho chính người biết tha thứ. Khi chúng ta giữ mãi sự oán giận, tâm hồn sẽ trở nên nặng nề, mệt mỏi. Ngược lại, khi biết buông bỏ và tha thứ, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản hơn. Bên cạnh đó, tha thứ còn giúp duy trì và hàn gắn các mối quan hệ trong cuộc sống. Trong gia đình, bạn bè hay xã hội, nếu mỗi người đều biết cảm thông và tha thứ cho nhau, những mâu thuẫn sẽ được giải quyết một cách nhẹ nhàng hơn. Nhờ đó, tình cảm giữa con người với con người cũng trở nên tốt đẹp và bền vững hơn. Không chỉ vậy, tha thứ còn thể hiện vẻ đẹp của nhân cách con người. Người biết tha thứ thường là người có tấm lòng rộng lượng, nhân ái và trưởng thành trong suy nghĩ. Họ không để những lỗi lầm của người khác điều khiển cảm xúc của mình. Thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng nhiều người nhờ sự bao dung mà có thể hóa giải thù hận và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là bỏ qua mọi sai lầm một cách mù quáng. Mỗi người vẫn cần biết phân biệt đúng sai và rút ra bài học để tránh những tổn thương tương tự trong tương lai. Là học sinh, chúng ta cũng cần học cách tha thứ trong cuộc sống hằng ngày. Khi xảy ra mâu thuẫn với bạn bè hay người thân, thay vì giữ mãi sự giận dỗi, chúng ta nên học cách lắng nghe, cảm thông và bỏ qua những lỗi lầm nhỏ. Điều đó không chỉ giúp các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn mà còn giúp mỗi người trưởng thành và sống tích cực hơn. Tóm lại, tha thứ là một đức tính đẹp và cần thiết trong cuộc sống. Biết tha thứ giúp con người giải tỏa những tổn thương trong lòng, nuôi dưỡng sự bình yên và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp. Vì vậy, mỗi người hãy học cách buông bỏ oán giận và mở lòng bao dung với người khác, để cuộc sống trở nên nhẹ nhàng và ý nghĩa hơn.

7 tháng 3

Câu 1

Trong đoạn trích của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc để thể hiện nỗi buồn chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Cảnh vật thiên nhiên được miêu tả trong thời điểm mùa thu với “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, gợi nên không gian nhuốm màu buồn bã, xa cách. Hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an” không chỉ miêu tả con đường xa xôi mà còn gợi sự cách trở trong tình cảm. Tác giả khéo léo dùng cảnh để gửi gắm tâm trạng con người: cảnh càng rộng lớn, heo hút thì nỗi cô đơn, nhớ thương càng sâu sắc. Hai câu thơ “Người về chiếc bóng năm canh / Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi” thể hiện rõ sự chia lìa và nỗi nhớ nhung của đôi lứa. Đặc biệt, hình ảnh vầng trăng ở cuối đoạn thơ mang ý nghĩa biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, nhưng nay lại “ai xẻ làm đôi”, gợi nỗi đau chia cắt. Qua đó, Nguyễn Du cho thấy tài năng trong việc hòa quyện giữa cảnh và tình, khiến cảnh vật không chỉ là phông nền mà còn là phương tiện bộc lộ cảm xúc nhân vật, làm nổi bật nỗi buồn và sự lưu luyến trong giây phút chia tay.

Câu 2

Sự tha thứ là một trong những giá trị đẹp đẽ của con người. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” gợi nhắc chúng ta về ý nghĩa quan trọng của lòng bao dung trong cuộc sống. Tha thứ không chỉ giúp con người giải tỏa nỗi đau mà còn mang lại sự bình yên cho tâm hồn.

Trước hết, tha thứ là hành động bỏ qua lỗi lầm của người khác khi họ làm tổn thương mình. Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo, ai cũng có lúc mắc sai lầm. Nếu con người luôn giữ mãi sự giận dữ hay oán hận, tâm hồn sẽ trở nên nặng nề và cuộc sống cũng mất đi niềm vui. Vì vậy, tha thứ chính là cách để mỗi người giải phóng bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực, giúp tâm hồn trở nên nhẹ nhõm và thanh thản hơn.

Bên cạnh đó, tha thứ còn giúp các mối quan hệ giữa con người với nhau trở nên tốt đẹp hơn. Khi biết cảm thông và bao dung, chúng ta sẽ dễ dàng thấu hiểu người khác, từ đó hàn gắn những rạn nứt trong tình bạn, tình thân hay tình yêu. Nhiều mối quan hệ có thể được cứu vãn chỉ nhờ một lời tha thứ chân thành. Ngược lại, nếu con người chỉ biết chấp nhặt, oán trách thì khoảng cách giữa người với người sẽ ngày càng lớn.

Không chỉ vậy, tha thứ còn thể hiện sự trưởng thành trong suy nghĩ và nhân cách của mỗi người. Người biết tha thứ là người có tấm lòng rộng lượng, biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông. Tha thứ không phải là yếu đuối hay chấp nhận cái sai, mà là lựa chọn buông bỏ hận thù để hướng tới những điều tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, tha thứ cũng cần đi kèm với sự nhận thức đúng đắn. Chúng ta không nên dung túng cho những hành vi sai trái lặp đi lặp lại. Tha thứ phải đi cùng với việc nhắc nhở, sửa sai để người mắc lỗi nhận ra và thay đổi. Như vậy, sự tha thứ mới thực sự có ý nghĩa tích cực đối với cả hai bên.

Trong cuộc sống, mỗi người đều có lúc bị tổn thương bởi lời nói hay hành động của người khác. Nhưng nếu mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng ta có thể buông bỏ những oán giận và học cách tha thứ, tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Lòng bao dung giúp con người sống tích cực, yêu thương nhiều hơn và tạo nên một xã hội nhân ái.

Tóm lại, tha thứ là một phẩm chất đẹp giúp con người tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp. Mỗi chúng ta hãy học cách tha thứ để cuộc sống trở nên ý nghĩa và hạnh phúc hơn.


7 tháng 3

câu 1:Đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã khắc họa bức tranh chia ly thấm đẫm cảm xúc bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Trước hết, cảnh vật thiên nhiên được miêu tả với những gam màu giàu sức gợi: “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, “dặm hồng bụi cuốn chinh an”. Màu đỏ của lá phong hòa quyện với sắc bụi đường xa không chỉ gợi lên không gian mùa thu hiu quạnh mà còn gợi cảm giác xa cách, cách trở. Cảnh vật dường như mang theo nỗi buồn ly biệt của con người. Hình ảnh “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” càng nhấn mạnh khoảng cách ngày càng xa giữa người đi và kẻ ở. Đặc biệt, chi tiết “vầng trăng ai xẻ làm đôi” là hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa: ánh trăng vốn trọn vẹn nay như bị chia cắt, giống như mối tình Kiều – Thúc Sinh bị hoàn cảnh chia lìa. Một nửa trăng soi gối chiếc của người ở lại, nửa kia dõi theo bước chân kẻ ra đi nơi dặm trường. Qua bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, tác giả đã khắc họa sâu sắc nỗi cô đơn, nhớ nhung và bi kịch chia ly của con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã.

câu 2:Tha thứ là một trong những phẩm chất cao đẹp của con người, thể hiện chiều sâu nhân văn và bản lĩnh tinh thần. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” gợi nhắc chúng ta về ý nghĩa to lớn của sự bao dung trong cuộc sống.Trước hết, tha thứ là hành động buông bỏ những oán giận, hận thù đối với những người đã gây ra tổn thương cho mình. Điều đó không có nghĩa là chấp nhận hay quên đi hoàn toàn lỗi lầm của người khác, mà là lựa chọn không để những cảm xúc tiêu cực chi phối tâm hồn. Khi con người biết tha thứ, tâm trí sẽ trở nên nhẹ nhõm, thanh thản hơn. Ngược lại, nếu mãi nuôi dưỡng sự tức giận và hằn học, ta vô tình tự giam cầm bản thân trong những suy nghĩ tiêu cực, khiến cuộc sống trở nên nặng nề và mệt mỏi.Không chỉ mang lại sự bình yên cho nội tâm, tha thứ còn góp phần nuôi dưỡng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo; con người đôi khi mắc sai lầm do thiếu suy nghĩ hoặc bị chi phối bởi hoàn cảnh. Khi ta mở lòng tha thứ, ta trao cho người khác cơ hội sửa sai và hoàn thiện bản thân. Chính sự bao dung ấy sẽ giúp hàn gắn những rạn nứt trong tình bạn, tình thân và cả các mối quan hệ xã hội. Nhờ vậy, xã hội trở nên nhân ái và hòa hợp hơn.Bên cạnh đó, tha thứ cũng thể hiện sự trưởng thành và bản lĩnh của mỗi cá nhân. Người có tâm hồn cao thượng không phải là người chưa từng bị tổn thương, mà là người biết vượt qua nỗi đau để tiếp tục sống tích cực. Tha thứ đòi hỏi lòng vị tha, sự thấu hiểu và khả năng nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc. Khi con người đủ bao dung để bỏ qua lỗi lầm của người khác, họ không chỉ giải thoát cho đối phương mà còn giải thoát chính mình khỏi gánh nặng của hận thù.Tuy nhiên, tha thứ không đồng nghĩa với việc dung túng cho cái sai. Con người cần phân biệt rõ giữa bao dung và sự dễ dãi. Tha thứ nên đi kèm với nhận thức đúng đắn về lỗi lầm, đồng thời giúp người mắc sai lầm nhận ra trách nhiệm của mình. Chỉ khi đó, sự tha thứ mới thực sự có giá trị và góp phần xây dựng những mối quan hệ lành mạnh.Trong cuộc sống hiện đại đầy áp lực và xung đột, việc thực hành tha thứ càng trở nên cần thiết. Mỗi tối trước khi đi ngủ, nếu ta biết buông bỏ những bực bội trong ngày, tâm hồn sẽ trở nên thanh thản và nhẹ nhàng hơn. Điều đó giúp ta bắt đầu ngày mới với tinh thần tích cực, cởi mở và lạc quan.Tóm lại, tha thứ là biểu hiện của lòng nhân ái và trí tuệ của con người. Khi biết buông bỏ oán giận và mở lòng bao dung, ta không chỉ làm cho cuộc sống của mình trở nên bình yên hơn mà còn góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong xã hội. Vì vậy, hãy học cách tha thứ để tâm hồn luôn thanh thản và cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Câu 1 Đoạn thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Trước hết, tác giả khắc họa khung cảnh chia ly đầy buồn bã: “Người lên ngựa, kẻ chia bào”, hình ảnh hai con người đứng trước phút giây xa cách gợi lên nỗi lưu luyến và đau xót. Cảnh thiên nhiên như hòa cùng tâm trạng con người: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Sắc đỏ của lá phong mùa thu gợi cảm giác buồn bã, hiu quạnh, đồng thời tượng trưng cho nỗi buồn chia ly. Hình ảnh “dặm hồng bụi cuốn chinh an” càng nhấn mạnh con đường xa xôi, cách trở mà người ra đi phải trải qua. Không chỉ vậy, cảnh vật còn được miêu tả qua ánh trăng chia đôi: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”. Hình ảnh trăng bị chia đôi chính là ẩn dụ cho tình cảnh đôi lứa phải xa nhau, mỗi người một nơi. Qua bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc nỗi buồn, sự lưu luyến và đau đớn của con người trong phút giây chia biệt.

Câu 2 Tha thứ là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ là việc con người biết bỏ qua những lỗi lầm, tổn thương mà người khác gây ra cho mình. Điều đó không có nghĩa là quên đi hoàn toàn mọi chuyện, mà là học cách buông bỏ sự tức giận và oán trách trong lòng. Khi con người biết tha thứ, tâm hồn sẽ trở nên nhẹ nhàng và thanh thản hơn. Trước hết, tha thứ giúp con người giải tỏa những cảm xúc tiêu cực. Nếu cứ giữ mãi sự giận dữ hay thù hận, chúng ta sẽ luôn cảm thấy mệt mỏi và đau khổ. Ngược lại, khi biết tha thứ, con người có thể tìm lại sự bình yên trong tâm hồn. Tha thứ cũng giúp các mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn. Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo, ai cũng có thể mắc sai lầm. Khi chúng ta biết bao dung và thấu hiểu, các mối quan hệ sẽ được hàn gắn và trở nên bền chặt hơn. Bên cạnh đó, tha thứ còn thể hiện sự trưởng thành trong suy nghĩ và nhân cách của mỗi người. Người biết tha thứ là người có tấm lòng rộng lượng, biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để cảm thông và chia sẻ. Chính điều đó góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, nơi con người sống với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là chấp nhận mọi sai trái. Mỗi người vẫn cần phân biệt đúng sai và rút ra bài học từ những tổn thương đã trải qua. Tha thứ nên đi kèm với sự tỉnh táo để tránh lặp lại những sai lầm cũ. Đối với học sinh, việc học cách tha thứ cũng rất quan trọng. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể xảy ra những hiểu lầm hay xung đột nhỏ với bạn bè. Nếu biết bỏ qua và thấu hiểu nhau, tình bạn sẽ trở nên gắn bó hơn. Đồng thời, tha thứ cũng giúp mỗi người học được cách sống tích cực và trưởng thành hơn. Tóm lại, tha thứ là một giá trị tốt đẹp và cần thiết trong cuộc sống. Khi biết tha thứ, con người không chỉ mang lại sự bình yên cho chính mình mà còn góp phần lan tỏa tình yêu thương và sự nhân ái trong xã hội. Vì vậy, mỗi người hãy học cách mở lòng, bao dung và tha thứ để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

Trong cuốn "Đạo Phật trong trái tim tôi" có viết: "Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương." Lời khuyên ấy không chỉ là một bài học về lòng nhân ái mà còn là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra cánh cửa hạnh phúc và sự thanh thản trong tâm hồn mỗi con người giữa cuộc đời đầy biến động. Tha thứ trước hết là sự tự nguyện buông bỏ những oán hận, thù ghét và tổn thương mà người khác gây ra cho mình. Đó không phải là sự nhu nhược hay dung túng cho cái ác, mà là lựa chọn sống bao dung để giải phóng bản thân khỏi những xiềng xích của quá khứ tiêu cực. Ý nghĩa của sự tha thứ đối với cuộc sống là vô cùng to lớn. Về phía cá nhân, khi biết tha thứ, chúng ta trút bỏ được gánh nặng tâm lý, giúp tâm trí nhẹ nhàng và bình an hơn. Sự oán giận giống như một liều thuốc độc mà ta uống nhưng lại mong người khác chết; chỉ có tha thứ mới giúp ta chữa lành những vết sẹo trong tim. Về phía xã hội, lòng vị tha giúp hàn gắn những rạn nứt trong các mối quan hệ, xóa bỏ hận thù và gắn kết con người lại gần nhau hơn. Một cộng đồng biết tha thứ sẽ là một cộng đồng nhân văn, nơi cái thiện và sự thấu hiểu được lên ngôi thay vì những tranh chấp, tị hiềm. Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là quên đi mọi lỗi lầm một cách mù quáng. Chúng ta tha thứ để bao dung, nhưng cũng cần sự tỉnh táo để bảo vệ bản thân và lẽ phải. Bên cạnh đó, điều quan trọng nhất đôi khi không phải là tha thứ cho người khác, mà là tha thứ cho chính mình – chấp nhận những khiếm khuyết và sai lầm của bản thân để tiếp tục vững bước. Tóm lại, tha thứ là món quà quý giá nhất mà ta có thể dành tặng cho người khác và cho chính mình. Hãy tập thói quen buông bỏ những muộn phiền trước khi khép mắt lại mỗi đêm, để mỗi sớm mai thức dậy, trái tim ta lại tràn đầy ánh sáng của niềm tin và hy vọng

Câu 1:

Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du, bút pháp tả cảnh ngụ tình đã trở thành một điểm đặc biệt làm cho tác phẩm của ông giàu cảm xúc hơn, mà đoạn trích chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh là một minh chứng tiêu biểu. Không cần trực tiếp dùng từ ngữ biểu cảm, Nguyễn Du vẫn khiến người đọc thấu cảm được nỗi buồn xé lòng thông qua cảnh vật thiên nhiên. Mở đầu là hình ảnh "rừng phong" nhuốm "màu quan san". Màu sắc của mùa thu và không gian biên ải xa xôi như nhuộm vào đó sự lạnh lẽo, cô liêu của buổi phân ly. Không gian tiếp tục được mở rộng với "dặm hồng bụi cuốn" và "ngàn dâu xanh", gợi lên một sự chia cách nghìn trùng, khiến bóng dáng người đi dần mờ mịt, nhỏ bé giữa đất trời bao la. Đỉnh cao của nghệ thuật ngụ tình nằm ở hình ảnh "vầng trăng xẻ làm đôi". Vầng trăng vốn là biểu tượng của sự viên mãn, nay bị chia cắt để soi chiếu hai cảnh đời: một người "gối chiếc" cô đơn, một người "dặm trường" vất vả. Qua đó, cảnh vật không còn là những vật vô tri mà đã trở thành "tâm cảnh", chứa đựng sự lẻ loi, hụt hẫng và nỗi đau chia cắt của con người. Đúng như Nguyễn Du từng viết: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", thiên nhiên trong đoạn trích đã nói thay tiếng lòng đầy xót xa của nhân vật.

Câu 2:

Trong quá trình trưởng thành, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc bị tổn thưởng bởi lời nói hay hành động của người khác. Trước những nổi đau này ta có hai lựa chọn là: giữ lấy sự tổn thương ấy và tìm mọi cách cho người đã làm chúng ta tổn thưởng phải nếm trải cảm giác mà ta phải chịu hoặc là học cách buông bỏ để tha thứ cho người đó. Trang Đạo Phật trong trái tim tôi đã nói rằng: "Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương". Câu nói ấy cho ta thấy con đường hướng tới hạnh phúc thông qua ý nghĩa của sự tha thứ. Tha thứ không phải là một hành động yếu đuối, cũng không phải là việc bao che cho những sai trái. Thực chất, tha thứ là quyết định buông bỏ sự oán giận và khao khát trả thù đối với những người đã gây hại cho mình. Đó là một trạng thái tâm lý cao đẹp, thể hiện bản lĩnh và lòng nhân ái của con người. Ý nghĩa lớn lao nhất của sự tha thứ chính là dành cho chính bản thân mình. Khi chúng ta nuôi dưỡng lòng hận thù, tâm hồn ta giống như một căn phòng tối tăm, ngột ngạt chứa đầy những cảm xúc tiêu cực. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến sức khỏe tinh thần mà còn khiến ta mất đi khả năng tận hưởng vẻ đẹp của hiện tại. Tha thứ giống như một liều thuốc chữa lành, giúp giải phóng ta khỏi chiếc lồng sắt của quá khứ. Khi biết buông bỏ, ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhõm, thanh thản và bình yên lạ thường. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng tha thứ là một quá trình, không phải là một đích đến tức thời. Nó đòi hỏi thời gian, sự can đảm và lòng trắc ẩn. Tha thứ cũng không đồng nghĩa với việc quên đi bài học xương máu, mà là ghi nhớ nó với một tâm thế không còn đau đớn. Có lẽ đối với người gây việc làm thương, sự tha thứ có thể giống như một vị cứu tinh. Một lời vị tha đúng lúc có thể thức tỉnh lương tri của một con người, giúp họ có cơ hội sửa chữa sai lầm và làm lại những việc sai lầm lúc trước. Trong các mối quan hệ xã hội, lòng bao dung chính là sợi dây kết nối mạnh mẽ nhất, giúp hàn gắn những rạn nứt và xây dựng niềm tin bền vững. Một xã hội biết tha thứ sẽ là một xã hội ít xung đột, giàu tình thương và sự thấu hiểu. Qua đó ta có thể thấy rằng sự tha thứ là món quà quý giá nhất mà con người có thể trao tặng cho nhau và cho chính mình. Mỗi tối, khi khép lại một ngày dài, hãy chọn cách mỉm cười và tha thứ. Khi trái tim không còn chỗ cho hận thù, đó cũng là lúc hạnh phúc thực sự bắt đầu.










Câu 1 a. Xác định được yêu cầu về hình thức; dung lượng của đoạn văn: – Khoảng 200 chữ. – Có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,... b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: Giải thích bút pháp tả cảnh ngụ tình: bên cạnh việc miêu tả trực tiếp hành động, lời nói, cảm xúc,... của nhân vật, tác giả còn sử dụng lối miêu tả gián tiếp, thông qua việc tái hiện bức tranh thiên nhiên, cuộc sống,... để bộc lộ tâm trạng của con người. Phân tích nghệ thuật sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích: +) Hình ảnh người đi, kẻ ở trong khung cảnh cuộc chia tay (bốn câu đầu): Chú ý biện pháp nghệ thuật đối, sự di chuyển điểm nhìn vào ánh mắt của người ở lại, từ ngữ miêu tả hành động (lên ngựa, chia bào, nhuốm), hình ảnh (rừng phong, màu quan san, dặm hồng, mây ngàn dâu xanh), thời gian (mùa thu), không gian (rừng phong, con đường...). → Từ đó cảm nhận được sự lưu luyến, nỗi buồn của chia li xa cách như nhuốm vào thiên nhiên, nhuốm vào lòng người tạo thành một màu sắc đặc biệt – màu của chia phôi, xa cách, nhớ thương. +) Nỗi cô đơn của người về, kẻ đi và nỗi đau của vầng trăng hạnh phúc bị ai xé làm đôi (bốn câu kết): Chú ý phép đối (người về, kẻ đi; chiếc bóng năm canh; muôn dặm một mình xa xôi; nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường); hình ảnh về thời gian (chiếc bóng năm canh); hình ảnh về không gian (chiếc bóng năm canh, muôn dặm một hình xa xôi, gối chiếc, dặm trường) – không gian của người ở lại – chốn khuê phòng, không gian của người ra đi – chốn dặm trường; phép đảo ngữ (muôn dặm một mình xa xôi) nhấn mạnh vào ấn tượng không gian dặm trường đằng đẵng, nghìn trùng xa cách. → Giọng điệu bi thương, trách móc, ai oán cho hạnh phúc bị chia cắt. Qua đó, cảm nhận bức tranh thiên nhiên, con người sau cuộc chia tay với nỗi cô đơn, u sầu; liên hệ với phần sau của “Truyện Kiều” để nhận ra những dự cảm không lành về tương lai,... – Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: → Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: → Ý nghĩa của sự tha thứ đối với cuộc sống. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. Triển khai vấn đề nghị luận: – Giải thích vấn đề nghị luận: Tha thứ: là tha cho, bỏ qua, không trách cứ hay trừng phạt vì lỗi lầm người khác đã gây ra cho bản thân. Tha thứ không có nghĩa là quên hết tất cả, cũng không có nghĩa là giả vờ rằng đã không có những hành động lỗi lầm và tổn thương. Tha thứ thực sự là khả năng buông bỏ sự oán giận và thực thi những ranh giới lành mạnh với người đã gây ra lỗi lầm và tổn thương. – Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: Sự tha thứ giúp con người ta từ bỏ những cảm xúc tiêu cực (tức giận, đau khổ, căm ghét,...) để nhường chỗ cho những hạnh phúc, tâm hồn bình an thì cuộc sống sẽ tĩnh tại, thanh thản. Sự tha thứ giúp con người dành nhiều thời gian hơn để tập trung vào chính bản thân mình, để hoàn thiện mình hơn. Tha thứ sẽ giúp ta suy nghĩ cởi mở, rút ra những bài học cho chính mình từ người khác, biết sống yêu thương, tử tế và mạnh mẽ hơn. Sự tha thứ sẽ giúp giảm căng thẳng, duy trì trạng thái sức khỏe tốt đẹp, lành mạnh. ... – Mở rộng, trao đổi quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện,... Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: – Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

câu 1:Đoạn trích trong Truyện Kiều đã thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Trước hết, cảnh thiên nhiên được khắc họa với những hình ảnh giàu màu sắc như “rừng phong”, “màu quan san”, “bụi cuốn chinh an”. Màu đỏ của rừng phong hòa với sắc thu tạo nên không gian buồn và hiu quạnh, gợi lên nỗi chia ly đầy lưu luyến. Bên cạnh đó, hình ảnh “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” cho thấy khoảng cách xa xôi, như kéo dài nỗi nhớ và sự cô đơn của người ở lại. Cảnh vật dường như mang tâm trạng của con người, càng làm nổi bật nỗi buồn và sự trống vắng trong lòng Thúy Kiều khi tiễn Thúc Sinh ra đi. Đặc biệt, hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi” là một ẩn dụ giàu ý nghĩa: vầng trăng vốn tròn đầy nhưng nay bị chia cắt như chính tình cảm của đôi lứa phải xa cách. Câu thơ “nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” càng nhấn mạnh sự chia lìa: một nửa trăng ở lại với người cô đơn, nửa còn lại theo bước người ra đi nơi xa. Qua bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, Nguyễn Du đã làm cho cảnh vật thấm đẫm tâm trạng, qua đó thể hiện sâu sắc nỗi buồn, sự lưu luyến và cô đơn của con người trong phút giây biệt ly.

câu 2: Trong cuộc sống, mỗi con người đều có lúc bị tổn thương bởi lời nói hay hành động của người khác. Vì vậy, câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” đã gửi gắm một thông điệp ý nghĩa về sức mạnh của sự tha thứ trong cuộc sống. Tha thứ không chỉ là một hành động đẹp mà còn là cách giúp con người sống thanh thản và hạnh phúc hơn.

Trước hết, tha thứ là sự bao dung, rộng lượng, là việc bỏ qua lỗi lầm của người khác dù họ đã khiến ta buồn hay đau lòng. Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo, ai cũng có lúc mắc sai lầm. Nếu chúng ta luôn giữ trong lòng sự tức giận hay oán trách, những cảm xúc tiêu cực đó sẽ khiến tâm hồn trở nên nặng nề. Ngược lại, khi biết tha thứ, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và bình yên hơn. Tha thứ không phải là yếu đuối, mà là biểu hiện của sự mạnh mẽ và trưởng thành trong suy nghĩ.

Bên cạnh đó, sự tha thứ giúp các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn. Trong gia đình, bạn bè hay xã hội, mâu thuẫn và hiểu lầm là điều khó tránh khỏi. Nếu ai cũng cố chấp và không chịu bỏ qua lỗi lầm của nhau, các mối quan hệ sẽ dễ dàng rạn nứt. Ngược lại, khi một người biết mở lòng tha thứ, họ tạo ra cơ hội để hàn gắn tình cảm và xây dựng lại niềm tin. Chính sự bao dung ấy giúp con người gần gũi và thấu hiểu nhau hơn.

Không chỉ vậy, tha thứ còn giúp mỗi người hoàn thiện bản thân. Khi biết tha thứ, chúng ta học được cách sống vị tha, biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông và thấu hiểu. Điều này giúp con người trở nên nhân hậu, trưởng thành và có tâm hồn đẹp hơn. Một xã hội mà con người biết tha thứ cho nhau sẽ trở nên nhân văn, ấm áp và tràn đầy tình yêu thương.

Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là dung túng cho cái sai. Chúng ta cần biết phân biệt giữa việc bao dung và việc bỏ qua những hành vi sai trái nghiêm trọng. Tha thứ nên đi cùng với sự nhận lỗi và sửa sai của người mắc lỗi. Khi đó, sự tha thứ mới thực sự có ý nghĩa và góp phần giúp con người tiến bộ.

Tóm lại, sự tha thứ là một giá trị đạo đức cao đẹp và cần thiết trong cuộc sống. Tha thứ giúp con người giải tỏa những cảm xúc tiêu cực, hàn gắn các mối quan hệ và xây dựng một xã hội nhân ái hơn. Vì vậy, mỗi người hãy học cách bao dung, mở lòng và tha thứ cho người khác, để tâm hồn luôn thanh thản và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.


16 tháng 3


Câu 1



Đoạn thơ trong Truyện Kiều đã thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Qua những hình ảnh thiên nhiên như “rừng phong”, “màu quan san”, “dặm hồng bụi cuốn”, cảnh vật hiện lên nhuốm màu buồn bã, hiu quạnh. Mùa thu với sắc đỏ của lá phong gợi cảm giác chia li, xa cách. Không gian “quan san”, “dặm hồng” mở ra khung cảnh rộng lớn, xa xôi, gợi con đường dài cách trở mà nhân vật phải đi qua. Cảnh vật không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn phản chiếu tâm trạng con người. Hình ảnh “người lên ngựa, kẻ chia bào” gợi khoảnh khắc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều. Nỗi buồn chia li càng trở nên sâu sắc qua câu hỏi “Vầng trăng ai xẻ làm đôi?”, gợi sự chia cắt đau xót của đôi lứa. Ánh trăng vốn tượng trưng cho sự tròn đầy, nay lại “xẻ làm đôi”, thể hiện nỗi đau và sự dang dở trong tình cảm. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, Nguyễn Du đã khắc họa thành công tâm trạng buồn thương, lưu luyến của con người trong phút giây chia biệt, qua đó làm nổi bật giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.





Câu 2



Sự tha thứ là một phẩm chất đẹp của con người, giúp con người sống thanh thản và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp. Câu nói: “Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tha thứ cho tất cả những người và những chuyện đã làm con tổn thương” nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa quan trọng của sự tha thứ trong cuộc sống.


Tha thứ là sự bỏ qua những lỗi lầm, sai sót của người khác, không nuôi giữ sự oán giận hay thù hận trong lòng. Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo, mỗi người đều có thể mắc sai lầm. Nếu chúng ta cứ mãi giữ trong lòng sự tức giận hay hận thù, tâm hồn sẽ trở nên nặng nề và mệt mỏi. Ngược lại, khi biết tha thứ, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm, thanh thản hơn. Tha thứ không chỉ giúp người mắc lỗi có cơ hội sửa sai mà còn giúp chính bản thân chúng ta giải thoát khỏi những cảm xúc tiêu cực.


Sự tha thứ còn góp phần xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Trong gia đình, bạn bè hay xã hội, những mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi. Nếu mỗi người đều biết lắng nghe, thấu hiểu và sẵn sàng tha thứ, các mối quan hệ sẽ trở nên bền chặt hơn. Nhiều khi chỉ một lời tha thứ chân thành cũng có thể hàn gắn những rạn nứt trong tình cảm và giúp con người xích lại gần nhau hơn. Chính vì vậy, tha thứ không phải là sự yếu đuối mà là biểu hiện của lòng bao dung và sự trưởng thành trong tâm hồn.


Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là bỏ qua mọi lỗi lầm một cách mù quáng. Con người cần biết phân biệt đúng sai và rút ra bài học từ những tổn thương đã trải qua. Sự tha thứ cần đi kèm với sự tỉnh táo, để chúng ta không lặp lại những sai lầm cũ hoặc để người khác lợi dụng lòng tốt của mình. Tha thứ đúng lúc, đúng cách sẽ giúp con người trưởng thành và sống tích cực hơn.


Đối với mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, việc học cách tha thứ là điều rất cần thiết. Khi biết tha thứ, chúng ta sẽ học được cách sống bao dung, thấu hiểu và yêu thương nhiều hơn. Điều đó không chỉ giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, hạnh phúc hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, tốt đẹp.


Như vậy, sự tha thứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Mỗi người hãy học cách buông bỏ những tổn thương, mở lòng với người khác và sống bằng sự bao dung. Khi biết tha thứ, chúng ta không chỉ mang lại cơ hội cho người khác sửa sai mà còn đem lại sự bình yên cho chính tâm hồn mình.


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.            Nghe lời khuyên nhủ thong dong,    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.           Rạng ra gửi đến xuân đường,    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.           Tiễn đưa một chén quan hà,    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.           Sông Tần một dải xanh xanh,    Loi thoi bờ liễu mấy cành...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

           Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
           Rạng ra gửi đến xuân đường,
    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
           Tiễn đưa một chén quan hà,
    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
           Sông Tần một dải xanh xanh,
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
           Cầm tay dài ngắn thở than,
    Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
           Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
           Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, 
    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
          Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
    Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
          Dù khi sóng gió bất bình,
    Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
          Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
    Lại mang những tiếng tày trời đến sau.
          Thương nhau xin nhớ lời nhau,
    Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
          Chén đưa nhớ bữa hôm nay, 
    Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
          Dặm hồng bụi cuốn chinh an, 
    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
          Người về chiếc bóng năm canh,
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
          Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

                                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

        Người về chiếc bóng năm canh,
   Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là gì?

Câu 5. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do. 

8
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.


Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.


Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ

Hai câu:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

  • Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
  • Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản

Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.


Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do

Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.

  • Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.

Câu 3.

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”

-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.

Câu 4.

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.

Câu 5.

-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.



Câu 1. (2,0 điểm)Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.            CHÂN QUÊ     Hôm qua em đi tỉnh về,     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!     Nào đâu cái yếm lụa sồi?     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?     Nào...
Đọc tiếp

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.

            CHÂN QUÊ

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.

     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

     Nào đâu cái yếm lụa sồi?

     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

     Nào đâu cái áo tứ thân?

     Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


     Nói ra sợ mất lòng em,

     Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

     Như hôm em đi lễ chùa,

     Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

     Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

     Thầy u mình với chúng mình chân quê.

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                      (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau đây: Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại. (Barack Obama)

10
19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:

Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.

Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.

Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.

Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.

19 tháng 9 2025

tặng mik mấy xu đi

1 xu cx đc nha

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

15
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

29
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     THẠCH SANH            Hai hồn khi ấy vào kho,   Cùng nhau lấy hết cả đồ kim ngân.            Giở đi giở lại tần ngần,   Cho quân canh biết dời chân ra ngoài.            Gốc cây, trông thấy nằm hoài,   Bảo nhau bắt lấy nó thời chẳng sai.            Thạch Sanh mới hỏi một hai,   Thưa...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    THẠCH SANH

            Hai hồn khi ấy vào kho,
   Cùng nhau lấy hết cả đồ kim ngân.
            Giở đi giở lại tần ngần,
   Cho quân canh biết dời chân ra ngoài.
            Gốc cây, trông thấy nằm hoài,
   Bảo nhau bắt lấy nó thời chẳng sai.
            Thạch Sanh mới hỏi một hai,
   Thưa rằng: "Các chú bắt ai vậy mà?"
            Bảo rằng: "Sao dám vào Toà,
   Bạc vàng trộm lấy vậy mà trốn đây?"
            Sanh rằng: "Việc ấy lạ thay!
   Thế mà các chú bắt rày làm chi?
            Bảo tôi, tôi sẽ theo đi,
   Phòng như trộm cắp vậy thì có tang".
            Quân rằng: "Này bạc, này vàng,
   Mày còn biến trá nói năng chi rày?"
            Sanh rằng: "Như vậy oan thay,
   Vốn tôi vẫn ở xưa nay thực thà,
            Việc này thôi hẳn oan ta".
   Chịu gông khi ấy về toà Viện vương.
            Bằng nay của cải bạc vàng,
   Quân vào thưa hết mọi đường được hay:
            [...] Thông nghe biết tỏ chân tình,
   Chắc rằng hẳn chú Thạch Sanh đó rày.
            [...] Dạy đem giam ngục Lại lê,
   Canh cho nghiêm mật, chớ hề hở han.
            Vâng lời Thông dạy liền giam,
   Đêm ngày tra khảo, nỗi chàng mà thương! 
            [...] Thông rằng: "Bay cứ canh giờ,
   Để ta sớ tấu vậy mà giết đi".
            Vâng lời Thông nói một khi,
   Về nhà mới bảo vậy thì nghiêm canh.
            Lý Thông ngồi nghĩ một mình,
   Nếu mà tâu sợ sự mình tỏ ra.
            Chẳng bằng khâm mệnh quốc gia,
   Chờ ba ngày nữa, đem ra xử tù.
            Sanh từ đến ở ngục u,
   Trong lòng cũng chẳng hận thù cùng ai.
            Nhân khi vắng vẻ thảnh thơi,
   Chàng bèn mới hỏi rằng ai lạ lùng?
            Quân rằng: "Quốc tế quận công,
   Chính danh tên gọi Lý Thông thực người".
            Sanh nghe quân nói đầu đuôi,
   Biết rằng Thông thực là người bất nhân.
            Biết mà lòng chẳng oán hờn,
   Mặc ai vô nghĩa bất nhân cũng đành.
            Biết mà lòng chẳng phàn nàn,
   Lấy đàn mới gẩy nhặt khoan tính tình.
            Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,
   Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.
            Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
   Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
            Đàn kêu: Ai chém xà vương,
   Đem nàng công chúa triều đường về đây?
            Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày
    Cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân?
            Đàn kêu: Sao ở bất nhân,
   Biết ăn quả lại quên ân người giồng?
            Đàn kêu năn nỉ trong lòng,
   Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
            [...] Đàn kêu thấu đến cung phi,
   Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.

(Trích Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 1989 − 1993)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên kể về sự việc nào?

Câu 3. Tóm tắt văn bản trên một cách ngắn gọn và cho biết văn bản ấy thuộc mô hình cốt truyện nào?

Câu 4. Xác định và phân tích tác dụng của một câu hỏi tu từ trong văn bản. 

Câu 5. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố hoang đường kì ảo trong văn bản. 

1
14 tháng 2

huy

17 tháng 9 2025

e

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):

Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:

“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”

Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (600 chữ):

Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.

Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.

Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.

Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Đoạn văn khoảng 200 chữ:

Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.


Câu 2. (4,0 điểm)

Bài văn khoảng 600 chữ:

Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.

Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.

Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.

Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.

Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.

21 tháng 12 2025

Zjkizox