Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.
“Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.
.Bài thơ nói về cảm xúc thương yêu của người con đối với mẹ. Và sự hi sinh khó nhọc mà người mẹ hi sinh. Người mẹ hi sinh cho con tất cả, chịu đựng cả cái rét mùa đông lạnh thấu xương cùng những cơn mưa phùn. Câu thơ đầu nói về sự xót xa đau lòng của người con về sự khó nhọc của mẹ. Người con tự hỏi mẹ có lạnh ko trong sự giá lạnh của mùa đông. " Chân.... tay cấy mạ non" cho thấy rằng người mẹ vẫn phải đi cấy trong thời tiết lạnh giá vì yêu con muốn hi sinh vì con. Hình ảnh người mẹ run run trong cái lạnh làm ai ai cũng phải cảm thương, qua đó khắc sâu trong con người ta 1 hình ảnh người mẹ cần mẫn, thương con. " mạ non .... mấy lần" biện pháp so sánh những đon mạ còn ít hơn nhiều lần so với tình mẹ cho con. " mưa phùn.... tứ thân" cho thấy lưng mẹ còng dần xuống vì vất vả, ướt cả vạt áo. Câu thơ cuối nói lên tất cả tình yêu thương thầm kín , thương mẹ à lời cảm ơn dành cho mẹ trong những thời gian khó nhọc đeer chăm sóc và lo lắng yêu thương con (Từ đó bày tỏ tình yêu của mk với mẹ)
Mk viết hơi ngắn mong bạn thông cảm cố gắng viết nửa trang nhá!
Có một nhà thơ đã từng nói"Tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào..". Và ngày hôm nay, đề tài tình mẹ lại được Tố Hữu nhấn mạnh trong đoạn thơ trên qua bài thơ "Bầm ơi!". Là mỗi người con, trong tâm trí ta luôn hiện hữu người con gái dịu dàng,nhẹ nhàng mà đối với chúng ta, người con gái ấy là đẹp nhất, đẹp về bề ngoài và cả tâm hồn, phẩm chất-đó là mẹ. Mẹ hy sinh thầm lặng một đời, dầm mưa dãi năng,"bán mặt cho đất bán lưng cho trời" để dành cho con tất cả những gì tốt đpẹ nhất. Dù ta đi đâu về đầu, mẹ luôn là điểm tựa, là cánh cổng sẵn mở tất cả mọi lúc, nơi mà khi trở về ta được ôm ấp vào lòng, cảm nhận được tình thương bao la ấm áp. Và tôi muốn nói rằng, tôi rất yêu thương mẹ. Còn các bạn thì sao, hãy biết ơn và kính trọng mẹ nhé! Qua đây ta thấy, nhà thơ Tố Hữu phải chăng là một người rất yêu thương mẹ. Viết đến đây tôi lại nhớ lời bài hát quen thuộc mà tôi thường nghe:"Riêng Mặt Trời chỉ có 1 mà thôi, và mẹ em chỉ có 1 trên đời.."
Từ ghép: mạ non; tứ thân;cây cối;hoa lan ;hoa giẻ;mảnh dẻ ;móng rồng; góc vườn ;đánh lộn ;hút mật ;hiền lành
Từ láy:heo heo;um tùm;bụ bẫm;lao xao ; lặng lẽ;chèo bẻo; hốt hoảng; ngấp ngoái; bon bon
Trạng ngữ:Mưa phùn; Giời chớm hè;Gió nồm vừa thổi;Chỉ một chốc sau
em xem và viết vào phiếu em nhé
- Từ láy : heo heo, lâm thâm
- Từ ghép : chiều nay, nhớ thầm, mưa phùn,mạ non
Tìm các từ ghép và từ láy có trong đoạn văn sau
Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm
Bầm ơi có rét không bầm
Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non.
- Từ ghép : nhớ thầm, mưa phùn, ruộng cấy, mạ non
- Từ láy : Heo heo, lâm thâm
Đọc đoạn văn sau:
Một hôm, qua một vùng cỏ xước xanh dài, tôi chợt nghe tiếng khóc tỉ tê. Đi vài bước nữa, tôi gặp chị Nhà Trò ngồi gục đầu bên tảng đá cuội.
Chị Nhà Trò đã bé nhỏ lại gầy yếu quá, người bự những phấn, như mới lột. Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn. Hình như cánh yếu quá, chưa quen mở, mà cho dù có khỏe cũng chẳng bay được xa. Tôi đến gần, chị Nhà Trò vẫn khóc. Nức nở mãi, chị mới kể:
– Năm trước, khi gặp trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của bọn nhện. Sau đấy, không may mẹ em mất đi, còn lại thui thủi có mình em. Mà em ốm yếu, kiếm bữa cũng chẳng đủ. Bao năm nghèo túng vẫn hoàn nghèo túng. Mấy bận bọn nhện đã đánh em. Hôm nay bọn chúng chăng tơ ngang đường đe bắt em, vặt chân, vặt cánh ăn thịt em.
Tôi xòe cả hai càng ra, bảo Nhà Trò:
– Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy khỏe ăn hiếp kẻ yếu.
Rồi tôi dắt Nhà Trò đi.
(Trích Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (0.5 điểm). Đoạn trích trên kể lại sự việc gì?
Câu 2 (1.0 điểm). Tìm những chi tiết trong đoạn văn trên cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt? Hình ảnh chị nhà trò có nét tương đồng với nhân vật nào em từng biết trong truyện?
Câu 3 (1.5 điểm). Nhà Trò bị bọn nhện ức hiếp, đe dọa như thế nào? Em có đồng tình với hành động của bọn nhện không? Hãy viết đoạn 5 – 7 câu lý giải cho quan điểm của mình.
Câu 4 (1.0 điểm). Những lời nói và cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn? Dế Mèn trong đoạn văn này đã có sự thay đổi như thế nào so với Dế Mèn trong đoạn văn em được học?
Câu 5 (1.0 điểm). Biện pháp tu từ chủ đạo trong đoạn văn trên là gì? Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.
PHẦN II. LÀM VĂN (5.0 điểm)
Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
"Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người từng người một
Sợ cháu mình giật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng."
(Trích: Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)
Bài thơ "Bầm ơi!" của Tố Hữu gợi trong em những cảm xúc ấm áp và xúc động về tình mạu tử thiêng liêng. Nhân vật trữ tình là người con đi kháng chiến, dù ở xa vẫn luôn nhớ về người mẹ nơi quê nhà. Lời thơ hỏi thăm giản dị nhưng chan chứa yêu thương: "Ai về thăm mẹ quê ta... Bầm ơi! có rét không bầm?" làm em cảm nhận được nỗi nhớ nhung và âu lo của người con dành cho mẹ. Những hình ảnh chân thật như bầm cáy lúa, bầm hái chè, bầm cày ruộng cho thấy sự lam lũ, vất vả của người mẹ nông dân. Qua đó, bài thơ ca ngợi tình cảm mẺu tử và gợi cho em thêm yêu thương, trân trọng những hy sinh thầm lặng của mẹ.
Câu 1 Bài thơ “Bầm ơi” của Tố Hữu đã thể hiện sâu sắc tình cảm của người chiến sĩ dành cho mẹ trong thời kì kháng chiến. Trong hoàn cảnh xa nhà, người con luôn nhớ đến bầm – người mẹ tảo tần, lam lũ nơi quê nhà. Những hình ảnh như mưa rét, ruộng đồng, áo vá… gợi lên sự vất vả của người mẹ và làm nổi bật tình thương con vô bờ bến. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy nỗi nhớ thương và sự biết ơn của người con đối với mẹ. Qua đó, tác giả ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và cao đẹp. “Bầm ơi” không chỉ là lời tâm sự của một người con mà còn là tiếng lòng chung của nhiều người chiến sĩ xa nhà trong những năm tháng chiến tranh. Bài thơ khiến người đọc thêm yêu quý và trân trọng tình cảm gia đình.
Câu 2 Lễ hội đình Đồng Ẻn là một lễ hội truyền thống của địa phương, được tổ chức hằng năm để tưởng nhớ các vị thần và những người có công với làng. Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, khi thời tiết mát mẻ và người dân đã chuẩn bị xong cho một năm lao động mới. Trong ngày hội, người dân trong làng và du khách tập trung đông đủ tại đình để dâng hương, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống bình an.
Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức như rước lễ, dâng hương và đọc văn tế. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động vui tươi như hát múa, trò chơi dân gian và giao lưu văn nghệ. Không khí lễ hội rất náo nhiệt và đầy màu sắc. Lễ hội đình Đồng Ẻn không chỉ thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với tổ tiên mà còn góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương.
Bài làm
Mỗi vùng quê Việt Nam đều có những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Trong đó, lễ hội Đền Đặng Thế Công ở thôn Tân, xã Kép, tỉnh Bắc Ninh quê em là một lễ hội dân gian đặc sắc.Lễ hội được tổ chức vào ngày 13 và 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ công lao của Đặng Thế Công, đồng thời gìn giữ những nét đẹp văn hoá của quê hương.
Đặng Thế Công là người có công với quê hương và đất nước. Nhân dân địa phương lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của ông. Từ lâu, lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm: bày tỏ lòng biết ơn, giáo dục truyền thống cho thế hệ sau, tạo dịp để người dân sum họp đầu xuân…
Vài ngày trước lễ hội, người dân trong thôn đã bắt đầu dọn dẹp khuân viên đền thờ, trang trí cờ hội, băng rôn, chuẩn bị lễ vật,…
Lúc ấy, nơi đây như biến thành một nơi khác. Cờ ngũ sắc rực rỡ treo dọc các con đường. Tiếng nói cười rộn ràng khắp thôn xóm. Ai ai cũng háo hức chờ ngày hội.
Sáng ngày 13 tháng Giêng, lễ hội chính thức bắt đầu. Người dân tập trung đông đủ tại đền thờ. Có rất nhiều các nghi thức tiêu biểu như: Lễ dâng hương tưởng nhớ Đặng Thế Công. Các bậc cao niên trong làng thực hiện các nghi lễ trang nghiêm. Mọi người thành kính cầu mong: quốc thái dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên,… Không khí linh thiêng bao trùm cả không gian lễ hội.
Sau phần lễ trang nghiêm là phần hội sôi nổi. Các hoạt động thường diễn ra là các trò chơi dân gian: kéo co, chọi gà, cờ người, bóng chuyền, đá bóng,… Buổi tối là các tiêt mục giao lưu văn nghệ: Hát quan họ Bắc Ninh, múa biểu diễn dân gian…
Lễ hội Đền thờ Đặng Thế Công có nhiều ý nghĩa: tưởng nhớ người có công với quê hương, giữ gìn phong tục truyền thống, gắn kết tình làng nghĩa xóm, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về lịch sử quê hương.
Lễ hội Đền thờ Đặng Thế Công là một nét đẹp văn hoá truyền thống của quê hương Bắc Ninh. Không chỉ là dịp vui xuân, lễ hội còn nhắc mọi người biết trân trọng lịch sử và giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông. Với mỗi người dân nơi đây, lễ hội luôn là kỉ niệm đẹ mỗi dịp đầu năm.
150 chữ
Xác định yêu cầu của văn bản
Xác định yêu cầu và hình thức
a, Xác định
c2 em ko bt viết
Câu 1: +Hình ảnh người mẹ là tưởng tượng cho người phụ nữ Việt Nam :chịu thương, chịu khó, hi sinh vì con và đất nước.
+Hình ảnh người mẹ cấy lúa giữa trời mưa, chân nội bùn gợi nổi xót xa, thương cảm.
+Tiếng gọi tha thiết thể hiện sự nhớ nhung, lo lắng của người con xa nhà .
+Người con tưởng tượng và lo lắng về sự làm lũ ,vất vả ,cơ cực của người mẹ ở quê nhà.
+Số sánh vẽ nhận thấy mẹ còn giận khổ hơn khi con đi chiến tránh. Điều này cho thấy người con rất biết ơn mẹ của mình,trân trọng sâu sắc đối với sự vất vả, hy sinh của mẹ.
+Xúc động và thương cảm trước tấm lòng tấm lòng của người con luôn hướng về mẹ giữa những ngày xa cách, đồng thời chân trọng công lao và đức hi sinh của mẹ
+ Ngôn ngữ giản dị sử dụng các từ ngữ địa phương tạo cảm giác gần gũi , thân thương
+Nhịp thơ uyển chuyển chuyển ,âm điệu trìu mến mến ,thấm đẫm tính yêu thương.
Câu 2: Bài làm
Hội Lim là một hội lớn ở tỉnh Bắc Ninh. Hàng năm, cứ như vậy hội Lim lại được mở vào ngày mùng 10 tháng giêng. Mọi người đi xem hội rất đông, có tất cả các lứa tuổi: già, trẻ và đặc biệt là có khách nước ngoài . Mọi người ăn mặc rất đẹp, nét mặc ai cũng vui tươi Hội bắt đầu, mọi người tản ra từng nhóm để chơi những trò họ yêu thích. Hội Lim có rất nhiều trò vui như: đấu vật, đấu cờ, kéo co,.....Trên bến sông dòng người không ngớt để về xem hát quân họ .Trên những chiếc thuyền được trang trí lộng lẫy lẫy các liền anh, liền chị đang say sưa trong những làn điệu quân họ .Em rất yêu thích Hội Lim và đặc biệt là trò chơi của hội .
Câu 1
Bài làm
Bài thơ "Bầm ơi " của nhà thơ Tố Hữu nói về sự thương nhớ của ng chiến sĩ ở nơi tiền tuyến gửi đến ng mẹ già ở nhà, Bài thơ muốn nói cho chúng ta về sự hy sinh cao cả của ng mẹ. Em thích câu thơ " Mưa phùn ướt áo tứ thân" vì câu thơ này nói lên sụ vất vả của người mẹ vất vả cày cấy giữa trời mưa rét. Khi đọc xong bài thơ, em thấy tình mẫu tử thật thiêng liên vận tình yêu quê hương, đất nước.
Câu 2
Bài làm
Em được sinh ra và lớn lên tại tỉnh Bắc Ninh, ở Bắc Ninh có rất nhiều lễ hội truyền thống như: hội Lim, hội đền Bà Chúa Kho, hội đền Giếng,... Em sẽ kể về hội đền Giếng ở làng Diềm
Hội đền Giếng thường được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 hàng năm, hội đền Giếng được gắn với sự tích mẹ Âu Cơ. Khi hội được diễn ra, ko chỉ có những ng dân trong làng mà có cả ng địa phương khác đến chơi hội và những ng nước ngoài đến thăm quan. Hội đền Giếng có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ sẽ có lễ dâng hương và rước kiệu. Còn phần hội sẽ có các trò chơi dân gian như: kéo co, vật,chơi chuyền, đập chum, ô ăn quan,... còn có một vài trò khác như: cờ người, cờ tướng,... ngoài ra còn có các quán ăn và quán đồ chơi, Có những liền anh, liền chị hát quan họ trên thuyền rồng. Trong nhà hát lớn có các cô, các bác thi hát quan họ và phong cảnh thiên nhiên rất đẹp, có những cây cỏ thụ cao chót vót, ba người ôm ko xuể.
Hội đền Giếng là một lễ hội lớn và được tổ chúc kéo dài từ ba đến bốn ngày. Em mong rằng hội đền Giếng sẽ được nhiều người biết đến nhiều hơn nữa.
Câu1
Bài thơ "Bầm ơi" của nhà thơ Tố Hữu để lại trong em nhiều xúc động sâu sắc. Qua những vần thơ giản dị mà chan chứa tình cảm, em cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi nhớ thương da diết của người con dành cho mẹ. Hình ảnh người mẹ tã tần vì con dù xa hay gần, dù cao hay thấp vẫn hỏi han rằng " Bầm ơi có rét không Bầm" hay câu thơ "Bầm ra ruộng cấy bầm run" qua những câu thơ nhỏ nhoi hay ngắn ngủi nhưng vẫn mang cho độc giả những cảm xúc lớn lao.
Dù ở nơi chiến trường xa xôi, người con vẫn luôn hướng về mẹ, lo lắng cho mẹ từng bữa ăn, giấc ngủ. Những câu thơ như lời tâm sự nhẹ nhàng mà tha thiết khiến em cảm thấy mỗi khi đọc lại dòng thơ đó, em vẫn luôn cảm thấy xúc động. Em hiểu rằng, dù đi đâu hay làm gì, mẹ vẫn luôn là người quan trọng nhất trong trái tim mỗi người con.
Bài thơ còn giúp em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của mẹ. Mẹ không quản vất vả, chỉ mong con được bình yên và trưởng thành. Đọc "Bầm ơi", em càng yêu thương mẹ hơn và tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để không phụ lòng mẹ. Bài thơ đã dạy em một bài học ý nghĩa về lòng biết ơn và tình cảm gia đình thiêng liêng.
câu 2
Trong kho tàn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất và có ý nghĩa sâu sắc nhất và ngày Tết Nguyên Đán không chỉ là văn hoá của riêng một tỉnh mà còn là văn hoá, cũng là một lễ hội truyền thống của tất cả các địa phương và cũng là lễ hội truyền thống của địa phương em. Tết Âm lịch không chỉ đánh dấu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo lịch âm mà còn là dịp để mọi người sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và gửi gắm những ước mong tốt đẹp cho tương lai. Dù xã hội ngày càng phát triển, Tết cổ truyền vẫn giữ nguyên giá trị thiêng liêng trong đời sống tinh thần của người Việt.
Tết Nguyên Đán thường diễn ra vào khoảng cuối tháng Một hoặc đầu tháng Hai dương lịch, tùy theo chu kỳ của mặt trăng. Theo quan niệm dân gian, đây là thời điểm đất trời giao hòa, vạn vật như được khoác lên mình tấm áo mới. Cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mai vàng rực rỡ ở miền Nam, hoa đào hồng thắm ở miền Bắc. Không khí Tết bắt đầu rộn ràng từ những ngày cuối tháng Chạp khi mọi gia đình tất bật chuẩn bị đón năm mới.
Trước Tết khoảng một đến hai tuần, các gia đình thường dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa sạch sẽ. Người Việt tin rằng nhà cửa gọn gàng, tươm tất sẽ mang lại may mắn cho năm mới. Bàn thờ tổ tiên được lau dọn cẩn thận để chuẩn bị cho lễ cúng giao thừa. Ngoài ra, mọi người còn đi chợ Tết để mua sắm quần áo mới, thực phẩm và các vật dụng trang trí như câu đối đỏ, đèn lồng, bao lì xì.
Một phong tục đặc trưng không thể thiếu trong ngày Tết là gói bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, thường phổ biến ở miền Bắc; bánh tét hình trụ dài phổ biến ở miền Trung và miền Nam. Việc cả gia đình quây quần bên nồi bánh suốt đêm không chỉ là hoạt động chuẩn bị món ăn truyền thống mà còn là dịp để các thành viên trò chuyện, chia sẻ và gắn kết tình cảm.
Thời khắc thiêng liêng nhất của Tết là đêm giao thừa. Vào lúc chuyển giao năm cũ sang năm mới, mọi người thắp hương cúng trời đất và tổ tiên để cầu mong bình an, hạnh phúc. Sau đó, gia đình thường chúc Tết nhau bằng những lời chúc tốt đẹp. Sáng mùng Một, con cháu mặc quần áo mới, kính cẩn chúc thọ ông bà, cha mẹ và nhận lì xì những phong bao đỏ tượng trưng cho may mắn.
Trong những ngày đầu năm, người Việt còn duy trì nhiều phong tục ý nghĩa như xông đất, đi chùa cầu an, hái lộc đầu xuân, thăm hỏi họ hàng và bạn bè. Các lễ hội đầu xuân cũng được tổ chức ở nhiều nơi với các trò chơi dân gian như kéo co, đấu vật, múa lân, hát quan họ… tạo nên không khí vui tươi, náo nhiệt.
Tết Nguyên Đán không chỉ là dịp nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả mà còn là thời gian để mỗi người nhìn lại những việc đã làm và đặt ra mục tiêu cho năm mới. Đặc biệt, Tết nhắc nhở con cháu về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, luôn biết ơn tổ tiên và trân trọng tình cảm gia đình.
Đối với em, Tết Âm lịch là khoảng thời gian ấm áp và hạnh phúc nhất trong năm. Đó là lúc cả gia đình sum họp, cùng nhau chuẩn bị mâm cơm cúng, cùng nghe tiếng pháo hoa rộn ràng và trao nhau những lời chúc chân thành. Dù mai này có đi đâu xa, hình ảnh ngày Tết quê hương với hương vị bánh chưng, sắc hoa ngày xuân và nụ cười rạng rỡ của mọi người sẽ mãi in đậm trong trái tim em.
Có thể nói, Tết Nguyên Đán là nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ hội ấy không chỉ mang ý nghĩa về thời gian mà còn chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và gắn kết cộng đồng qua bao thế hệ.
Bầm ơi, một tác phẩm xuất sắc chiếm vị trí quan trọng trong tập Việt Bắc (1954) của danh nhân văn học Tố Hữu. Trong những năm 1947, 1948, hành trình của đoàn văn nghệ sĩ dừng chân tại Gia Điền. Tại đây, những tên tuổi như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Kim Lân, và Nguyễn Huy Tưởng đã chọn ngôi nhà của bà cụ Nguyễn Thị Gái, thôn Gốc Gạo xã Gia Điền, làm điểm dừng chân. Bài thơ 'Bầm ơi' chính là biểu tượng của tình cảm chân thành mà nhà thơ dành cho người mẹ tận tâm này. Bà Gái, một người mẹ hiền lành và ân cần, đã cởi lòng đón tiếp các nhà văn, nhà thơ, chuyển giường lên cho họ, và tự rủ xuống bếp ngủ khi khách đến. Nội dung của bài thơ Bầm ơi là câu chuyện về Nguyễn Thị Gái, một người mẹ vô cùng yêu thương con. Trong bức tranh miêu tả về Gia Điền - nơi đóng chân của các nhà thơ, Tố Hữu đã khắc họa sâu sắc tình cảm của mình đối với người mẹ. Câu hỏi khẩn cấp vang lên từ đầu bài thơ: “Ai về thăm mẹ quê ta/ Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…” Dù thời gian đã qua lâu, khi con phải rời xa quê hương, tình thương mãi không phai nhạt. Bài thơ không chỉ là tác phẩm của Tố Hữu, mà còn là câu chuyện của chúng ta, những đứa con giữ mãi trong lòng niềm nhớ mẹ, chỉ biết thầm thương trong trái tim. Bầm ơi có rét không bầm! Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! Âm thanh của lời gọi 'Bầm ơi' không chỉ buồn thương mà còn ấm áp, là tình cảm của đứa con gửi đến mẹ. Hình ảnh mẹ run rẩy, lội dưới bùn trong thời tiết khắc nghiệt làm cho đứa con không kìm được nước mắt. Mẹ thường muốn đem lại điều tốt nhất cho con. Điều này được thể hiện qua cảnh mẹ lội qua lũ lụt, không chấp nhận rời bỏ. Tố Hữu thấu hiểu tâm trạng của những đứa con có mẹ, dặn dò nhẹ nhàng: 'Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe.' Dù con trở thành người lớn ra sao, khi quay về nhà, con vẫn là đứa trẻ trong trái tim mẹ. “Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…” Những người chiến sĩ ra đi không biết khi nào trở về, hứa rằng khi giặc tan, đất nước yên bình, con sẽ về. Tố Hữu gửi những lời động viên đến mẹ để an ủi. Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Người mẹ ở nhà giữ nỗi nhớ thương con, liệu sau chuyến đi này, con có trở về nữa hay không? Nỗi nhớ của mẹ như một chiếc lưới, ôm trọn con. Đoạn thơ cuối cùng khắc họa tâm trạng của mẹ, đau lòng, thảm thiết đến không thể tả. Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi mỗi bước gian lao Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Bao bà cụ từ tâm như mẹ Yêu quý con như đẻ con ra. Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân. Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con. Mỗi bước chân của con là một thách thức, một gian nan, nhưng cũng là niềm tự hào của mẹ. Đau khổ, lo âu, nhưng trong tâm hồn mẹ vẫn tự hào vì con, là người con hùng cường và trưởng thành. Bài thơ 'Bầm ơi' là hình ảnh thiêng liêng về tình yêu thương của mẹ dành cho con, như một nguồn động viên và hy sinh vô điều kiện. Đó là những tình cảm không lẫn vào đâu được, là nét đẹp truyền thống vô song của tình mẫu tử Việt Nam. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 3 “Bầm ơi” – một trong những sáng tác nổi tiếng của Tố Hữu, được rút từ tác phẩm Việt Bắc, ra đời khi tác giả cùng đoàn văn nghệ sĩ thăm xã Gia Điền, Phú Thọ. Tại đây, cụ Gái - người dân địa phương - đã nồng hậu tiếp đón đoàn và nhường giường cho họ ở trên nhà, còn bản thân cụ, chuyển xuống bếp ngủ. Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, nhà thơ đã sáng tác tác phẩm để bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt dành cho cụ. Ngay từ đầu, tác giả đặt câu hỏi sâu sắc: “Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…” Dù đã rời xa quê hương, tình cảm của tác giả dành cho người mẹ thân thương vẫn như in sâu trong tâm hồn. Bài thơ không chỉ là của Tố Hữu, mà còn là câu chuyện của chúng ta, những đứa con giữ mãi niềm nhớ mẹ, chỉ thầm thương trong trái tim. “Bầm ơi có rét không bầm? Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!” Hình ảnh mẹ lội qua lụt, chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non trong thời tiết khắc nghiệt khiến đứa con không kìm được nước mắt. Mẹ không ngần ngại khó khăn, vất vả, vẫn làm việc để ủng hộ chiến sĩ. Mẹ trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp và lòng hy sinh cao cả của phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt là trong thời chiến, khi đất nước còn gian khổ, những người mẹ đã trở thành hậu phương vững chắc, là nguồn động viên to lớn cho chiến sĩ: “Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.” Con ở tiền tuyến xa xôi, nhưng không bằng muôn nỗi lo âu của bầm. Tác giả gửi lời thân thương để an ủi: “Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe.” Đó là lời động viên, dặn dò nhẹ nhàng của nhà thơ đến với những người mẹ già mong chờ con trở về. Con ra đi mang theo cả tình yêu quê hương và tình yêu bầm. Dù con biết rằng con đối diện với những thử thách khó khăn, bầm hãy yên tâm, vì sẽ luôn có đồng đội đi cùng con trên mọi nẻo đường! “Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…” Con không dám hứa trở về, nhưng con hứa sẽ chiến đấu hết mình, đánh đuổi giặc, mang lại tự do cho quê hương. Bầm nhớ con, bầm đừng buồn, vì “giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm”. Những người trải qua mất mát, đều hiểu cảm giác được đoàn tụ, cảm giác ấm áp khi quay về với gia đình. Bầm ở nhà, với tình cảm mãnh liệt, liệu sau chuyến đi, con có trở về không? Nỗi nhớ thương, tình yêu thương của người mẹ vẫn mãi là bản tình ca không lẫn vào đâu được. Ngôn từ gần gũi, nhịp thơ nhẹ nhàng, đầm ấm, tác phẩm như một bản nhạc ru dịu dàng đi sâu vào tâm hồn. Tố Hữu thành công khắc họa về những khó khăn, vất vả mà phụ nữ Việt Nam phải trải qua trong thời chiến. Họ kiên cường, là hậu phương vững chắc, là nguồn động viên lớn lao cho các chiến sĩ trên chiến trường. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 4 Chủ đề người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các tác giả, và Tố Hữu cũng không ngoại lệ khi viết về đề tài này trong bài thơ 'Bầm ơi'. Hình ảnh bầm trong thơ đã truyền tải một cách sâu sắc vẻ đẹp tinh thần và phẩm hạnh cao quý của người mẹ trong thời kỳ chiến tranh. Bầm trong bài thơ không chỉ là hình mẫu của sự tảo tần mà còn là biểu tượng của sự hy sinh và kiên cường. Dù trời rét cắt da, mưa phùn nặng hạt, bầm vẫn phải lội bùn, đánh đổi sức khỏe và công sức để chăm sóc gia đình và đóng góp cho cuộc chiến, vì tương lai của đất nước. Hình ảnh bầm không chỉ là một cá nhân cụ thể mà còn là biểu tượng của đức tính hy sinh và lòng yêu thương của phụ nữ Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh. Bầm không chỉ là người mẹ mẫu mực mà còn là một chiến sĩ vĩ đại, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ quê hương và con cái. Dù con phải ra chiến trường xa xôi, trải qua muôn vàn thử thách, bầm vẫn luôn hiện diện bên con và các đồng đội của con. Qua bài thơ 'Bầm ơi', Tố Hữu đã ca ngợi và tôn vinh vẻ đẹp cũng như sự hy sinh của các bà mẹ Việt Nam, để họ luôn được ghi nhớ và trân trọng trong trái tim mỗi người. Cảm nhận về bài thơ Bầm ơi - mẫu 5 Trong số các tác phẩm văn học về tình mẹ, bài thơ 'Bầm ơi' là một tác phẩm đặc biệt mà tôi rất yêu thích. Không chỉ nằm trong tập thơ Việt Bắc, tác phẩm này còn là kết quả của chuyến thăm làng Gia Điền ở Phú Thọ, nơi Tố Hữu và các nghệ sĩ được cụ Gái, một cư dân địa phương, đón tiếp nồng nhiệt và mở rộng lòng hiếu khách. Chính tình cảm và sự hy sinh của cụ Gái đã để lại ấn tượng sâu sắc và truyền cảm hứng để Tố Hữu viết nên 'Bầm ơi'. 'Bầm ơi' mở đầu với những vần thơ nhẹ nhàng và đầy cảm xúc: 'Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…' Nhịp thơ lục bát của bài thơ vừa chân thành vừa gần gũi, tựa như một bản hò dịu dàng hơn là một bài thơ. Tác giả đã khắc họa hình ảnh Bầm - biểu tượng của những người mẹ anh hùng Việt Nam, những người đã hy sinh và chịu đựng gian khổ trong thời kỳ khó khăn nhất. 'Bầm ơi' không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về tình mẹ, mà còn là một bức tranh về thời kỳ chiến tranh đầy đau thương và hy sinh. Nó kể về những bà mẹ già yếu, vẫn phải lao động vất vả, và những đứa con trẻ tuổi chiến đấu trên mặt trận, mang theo sức sống và tình yêu non nớt. Những hình ảnh này thực sự cảm động và đầy ý nghĩa!.
Hải Dương quê hương em không chỉ nổi tiếng với đặc sản bánh đậu xanh mà còn là vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc. Lễ hội được tổ chức tại khu di tích quốc gia đặc biệt thuộc thành phố Chí Linh, thường diễn ra hai mùa trong năm: hội Xuân vào tháng Giêng để tưởng nhớ thi hào Nguyễn Trãi và hội Thu vào tháng Tám để tri ân Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Đây là dịp để người dân khắp nơi hội tụ về đây chiêm bái, tìm về cội nguồn lịch sử hào hùng của dân tộc. Lễ hội diễn ra vô cùng long trọng với sự kết hợp hài hòa giữa phần lễ và phần hội. Về phần lễ, những nghi thức cổ truyền như lễ rước nước, lễ tế trên núi Ngũ Nhạc hay lễ ban ấn tại đền Kiếp Bạc được thực hiện rất trang nghiêm, tái hiện lại khí thế Đông A lẫy lừng của quân dân nhà Trần. Bên cạnh đó, phần hội lại mang đến không khí tưng bừng, náo nhiệt với nhiều trò chơi dân gian thú vị như đấu vật, chọi gà, múa rối nước và đặc biệt là hội thi gói bánh chưng, giã bánh giầy. Du khách đến đây không chỉ được vãn cảnh núi non hùng vĩ, hít thở không khí trong lành của rừng thông Côn Sơn mà còn được hòa mình vào nét văn hóa tâm linh độc đáo, cảm nhận sự giao thoa giữa đất trời và lòng người. Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc chính là một nét đẹp văn hóa tinh thần không thể thiếu, là niềm tự hào của mỗi người con đất Hải Dương. Qua lễ hội, em càng thêm trân trọng những giá trị lịch sử và công ơn của các vị tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập tốt và góp phần giữ gìn, quảng bá hình ảnh lễ hội quê hương mình đến với bạn bè khắp mọi miền để nét đẹp truyền thống này mãi mãi trường tồn với thời gian.
0 1 không biết có