(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

<...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

ÔNG LÝ TIẾN

Tương truyền vào đời Hùng Vương thứ sáu, dưới triều Hùng Huy Vương, nhà nước Văn Lang đang trong thời kì bị giặc phương Bắc đe dọa xâm lược.

Thuở ấy, có hai ông bà già, tuổi cao mà chưa có con, ngày ngày chồng đi đánh cá ven sông Tô Lịch, còn vợ thì thành tâm đi cầu tự ở chùa Khán gần đó. Mãi về sau, bà mới có mang và sinh ra một cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Lý Tiến. Lớn lên, Lý Tiến nổi tiếng là tháo vát, khoẻ khoắn và có tướng gan lì. Bọn trai làng Long Đỗ tại trại Tiến Ngư, cạnh rừng tre, bên bờ sông Tô vừa mền vừa phục. Ông thường tụ tập bọn cùng tuổi tập đánh trận giả trong rừng tre và cùng nhau ra sông bắt cá.

Đến giữa đời Hùng Vương thứ sáu, Lý Tiến được Vua Hùng cử làm tướng và giao cho việc rèn luyện một đội quân ven bờ sông Tô. Khi nghe tin có giặc Ân phương Bắc sang xâm lược nước Văn Lang, vua Hùng một mặt cử người lên trấn ải, mặt khác cho người đi loan tin cầu người tài giỏi ra giúp dân giúp nước. Lý Tiến được cử mang quân ra gần biên ải cự giặc. Khi quân của ông đến đất Vũ Ninh (nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh) thì gặp giặc Ân. Hai bên đánh nhau quyết liệt. Lý Tiến chém giết được rất nhiều giặc. Trong một trận, chẳng may ông bị một tên giặc bắn trúng ngực. Ông gắng gượng trở về đến bờ sông Tô rồi mới mất. Sau khi chết, ông đã báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền. Do đó mà tìm được Thánh Gióng đánh giặc sau này. Về sau, người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng trên nền đất cũ ấy một ngôi đền để thờ ông. Đó là đình Giáp Đông, thôn Đông Thuận xưa, nay còn lại hậu cung ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

(Theo Nguyễn Văn Tùng (Tổng Chủ biên), Đọc hiểu mở rộng văn bản Ngữ văn 6,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.11 − 12)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Xác định các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử trong văn bản.

Câu 3. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của các chi tiết kì ảo, hoang đường được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Nhân vật Lý Tiến có những phẩm chất nào đáng quý? Phẩm chất đó được thể hiện thông qua những chi tiết nào?

Câu 5. Chi tiết cuối truyện: "Về sau, người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng trên nền đất cũ ấy một ngôi đền để thờ ông." đã cho thấy thái độ và tình cảm gì của nhân dân đối với anh hùng Lý Tiến? Từ đó, em hãy cho biết thế hệ trẻ ngày nay cần có thái độ và hành động gì đối với những người đã có công với đất nước? (Trình bày khoảng 5 − 7 dòng)

26
6 tháng 2

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự (kể lại các sự việc theo trình tự thời gian và có liên quan đến các nhân vật).

Câu 2. Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử và vai trò:

- Các chi tiết sự thật lịch sử: * Thời đại: Đời Hùng Vương thứ sáu (triều Hùng Huy Vương).

+ Sự kiện: Giặc Ân phương Bắc xâm lược nước Văn Lang.

+ Địa danh: Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), làng Long Đỗ, đình Giáp Đông (phố Hàng Cá, Hà Nội).

- Vai trò: Tạo nên cái khung lịch sử vững chắc, giúp câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin cậy hơn. Nó gắn kết truyền thuyết với nguồn gốc dân tộc và những địa danh cụ thể trên bản đồ đất nước.

Câu 3. Chi tiết kì ảo và tác dụng:

- Chi tiết kì ảo: Việc bà cụ đi cầu tự rồi sinh ra Lý Tiến; đặc biệt là chi tiết sau khi chết, ông báo mộng cho vua Hùng bảo sứ giả rao mõ cầu hiền (dẫn đến sự tích Thánh Gióng).

- Tác dụng: * Làm tăng tính linh thiêng, tôn vinh vị thế anh hùng của nhân vật Lý Tiến.

+ Tạo sự kết nối logic giữa các truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương (Lý Tiến là người "mở đường" cho Thánh Gióng).

+ Thể hiện quan niệm của nhân dân: người anh hùng tuy mất đi về thể xác nhưng linh hồn vẫn luôn canh cánh nỗi lo cứu nước.

Câu 4. Phẩm chất của nhân vật Lý Tiến:

- Tài giỏi, tháo vát và có uy tín: Thể hiện qua chi tiết từ nhỏ đã nổi tiếng tháo vát, khỏe khoắn, khiến trai làng Long Đỗ "vừa mến vừa phục", được vua Hùng tin tưởng giao quân.

- Lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm: Thể hiện qua việc ông trực tiếp cầm quân ra biên ải cự giặc, "chém giết được rất nhiều giặc", chiến đấu quyết liệt đến hơi thở cuối cùng.

- Sự trung thành, tận hiến: Ngay cả khi đã hy sinh, ông vẫn báo mộng giúp vua tìm người tài (Thánh Gióng) để tiếp tục bảo vệ đất nước.

Câu 5. Thái độ của nhân dân và trách nhiệm của thế hệ trẻ:

- Thái độ, tình cảm của nhân dân: Chi tiết lập đền thờ cho thấy sự biết ơn sâu sắc, lòng tôn kính và ngưỡng mộ đối với người anh hùng. Nhân dân muốn lưu giữ hương hỏa, để tên tuổi của ông sống mãi cùng vùng đất mà ông đã bảo vệ.

- Trách nhiệm của thế hệ trẻ: * Thái độ: Phải biết trân trọng, ghi nhớ công ơn của các thế hệ cha anh đi trước; có lòng tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn các giá trị văn hóa, lịch sử.

- Hành động: Nỗ lực học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước; tham gia các hoạt động "Uống nước nhớ nguồn" (như chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, bảo tồn các di tích lịch sử) và sẵn sàng cống hiến khi tổ quốc cần.

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự.
→ Văn bản kể lại cuộc đời, sự nghiệp và chiến công của nhân vật Lý Tiến theo trình tự thời gian.


Câu 2

Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử trong văn bản gồm:

  • Thời đại Hùng Vương thứ sáu, nhà nước Văn Lang.
  • Cuộc xâm lược của giặc Ân phương Bắc.
  • Địa danh có thật: sông Tô Lịch, Vũ Ninh (Quế Võ – Bắc Ninh), Tiên Du, Hà Nội.
  • Việc dựng đền thờ anh hùng sau khi mất.

Vai trò của các chi tiết lịch sử:

  • Tạo cơ sở lịch sử cho câu chuyện, giúp truyện có tính chân thực.
  • Làm nền để tôn vinh hình tượng anh hùng Lý Tiến, gắn truyền thuyết với lịch sử dân tộc.

Câu 3

Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

  • Hai ông bà già cầu tự rồi sinh được con trai.
  • Sau khi chết, Lý Tiến báo mộng cho vua Hùng, giúp tìm được Thánh Gióng.

Tác dụng:

  • Tăng sức hấp dẫn, màu sắc huyền thoại cho câu chuyện.
  • Thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với người anh hùng.
  • Khẳng định Lý Tiến là nhân vật có công lao lớn, mang tầm vóc phi thường.

Câu 4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý Tiến:

  • Khỏe khoắn, gan dạ, dũng cảm: từ nhỏ đã tháo vát, có tướng gan lì; khi ra trận chém giết được nhiều giặc.
  • Yêu nước, có tinh thần trách nhiệm: được vua Hùng giao trọng trách, sẵn sàng ra biên ải chống giặc.
  • Hi sinh vì đất nước: bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng trở về, chấp nhận hi sinh vì non sông.
  • Trung nghĩa, vì dân vì nước: sau khi mất vẫn báo mộng giúp vua tìm người tài cứu nước.

→ Các phẩm chất ấy được thể hiện qua hành động, việc làm cụ thể, không phải lời kể suông.


Câu 5

Chi tiết: “Người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng … một ngôi đền để thờ ông” cho thấy:

  • Lòng biết ơn sâu sắc,
  • Sự kính trọng, tôn vinh của nhân dân đối với anh hùng Lý Tiến – người đã hi sinh vì đất nước.

Bài học cho thế hệ trẻ ngày nay:

  • Cần trân trọng, ghi nhớ công lao của các anh hùng, liệt sĩ.
  • Có ý thức giữ gìn di tích lịch sử, truyền thống dân tộc.
  • Sống có trách nhiệm, ra sức học tập, rèn luyện, đóng góp cho đất nước để xứng đáng với sự hi sinh của cha ông.

Câu 1 PTNĐ chin là tự sự

Câu 2Nhân vật Lý Tiến là người có thật trong lịch sử.Ông tham gia chống lại chính quyền đô hộ phương Bắc.Ông được nhân dân ủng hộ và tôn trọng vì tinh thần yêu nước.Câu chuyện gắn với thời kì nước ta bị phương Bắc đô hộ.

Câu 3Khi ông Lý Tiến chết, trời đất bỗng nổi mưa gió, sấm chớp dữ dội.Nhân dân lập đền thờ và tin rằng ông rất linh thiêng, thường hiển linh giúp đỡ dân làng.

Câu 4ông đứng lên chống lại chính quyền đô hộ phương Bắc

Câu 5 Qua câu chuyện, em học được bài học phải yêu nước, dũng cảm và sống vì mọi người. Những người có công với đất nước sẽ luôn được nhân dân kính trọng và biết ơn.



6 tháng 3

Câu 1:ông lý tiến là tự sự

Câu 2:bối cảnh: đời hùng vương thứ sáu nhà nước văn lang

Sự kiện:cuộc xâm lược của giặc ân phương bác

Các địa đánh:sông tô lịch. đất vũ ninh

Câu 3: sự ra đời thần kì của lý tiến: hai ông bà già tuổi cao chưa có con sau khi thành tâm cầu nguyện thì sinh ra con trai khôi ngô tuấn Tú

lý tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua hùng

Chi tiết kì ảo

Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn ly kì

Câu 4: dũng cảm gan dạ và kiên cường

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao

Câu 5: cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sự kinh trong của nhân dân đối với anh hùng lý tiến

Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ:cần biết trân trọng, tự hao trước công lao của cha ông ta

Cố gắng học tập và rèn luyện đạo Đức tốt để trở thành nguội có ích để xây dựng đất nước

Tích cực tham gia các hoạt động xã hội tưởng nhớ đến tri ân đến thương binh liệt sĩ

10 tháng 3

Câu 1

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Ông

Lý Tiến" là tự sự.

Câu 2.

Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ sáu, nhà nước

Van Lang.

+ Sự kiện: Cuộc xâm lược của giặc Ân phương

Bắc.

+ Các địa danh: Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, đình Giáp Đông ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

Câu 3.

- Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

+ Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú .

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nước..

- Tác dụng của chi tiết kì ảo, hoang đường:.

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân..

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước .

Câu 4.

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý.

Tiến:

- Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng,.

"mang quân ra gần biên ải cự giặc", "chém giết được rất nhiều giặc"

- Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn "báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền" để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước..

Câu 5 .

  • Chi tiết cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến..
  • Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ đối với những người có công với đất nước..

+ Cần biết trân trọng, tự hào và biết ơn trước những công lao, hy sinh của thế hệ ông cha đi trước..

+ Cố găng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích, góp phần vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước..

+ Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớm tri ân đến gia đình thương binh liệt sỹ .

16 tháng 3

Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính của văn bản “Ông Lý Tiến” là tự sự.

Câu 2:

- Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ 6, nhà nước Văn Lang.

+ Sự kiện: Cuộc xâm lược của giặc Ân Phương Bắc.

+ Các địa danh: sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, đình Giáp Nông ở phố Hàng Cá (Hà Nội).

Câu 3:

-Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản là:

+ Sự ra đời của Lý Tiến: hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu sự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài cứu nước.

- Tác dụng các chi tiết hoang đường, kì ảo:

+ Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, ly kỳ thể hiện lòng ngưỡng mộ của nhân dân.

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào yếu tố tâm linh, anh hùng hi sinh vẫn luôn dõi theo và bảo vệ cho đất nước.

Câu 4:

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý Tiến:

- Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng “mang quân ra gần biên ải cử giặc”, “ chém chết được nhiều giặc”.

- Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn “báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền” để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước.

Câu 5:

- Chi tiết cuối chuyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến.

- Thái độ và hành động cần có của thế hệ trẻ đối với những người có công với đất nước.

+ Cần biết chân trọng, tự hào và biết ơn trước những công lao, hy sinh của thế hệ ông cha đi trước.

+ Cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích, góp phần vào công cuộ bảo vệ quê hương, đất nước.

+ Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, thể hiện sự tưởng nhớ, tri ân đến gia đình thương binh,liệt sĩ, …

19 tháng 3

Phương thức biểu đạt là tự sự

Các chi tiết liên quan đến lịch sử là:

Đời Hùng Vương thứ 6, của nhà văn lang

Cuộc xâm lược của giặc xâm lược phương Bắc

Sông Tô Lịch Vũ Linh, Đình giáp Đông ở phố hàng cứ

Câu3

Các chi tiết là:

Sự ra đời thần kỳ của lý Tiến

Đi Tiến chết rùi vẫn báo mộng cho vua hùng

Tác dụng hoang đường kỳ ảo là:

Làm cho câu chuyện hấp dẫn và kỳ ảo kỳ diệu hơn

Câu 4

Phẩm chất đáng quý là:

Dũng cảm, gan dạ , kiên cường

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm

Câu 5

Cố gắng học tập rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích góp phần và cung cung cuộc xây dựng

Tích cực tham gia hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ tri ân


câu 1:

- phương thức biểu đạt chính của câu chuyện là tự sự

câu 2:

-Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử:

  • Thời đại Hùng Vương thứ sáu, nước Văn Lang.
  • Sự kiện giặc phương Bắc (giặc Ân) xâm lược.
  • Địa danh: sông Tô Lịch, Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), Tiên Du, Hà Nội.
  • Việc vua Hùng chiêu mộ người tài đánh giặc.

→ Những chi tiết này gắn với bối cảnh lịch sử, địa danh có thật, làm cho câu chuyện có cơ sở lịch sử.

câu 3:

  • Chi tiết kì ảo, hoang đường:
    • Bà mẹ cầu tự ở chùa rồi mới mang thai.
    • Sau khi chết, Lý Tiến báo mộng vua Hùng để tìm người tài (Thánh Gióng).
  • Tác dụng:
    • Làm câu chuyện trở nên li kì, hấp dẫn.
    • Tôn vinh, thần thánh hóa nhân vật anh hùng.
    • Thể hiện niềm tin và sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với người có công
  • câu 4:
  • Nhân vật Lý Tiến có những phẩm chất đáng quý:
  • Khỏe mạnh, dũng cảm, gan dạ → thể hiện qua việc luyện tập võ nghệ, đánh trận giả, ra trận chống giặc.
  • Tài giỏi, có năng lực lãnh đạo → được vua Hùng giao làm tướng, huấn luyện quân.
  • Yêu nước, sẵn sàng hi sinh → chiến đấu đến khi bị thương nặng vẫn cố trở về, hi sinh vì đất nước.
  • Câu 5.
    Chi tiết cuối truyện cho thấy nhân dân biết ơn, kính trọng và tôn vinh anh hùng Lý Tiến bằng việc lập đền thờ. Điều đó thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Thế hệ trẻ ngày nay cần biết trân trọng, ghi nhớ công lao của những người đã hi sinh vì đất nước. Cần học tập, rèn luyện tốt, sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nên tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc.

23 tháng 3

Bbuucycyffyduhududyficugifuguf

25 tháng 3

Ông lí tiên là tự sự

Các chi tiết có liên quan sự thật đến lịch sử

Sự ra đời của Lý Tiến

Bối cảnh hùng vưng thứ sáu

Nhà nước Văn lang

Câu 1 phương thức biểu đạt chính tự sự kể lại các sự việc xoay quanh cuộc đời và công trạng của nhân vật lý Tiến

Câu 2 các chi tiết lịch sử thường bao gồm thời đại thơ Hùng Vương thứ sáu địa danh đất Văn lang quận Giao chỉ sự kiện đất nước có giặc xâm lược giặc ân nhân trên đồng lòng chống giặc dấu tích ngôi đền thờ ông tại quê hương nhà vẫn còn tồn tại

Cô ba chi tiết Kỳ ảo sau khi mất ông Lý Tiến báo mộng cho vua Hùng giúp vua tìm được người ta thánh gióng đánh giặc tác dụng làm tăng tinh tính thần kỳ hấp dẫn cho câu chuyện thần thánh Hóa nhân vật khẳng định dù đã mất nhưng linh hồn vì anh hùng vẫn luôn lo vận mệnh đất nước thể hiện sự kết quả nối giữa các thế hệ anh hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước

Câu 4 phẩm chất lòng yêu nước nồng nàn sự dũng cảm và lòng trung thành tuyệt đối chi tiết thể hiện ông hăng hái đưa ra trận đánh giặc cứu nước ngay khi tổ quốc cần dù Lâm bệnh nặng và mất khi sạc chưa tan linh hồn ông vẫn báo mộng cho vua tìm người tài kế tục sự nghiệp cứu nước

Câu 5 thái độ tình cảm của nhân dân thể hiện sự biết ơn sâu sắc lòng tôn kính và sự ngưỡng mộ đối với người anh hùng việc chôn cất và dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ cho thấy nhân dân coi ông như người thân muốn lưu giữ đời đời công lao của ông hành động của thế hệ trẻ thế hệ trẻ ngày nay cần có thái độ trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với những người đã có công ơn với đất nước chúng ta cần tích cực học tập rèn luyện đạo đức để xứng đáng với sự hi sinh của cha ông đi trước mỗi cá nhân nên tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa chăm sóc các gia đình thương binh liệt sĩ hoặc tìm hiểu về lịch sử dân tộc qua các di tích đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là đạo lý uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam quyết tâm bảo vệ và xây dựng quê hương giàu có đẹp chính là cách thiết thực nhất để trị ân những anh hùng như lý Tiến


26 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt đạt chính của văn bản là: tự sự

Câu2: Các chi tiết có liên quân đến sự thật lịch sử trong văn bản:

+ Bối cảnh: Đời Hùng Vương thứ 6,nhà nươvs Văn Lang

+Sự kiện : Cuộc xâm lược của giaqcj ân Phương thức bắc

+Các địa danh: Sông Tô Lịch,đất Đình Giáp đông ở phố Hàng Cá(Hà Nội)

Câu 3: + Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô,tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho Vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nó

- Những chi tiết kì ảo hoang đường

+ Làm ơn cho câu chuyện thêm hấp dẫn dẫn, ly kì,thể hiện ngưỡng một của nhân dân

+ Thể hiện niềm vui của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh Hùng hi sinh vẫn luôn dõi theo theo và phù hộ cho đất nước .

Câu 4: Nhân vật Lý Tiến những phẩn chất đáng quý là:

Dũng cảm, gan dạ, Kiên cường : Thể hiện qua chi tiết ông được vua hùng cử làm tướng, "mang quân ra gần biển ải cử giặc chém giết được rất nhiều giặc".

-Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước:Ông hi sinh vì đất nước,sau khi hi sinh ông vẫn"báo mộng vua hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ,cầu hiền"để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nó.

Câu 5:-Chi tiết cuối truyện cho thấy lòng biết ơn sâu sắc sắc và sợ kinh trọng,ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến.

+Tích cực thăm gia vào các hoạt động xã hội thể hiện sự tướng nhám tri ân đến gia đình thương bình, liệt sĩ,...


27 tháng 3

Câu 1

Văn bản thể loại nghị luận

Câu 2

Dưới triều Hùng Huy Vương

Câu 3

Sự ra đời của Lý Tiến:Hai ông bà chưa có con

Câu 4

Dũng cảm và kiên cường:Thể hiện của Hùng Vương cho làm tướng

Câu 5

Biết tôn trọng,tự hào và biết ơn hy sinh và công lao động của người cha già

Câu 1: PTBĐ chính của văn bản trên là tự sự.

Câu 2:

Bối cảnh. Thời Hùng Vương thứ 16

Sự kiện. Đấu tranh với giặc .

Câu 3. Chi tiết kỳ ảo là.

Sự ra đời của Lý Tiên

Chết rồi mà vẫn báo mộng cho nhà vua.

Tác dụng. Làm cho chuyện thêm hấp dẫn. Ly kỳ, thể hiện niềm tin của dân tộc về yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh .

Câu 4:Dung cảm , gan dạ và kien cường qua chi tiết. Ông được vua cử làm tướng qua đánh giặc.

Câu 5:

Cần biết trân trọng, tự hào và biết ơn.

Cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích.

Tích cực tham gia các hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ,tri ân.


27 tháng 3

C1 ông lý tiến là tự sự.

29 tháng 3

Câu1 phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu2 các chi tiết có thật là

- Đời hùng vương thứ 6

- Có nhà nước là văn Lang

- Cuộc xâm lược của giặc Ân phương bắc

- Có sông Tô tịch, chùa Khán, Làng Long Đỗ Đạt, trại Tiến Ngư, đất Vũ Ninh, Đình Giáp Đông ở phố Hàng Cá (Hà Nội)

Câu3

-Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:

+ Sự ra đời thần kì của Lý Tiến: Hai ông bà già tuổi cao chưa có con, sau khi thành tâm cầu tự thì sinh ra cậu con trai khôi ngô, tuấn tú.

+ Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiền tài ra giúp nước.

Tác dụng của chi tiết kì ảo, hoang đường:

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân.

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào các yếu tố tâm linh, anh hùng hy sinh vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước.

Câu4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lí Tiến:

– Dũng cảm, gan dạ và kiên cường: Thể hiện qua chi tiết ông được vua Hùng cử làm tướng, "mang quân ra gần biên ải cự giặc", "chém giết được rất nhiều giặc".

Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước: Ông hy sinh vì đất nước, sau khi hy sinh ông vẫn "báo mộng vua Hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền" để tìm người kế tục sự nghiệp cứu nước

Câu5

Chi tiết cuối ấy cho ta biết được rằng, sự biết ơn của người dân trong làng, Lý Tiết đã hi sinh và dành cho người dân sự biết ơn sâu sắc và lòng kính trọng dành cho người anh hùng Lí Tiết. Lòng yêu nước của ông đã dành cho nhân dân một lòng kính dân chân thành, dù đã ra đi nhưng mà ông đã báo mộng cho vua hùng cho sứ giả Tiên Du rao mõ, cầu hiền và tìm được Thánh Gióng đánh giặc về sau. Dù ông Lí Tiết đã đi xa nhưng vẫn đành lòng báo mộng về giúp người đánh giặc. Từ đó em đã biết thế hế trẻ em ngày nay cần phải có thái độ kính trên nhường dưới, đạo làm con cần hiếu thảo trung thành không lừa dối ai. Chúng ta cần học hành chăm chỉ để giúp đỡ cho đất nước, chỉ cần chúng ta cố gắng hơn một chút, chăm chỉ hơn một chút là có thể g đỡ được cho nhà nước và có công trong xã hội

Câu 1

Phương thức biểu đạt là tự sự

Câu 2

Đời Hùng Vương thứ sáu, nhà nc Văn Làng,cuộc xâm lược của giặc Ân phương Bắc,Sông Tô Lịch, đất Vũ Ninh, Giáp Đồng ở phố hàng cá ( Hà Nội ).

Câu 3

+ Các chi tiết kì ảo là:

- Sự ra đời thần kì của Lý Tiến

- Lý Tiến chết vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm ng hiền tài ra cứu nước .

+ tác dụng của những chi tiết kì ảo là:

- Giúp cho văn bản hay hơn, thú vị hơn và làm tăng sự hấp dẫn của văn bản đối với ng đọc

Câu 4

+ Các phẩm chất đáng quý của Lý Tiến là:

- Dũng cảm, kiên cường, yêu nước và gan Dạ.

Câu 5

Chi tiết cuối câu truyện cho thấy lòng biết ơn và sự yêu quý của mọi ng đối với ng anh hùng Lý Tiến.





29 tháng 3

1,

Là tự sự

2,

Sự kiện:

Cuộc xâm lược của giặc ân phương Bắc.

3,

Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng tìm người tài đi giúp nước.

4,

Lòng yêu nước và trách nhiệm cao cả với đất nước

5,

Chi tiết cuối truyện cho thấy sự biết ơn và kính trọng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng lý Tiến











29 tháng 3

1 Phương thức biểu đạt tự sự

29 tháng 3

Câu 1 : phương thức biểu đạt trong bài là tự sự.

Câu 2 : các chi tiết có liên quan đến sự kiện lịch sử đó là:

+Đời Hùng Vương thứ Sáu nhà nước Văn lang

+Sự kiện cuộc xâm lược của giặc ân phương Bắc

+Các địa danh sông tô lịch ,đất Vũ Linh, đình giáp Đông ở số hàng cá( Hà Nội)

Câu 3 : chi tiết kỳ ảo hoang đường trong văn bản là :

+Sự ra đời thần kỳ của Lý Tiến: hai ông bà già cao tuổi chưa có con, sau khi thành công cầu tự sinh ra đứa con khôi ngô tuấn tú.

+Lý Tiến chết rồi vẫn báo mộng cho vua Hùng để tìm người hiện tại gia giúp đất nước.

-tác dụng của chi tiết Kỳ ảo hoang đường là:

+Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn ly kỳ, thể hiện sự ngưỡng mộ của nhân dân

+Thể hiện của nhân dân tin vào các yếu tố tâm linh, anh hùng vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho đất nước.

Câu 4 : mỹ phẩm chất đáng quý của nhân vật lý Tiến:

+Dũng cảm gan dạ và kiên cường.

+Lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với đất nước

Câu 5 :

-chi tiết cuối của truyện chắc phải lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng của nhân dân đối với người anh hùng Lý Tiến

Thái độ và hành động suối với thế hệ trẻ có công với đất nước

- cần biết trân trọng tự hào và biết ơn với những người có công với đất nước

-cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức để trở thành những người có ích góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước.

-tích cực tham gia vào những hoạt động xã hội thể hiện sự tưởng nhớ tri ân đến gia đình thương binh, liệt sĩ,...

29 tháng 3

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính ​Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Tự sự

Câu 2: Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử ​Trong các truyện truyền thuyết như Lý Tiến, sự thật lịch sử thường là cái cốt lõi. Các chi tiết đó bao gồm: ​Thời đại: Chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương thứ 6 ​Sự kiện: Đất nước ta bị giặc xâm lược ​Địa danh: Làng Lũng Thượng, nơi người anh hùng sinh ra.

Câu 3: Các chi tiết kì ảo, hoang đường và tác dụng ​Chi tiết kì ảo: Tiếng chim lạ hót báo điềm lành khi Lý Tiến ra đời; sự hy sinh của ông mang màu sắc thần thánh. sau khi mất vẫn hiển linh giúp dân ​Tác dụng: Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, ly kỳ. ​Tôn vinh, thần thánh hóa vẻ đẹp và sức mạnh của người anh hùng. ​Thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn kính của nhân dân đối với người có công với nước.

​Câu 4: Phẩm chất của nhân vật Lý Tiến ​Phẩm chất: Yêu nước nồng nàn, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc. ​Chi tiết thể hiện: Khi giặc đến, ông không ngần ngại xin vua đi đánh giặc. ​Xông pha trận mạc, chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh trên chiến trường để bảo vệ bình yên cho đất nước

Câu 5: Tình cảm của nhân dân và trách nhiệm thế hệ trẻ ​Chi tiết nhân dân chôn cất và lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ của Lý Tiến thể hiện lòng biết ơn sâu sắc, sự trân trọng và tôn vinh vĩnh viễn đối với vị anh hùng. Họ muốn lưu giữ hình bóng ông như một phần máu thịt của quê hương. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, chúng ta cần có thái độ thành kính, biết ơn và tự hào về lịch sử dân tộc. Hành động cụ thể là ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, tích cực tham gia các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa" và sẵn sàng cống hiến sức trẻ để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của cha ông đi trước.

31 tháng 3

1) phương thức biểu đạt chính của văn bản Ông Lí Tiến: là tự sự

2) văn bản "Ông Lí Tiến"(truyện truyền thuyết)chứa đựng nhiều chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử Thời Hùng Vương

3)trong truyện Ông Lí Tiến (truyện thần kì),chi tiết kì ảo khoang đường tiêu biểu là nhân vật Lí Tiến

4)-Trong truyện truyền thuyết; nhân vật Lí Tiến nổi bật với phẩm chất nhân hậu

14 giờ trước (19:00)

Câu 1 tự sự câu 2 biểu cảm câu 3 không biết câu 4 chi tiết kỳ ảo

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một...
Đọc tiếp
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy. Phân loại các từ sau theo cấu tạo của chúng: Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức.
4
5 tháng 8 2021

đm mày

28 tháng 1 2022

???????

Cách giới thiệu nhân vật chính trong những truyện sau có gì khác với cách giới thiệu nên trong bài tập 2?a) Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thứ để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về...
Đọc tiếp

Cách giới thiệu nhân vật chính trong những truyện sau có gì khác với cách giới thiệu nên trong bài tập 2?

a) Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thứ để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô.
(Thánh Gióng)

 

b) Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.

Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn.
(Sơn Tinh, Thủy Tinh)

 

c) Ngày xưa có ông vua nọ sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người. Đã mất nhiều công tìm kiếm nhưng viên quan vẫn chưa thấy có người nào thật lỗi lạc.

Một hôm, viên quan đi qua cánh đồng làng kia, chợt thấy bên về đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng […]

(Em bé thông minh)

1
21 tháng 4 2018

Trong các câu a, b, c dưới đều là những câu trần thuật nhưng nó còn có tác dụng kể, tả về nhân vật.

  - Các nhân vật phụ được giới thiệu trước, sau đó mới nói đến nhân vật chính.

   + Các nhân vật chính: Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, em bé thông minh.

   + Các nhân vật phụ: hai vợ chồng ông lão sinh ra cậu bé làng Gióng, Hùng Vương và Mị Nương, Viên quan đi tìm người tài giỏi.

27 tháng 3 2022

từ mượn: phúc đức, khôi ngô, thụ thai

Vào thời Hùng Vương có một đôi vợ chồng tuy đã già nhưng mãi chưa có con. Vào một buổi sáng sớm khi lên nương làm rẫy, chợt thấy một dấu chân rất to in trên mặt đất, bà sửng sốt kêu lên:- Ôi! Dấu chân của ai mà to thế này!Thấy kì lạ, bà đưa chân mình vào ướm thử, về nhà bà liền có thai. Chẳng giống như bình thường, bà mang thai 12 tháng mới sinh ra một bé trai và đặt tên là Gióng....
Đọc tiếp

Vào thời Hùng Vương có một đôi vợ chồng tuy đã già nhưng mãi chưa có con. Vào một buổi sáng sớm khi lên nương làm rẫy, chợt thấy một dấu chân rất to in trên mặt đất, bà sửng sốt kêu lên:
- Ôi! Dấu chân của ai mà to thế này!

Thấy kì lạ, bà đưa chân mình vào ướm thử, về nhà bà liền có thai. Chẳng giống như bình thường, bà mang thai 12 tháng mới sinh ra một bé trai và đặt tên là Gióng. Gióng lên ba tuổi mà chẳng biết nói biết cười. Hàng xóm láng giềng xung quang bắt đầu dị nghị, lời ra tiếng vào, bàn tán về đứa trẻ kì lạ. Họ cho rằng bà thụ thai kì lạ nên đứa trẻ sinh ra cũng không được bình thường. Vào năm ấy, giặc Ân xâm lược nước ta. Quân giặc rất đông và hung hãn, đi đến đâu, chúng cướp bóc, tàn phá đến đấy. Quân của vua Hùng nhiều lần xuất trận nhưng không thể đánh thắng số lượng áp đảo của quân địch. Trước tình hình ấy, vua Hùng rất lo lắng, cử sứ thần đi khắp các vùng miền tìm người tài. Đến làng Phù Đổng, với lòng căm thù quân giặc sục sôi, ý chí bảo vệ đất nước mãnh liệt, người dân cả làng xin vua cho được đi đánh giặc. Không khí đánh giặc cứu nước lan tỏa khắp nơi nơi, mẹ Gióng vô cùng buồn rầu ao ước rằng giá như Gióng cũng bình thường như những người khác thì đã có thể xung quân đánh giặc. Lời ru của mẹ cất lên đầy tha thiết nhưng cũng đầy giục giã: “Làm trai đứng ở trên đời/ Sao cho xứng đáng giống nòi rồng tiên”. Những đứa trẻ khác thấy Gióng vẫn ngủ thì nói: “Gióng ơi dậy đi thôi! Cả làng Phù Đổng ta xin vua cho đi đánh giặc rồi đấy!”. Những lời nói ấy như có sức mạnh làm thức tỉnh con người ngủ quên trong Gióng, Gióng bỗng cất tiếng gọi mẹ xin cho đi đánh giặc: “ Mẹ ơi! Xin mẹ cho gọi sứ giả vào đây”. Mẹ Gióng vô cùng bất ngờ, chuyện quốc gia đại sự đâu phải trò đùa của trẻ con, nhưng Gióng vẫn cương quyết: “Xin mẹ hãy tin con, con có thể ra trận đánh giặc”. Mẹ Gióng đến gặp trưởng làng và mời sứ thần đến gặp Gióng. Gióng nói với sứ giá bằng giọng rõ ràng, dứt khoát: “Xin hãy nói với nhà vua làm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một cái áo giáp sắt”. Sứ giả ban đầu cũng hoài nghi, dù sao Gióng cũng chỉ là một đứa trẻ. Nhưng lúc ấy, có một con rồng không biết từ đâu bay đến rồi vút cao lên trời xanh, biết là điểm báo của trời, vội vàng về tâu lại với nhà vua. Từ hôm ấy, Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không đủ, vươn vai trở thành một chàng trai khỏe mạnh, khôi ngô, tuấn tú. Những vật dụng cần thiết được mang đến, Gióng cùng trai tráng làng Phù Đổng ra trận đánh giặc. Đánh đến đâu, quân giặc khiếp sợ bỏ chạy đến đấy. Khí thế đang mạnh mẽ thì ngờ đâu kiếm gãy, Gióng nhanh trí nhổ một bụi tre bên đường, quật vào quân giặc tới tấp. Tướng giặc cùng đường phải giơ tay xin hàng, chiến thắng thuộc về nhân dân của nước Văn Lang. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Gióng bèn cởi toàn bộ giáp rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

Để tưởng nhớ công ơn của Gióng, vua Hùng cho lập đền thờ ở quê nhà và phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Hàng năm, nhân dân vẫn tổ chức lễ hội để du khách thập phương tìm về bái lễ.

Văn bản' Thánh Gióng ' kể lại bằng lời của em nhé

0
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy… (SGK Ngữ văn 6, tập 2) Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của truyện dân gian? Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn. Câu 2: Xác định cụm danh từ trong câu sau: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức” Câu 3: Đoạn văn trên kể về sự việc gì?

3
4 tháng 3 2022

1. Đoạn văn trên được trích từ văn bản Thánh Gióng

Văn bản đó thuộc thể loại truyện truyền thuyết

PTBĐ chính là tự sự

2. Cụm danh từ: hai vợ chồng ông lão

3. Đoạn trích kể về sự ra đời kì lạ của Gióng

25 tháng 3 2025

lsao


4 tháng 3 2022

sự ra đời  kì lạ  của  Gióng một 

4 tháng 3 2022

Đoạn văn trên kể về sự ra đời của thánh Gióng một cách kì lạ, tiếng nói đầu tiên là muốn cứu nước 

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy… (SGK Ngữ văn 6, tập 2) Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của truyện dân gian? Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn. Câu 2: Xác định cụm danh từ trong câu sau: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức” Câu 3: Đoạn văn trên kể về sự việc gì?

Câu 4: Tìm các từ mượn trong đoạn văn trên và cho biết nguồn gốc của các từ mượn đó.

Câu 5: Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của em về cái vươn vai thần kì của thánh Gióng.

1
29 tháng 1 2023

Mai mốt nhớ xuống hàng câu hỏi nhé.

Câu 1:

Văn bản "Thánh Gióng".

Thuộc thể loại truyền truyền thuyết.

PTBĐ chính: tự sự.

Câu 2:

CDT: đời Hùng Vương thứ sáu, hai vợ chồng ông lão.

Câu 3:

Kể về sự việc nguồn gốc, lý do Thánh Gióng ra đời.

Câu 4:

Các từ mượn:

- phúc đức, thụ thai, khôi ngô.

Nguồn gốc của các từ mượn này là từ Trung Quốc.

Câu 5:

Gợi ý cảm nhận:

- Ý nghĩa của cái vươn vai:

+ thể hiện ước mơ mạnh mẽ, có thể chống lại giặc ngoại xâm của nhân dân

+ nói lên tinh thần khát khao của người dân về một đất nước hòa bình.

- Vai trò của sự vươn vai thần kỳ của Thánh Gióng:

+ giúp cho truyện truyền thuyết thêm phần kỳ ảo, hấp dẫn.

+ thể hiện sự liên tưởng, sự sáng tạo của nhân dân ta.

Tục truyền đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có 2 vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng phúc đức. 2 ông bà ao ước có 1 đứa con. 1 hôm bà ra đồng trông thấy 1 vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh 1 cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. 2 vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi...
Đọc tiếp

Tục truyền đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có 2 vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng phúc đức. 2 ông bà ao ước có 1 đứa con. 1 hôm bà ra đồng trông thấy 1 vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh 1 cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. 2 vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ có giặc Ân xâm lược bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: '' Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con''. Sứ giả vào, đứa bé bảo: '' Ông về tâu với vua sắm cho ta 1 con ngựa sắt, 1 cái roi sắt và 1 tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này''. Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm lamf gấp những vật chú bé dặn....

1. Viết đoạn văn trình bày về nhân vật Thánh Gióng. Từ nhân vật Thánh Gióng hãy liên hệ thực tế bản thân.

MK CẦN GẤP LẮM MAI MK KIỂM TRA RỒI!

AI NHANH MK TICK 3 CÁI!!

3
5 tháng 10 2018

Bn tự nghĩ đi. Đây là bài tập mòa!

Bài làm

Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm. Chàng được sinh ra từ một người mẹ nông dân nghèo, điều này chứng tỏ Gióng sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng. Gióng đã chiến đấu bàng tất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân. Sức mạnh của Gióng không chỉ tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ (tre) và hiện đại (roi sắt). Từ truyền thống đánh giặc cứu nước, nhân dân ta đã thần thánh hoá những vị anh hung trở thành những nhân vật huyền thoại, tượng trưng cho lòng yêu nước, sức mạnh quật khởi. Bên cạnh giá trị biểu tượng, tác phẩm cũng có một số sự thật lịch sử. Thời kì lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là thời đại Hùng Vương. Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồng lứa nước đã khá phát triển, người dân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ, đồng thời cũng luôn luôn phải chống giặc ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ đất nước. Bên cạnh việc cấy trồng lúa nước, nhân dân thời bấy giờ đã có ý thức chế tạo vũ khí chống giặc từ chất liệu kim loại (bằng sắt). Truyền thuyết cũng phản ánh: trong công cuộc chống ngoại xâm, từ xa xưa, chúng ta đã có truyền thống huy động sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả các phương tiện để đánh giặc.