(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

TRUYỆN KIỀU

(Trích)

       Từ ngày muôn dặm phù tang(1),

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

       Vội sang vườn Thúy(2) dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

       Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa.

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…

       Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).

       Sập sè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

       Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa!

       Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

       Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

       Hỏi ông, ông mắc tụng đình(4),

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

       Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương, cùng với là Thúy Vân.

       Đều là sa sút khó khăn,

May thuê, viết mướn, kiếm ăn lần hồi.

       Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

       Vội han di trú(5) nơi nào?

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

       Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc cài phên thưa.

       Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn người!

       Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

       Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

       Khóc than kể hết niềm tây:

"Chàng ôi, biết nỗi nước này cho chưa?

       Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

       Gặp cơn gia biến lạ đường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

       Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

       Trót lời hẹn với lang quân,

Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.

       Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên."

        […] Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng rầu như dưa.

       Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai!

                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Trẻ, 2015)

Chú thích: 

(1) Phù tang: Chịu tang.

(2) Vườn Thúy: Nơi Kim Trọng từng trọ học, cũng là nơi Kim – Kiều cùng nhau tình tự, thề nguyền.

(3) Hoa đào… gió đông: Thôi Hộ đời Đường, nhân tiết Thanh minh, đi đến nơi kì ngộ, tìm người con gái đã gặp gỡ năm trước thì chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong đó câu: "Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong" (nghĩa là: Mặt người không biết đi đằng nào/ Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ).

(4) Tụng đình: Sân xử kiện, nơi xử kiện. Ở đây dùng với nghĩa chỉ việc kiện cáo.

(5) Han: Hỏi, di trú: Dời đi nơi khác.

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Văn bản là ngôn ngữ của ai?

Câu 3. Tóm tắt lại văn bản theo các sự kiện chính trong văn bản.

Câu 4. Anh/ chị hiểu như thế nào về hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông"?

Câu 5. Nêu tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích:

        Sập sè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

       Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa!

51
6 tháng 2

Câu 1. Thể loại: Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm (viết theo thể thơ lục bát).

Câu 2. Ngôn ngữ của văn bản: Văn bản chủ yếu là ngôn ngữ của người kể chuyện (ngôi thứ ba). Bên cạnh đó, có sự kết hợp với ngôn ngữ đối thoại (lời của Vương ông nói với Kim Trọng).

Câu 3. Tóm tắt các sự kiện chính:

1. Kim Trọng sau nửa năm về Liêu Dương chịu tang chú, vội vàng quay trở lại vườn Thúy tìm Kiều.

2. Kim Trọng đối mặt với cảnh tượng vườn xưa hoang tàn, vắng vẻ, không thấy bóng dáng người thương.

3. Chàng hỏi thăm láng giềng và bàng hoàng nghe tin gia đình họ Vương gặp biến cố: Vương ông mắc tụng đình, Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình sa sút phải dời đi chỗ khác.

4. Kim Trọng tìm đến nơi ở mới tồi tàn của gia đình Kiều, gặp lại Vương Quan và Vương ông bà.

4. Vương ông kể lại nỗi đau đớn, việc Kiều bán mình và việc nàng trao duyên lại cho Thúy Vân. Kim Trọng nghe xong vô cùng đau xót, vật vã khóc thương.

Câu 4. Hiểu về hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông":

- Nghĩa đen: Hoa đào của mùa xuân năm trước vẫn nở rộ và rung rinh trước gió đông (gió mùa xuân).

- Nghĩa biểu tượng: Đây là hình ảnh lấy điển tích từ thơ Thôi Hộ, dùng để chỉ sự đối lập gay gắt giữa thiên nhiên vĩnh hằng (hoa vẫn nở) và con người đổi thay/vắng bóng (người xưa không còn).

- Tâm trạng: Hình ảnh này nhấn mạnh nỗi cô đơn, hụt hẫng và xót xa của Kim Trọng khi cảnh cũ còn đó mà người xưa đã phiêu dạt phương nào.

Câu 5. Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình:

"Sập sè én liệng lầu không, Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày. Cuối tường gai góc mọc đầy, Đi về này những lối này năm xưa!"

- Tác dụng miêu tả: Khắc họa sự hoang phế, hiu quạnh của vườn Thúy. Những hình ảnh "lầu không", "cỏ lan", "rêu phong", "gai góc" cho thấy nơi đây đã lâu không có hơi người, không được chăm sóc.

- Tác dụng biểu cảm:

+ Thể hiện sự tàn khốc của thời gian và biến cố cuộc đời đã xóa sạch dấu vết ấm êm ngày cũ.

+ Phản chiếu nỗi lòng ngổn ngang, đau đớn của Kim Trọng. Cảnh vật càng hoang tàn bao nhiêu, lòng chàng càng thắt lại bấy nhiêu. Sự đối lập giữa "lối này năm xưa" (kỉ niệm) và "gai góc mọc đầy" (hiện thực) làm nổi bật bi kịch của tình yêu tan vỡ.

6 tháng 2

Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm, viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.
Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện (tác giả Nguyễn Du), không phải lời thoại trực tiếp của nhân vật.

Câu 3.
Tóm tắt các sự kiện chính:
Sau khi chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Thúy Kiều. Chàng đến vườn Thúy thì thấy cảnh vật hoang phế, vắng vẻ, không còn dấu vết người xưa. Hỏi thăm láng giềng, Kim Trọng bàng hoàng biết được gia đình Kiều gặp biến cố, Kiều đã bán mình chuộc cha và nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Kim Trọng vội tìm đến nhà họ Vương, nghe cha mẹ Kiều kể rõ sự tình, chàng đau đớn, tuyệt vọng trước bi kịch tình duyên.

Câu 4.
Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi nỗi đau xót trước cảnh người đã thay đổi, cảnh còn nguyên. Hoa đào vẫn nở như năm xưa nhưng người xưa thì không còn. Hình ảnh này nhấn mạnh bi kịch chia lìa trong tình yêu Kim – Kiều, đồng thời thể hiện tâm trạng cô đơn, hụt hẫng, tiếc nuối của Kim Trọng khi trở lại chốn cũ.

Câu 5.
Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình:
Các hình ảnh như lầu không, cỏ lan, rêu phong, gai góc mọc đầy vừa miêu tả cảnh vật hoang phế, tiêu điều, vừa gửi gắm nỗi buồn đau, trống trải, tuyệt vọng trong lòng Kim Trọng. Cảnh vật nhuốm màu thời gian và quên lãng chính là sự phản chiếu tâm trạng xót xa trước tình yêu tan vỡ, quá khứ không thể quay lại. Biện pháp này làm cho cảm xúc nhân vật trở nên sâu sắc, tinh tế và giàu sức gợi.

Bạn bùi thị bảo trâm đăng ký cho e hỏi là khi đc ko ạ vì vậy à mà giờ đâu vậy à mà giờ đây là số ko có gì mới đi làm việc tại các khu vực Phú Quốc

Câu 1: Thể loại: truyện thơ Nôm.

Câu 2: Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện.

Câu 3: Tóm tắt:

​- Sự kiện 1: Sau nửa năm đi xa chịu tang chú, Kim Trọng quay lại tìm Kiều nhưng bàng hoàng thấy cảnh vật đã thay đổi, hoang tàn và vắng bóng người thương.

- ​Sự kiện 2: Gặp người láng giềng chàng quyết định sang tận nơi để dò hỏi tin tức.

- Sự kiện 3: Người thân đau đớn kể cho chàng nghe việc gia đình gặp nạn, Thúy Kiều đã phải bán mình chuộc cha và gia đình giờ đã sa sút, phải dời đi nơi khác làm thuê kiếm sống.

- Sự kiện 5: Nghe tin dữ, Kim Trọng vô cùng đau đớn, xót xa.

Câu 4: Hình ảnh này gợi sự đối lập gay gắt giữa thiên nhiên và con người. Hoa đào vẫn nở đúng hẹn, vẫn rực rỡ dưới gió xuân, nhưng con người thì đã đi mất. Nó nhấn mạnh sự mất mát, trống vắng và nỗi lòng hụt hẫng của Kim Trọng khi đối diện với cảnh cũ mà vắng bóng người thương.

Câu 5: Tác dụng:

- Khắc họa không gian lạnh lẽo, hiu quạnh cho thấy nơi đây đã lâu không có hơi người chăm sóc.

- Qua cảnh vật tàn tạ, tác giả bộc lộ nỗi đau xót, sự ngỡ ngàng và dự cảm chẳng lành của Kim Trọng. Cảnh vật càng hoang vắng, lòng người càng cô đơn và đau đớn.

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm

Câu 2: Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông

Câu 3:

1.Kim Trọng trở lại: Sau nửa năm chịu tang ở Liêu Dương, Kim Trọng vội vã trở lại vườn Thúy tìm Kiều.

2.​Cảnh vật hoang tàn: Kim Trọng bàng hoàng thấy vườn xưa đã thay đổi, cỏ mọc um tùm, nhà cửa vắng lặng, xơ xác.

3.​Gặp lại gia đình họ Vương: Kim Trọng tìm được đến nơi ở mới của gia đình Kiều, thấy cảnh nhà sa sút, nghèo khó.

4.​Nghe tin dữ: Ông bà Vương khóc lộc kể lại việc gia đình gặp biến cố (gia biến), Kiều đã phải bán mình chuộc cha và nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho chàng. ​

5.Nỗi đau của Kim Trọng: Nghe xong tin dữ, Kim Trọng đau đớn đến mức "vật mình vẫy gió tuôn mưa", vô cùng tuyệt vọng

Câu 1: văn bản thuộc thể loại truyện thơ nôm

Câu 2: văn bản ngôn ngữ của người kể chuyện là ông bà Vương ông

Câu 3: tóm tắt:

Sự kiện 1 sau nửa năm về quê hộ tan chú Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều

Sự kiện 2 gặp người láng giềng sang chơi kim trọng Hoài An sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều

Sự kiện 3 tìm đến nhà vua ông hiện tại được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện biết tên kiều trao duyên mình trao Thúy Vân chàng đau đớn Khóc than

Câu 4: hình ảnh "hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" là một hình ảnh mang tính biểu tượng thể hiện sự tương phản sâu sắc giữa cảnh vật và con người qua đó bộc lộ nỗi niềm tiếc nuối sau muộn và tình yêu mãnh liệt.

Câu 5: tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là người lên một không gian quặn thơ lạnh lẽo không có sự hiện diện và hơi ấm của con người thể hiện tâm trạng hoài niệm xót xa tiếc nuối của tràng kim khi trở lại nơi cũ vẫn là mùa xuân cắn én nhưng không phải là mùa xuân kèn nén của mùa xuân rộn ràng tươi tắn của ngày xuân con én đưa thoi sự hoàn niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại nhấn mạnh nỗi đau xót tiếc nuối khôn tả của Trần Kim.


Câu 1 Thể loại: Truyện thơ Nôm. Câu 2 Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông. Câu 3 Tóm tắt: Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều. Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều. Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than. Câu 4 Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là: + Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người. + Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươitắn của "Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim. Câu 5 – HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lígiải hợp lí. Chú ý những nội dung sau: + Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ. + Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy. + Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản: Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm Câu 2: Văn bản là lời của Kim Trọng Câu 3: Tóm tắt sự kiện chính: Sau nửa năm chịu tang, Kim Trọng trở lại vườn Thúy – nơi từng thề nguyền với Kiều – nhưng cảnh vật hoang vắng, đổi thay. Chàng hỏi thăm thì biết gia đình Kiều gặp biến cố, Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình ly tán, Thúy Vân thay Kiều kết duyên với chàng. Nghe tin, Kim Trọng đau đớn, vội vàng đi tìm tung tích Kiều. Câu 4: Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình: Những hình ảnh cỏ mọc, rêu phong, gai góc, lối xưa phủ kín… vừa tả cảnh hoang tàn, tiêu điều, vừa gợi tâm trạng đau xót, hụt hẫng của Kim Trọng khi cảnh cũ người xưa không còn. Qua đó làm nổi bật nỗi buồn, sự mất mát và dự cảm về sự chia lìa. Câu 5: Hiểu về hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” Hình ảnh gợi sự đối lập giữa cảnh vật vẫn như xưa (hoa đào vẫn nở, vẫn “cười” với gió đông) và con người thì đã thay đổi, ly tán. Qua đó nhấn mạnh nỗi bâng khuâng, tiếc nuối của Kim Trọng trước sự đổi thay của tình duyên và số phận.


1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm 2. Văn bản là lời của tác giả có đan xen giữa lời của ông bà Vương 3. Các sự kiện chính của văn bản + Sau thời gian chịu tang chú Dương ở Liêu Dương, Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Thúy Kiều. +Cảnh cũ đối thay, vườn hoang vắng, không còn bóng người cha

+ Kim Trọng hỏi thăm hàng xóm biết được gia đình Kiều sa sút, nàng đã bán mình chuộc +Chàng đau đớn, tìm đến nhà Kiều và được Vương ông kể lại toàn bộ sự việc cùng lời gửi gắm của Kiều qua Thúy Vân

4. Tác dụng + Nhấn mạnh dùng cảnh vật thiên nhiên (tả cảnh) để ẩn dụ, gửi gắm tâm tư, tình cảm (ngụ tình) của nhân vật +Thể hiện sự đổi thay, tan tác của cảnh vật sau biến cố, bộc lộ tâm trạng đau xót, hụt hằng, ngỡ ngàng của Kim Trọng khi trở lại chốn xưa 5. Hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" diễn tả cảnh hoa đào văn nở tươi, vẫn "cười" trước gió xuân như năm trước. Tuy nhiên, khi cảnh vật như cũ, bóng người vắng lặng đi mãi không về. Hình ảnh đối lập giữa cái bất biến của thiên nhiên và sự đổi thay, mất mát của con người

2 tháng 3

Câu 1 Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm (thể thơ lục bát). Câu 2 Văn bản là lời của Kim Trọng (khi trở lại tìm Kiều và nghe gia biến). Câu 3 Tóm tắt các sự kiện chính: Kim Trọng chịu tang chú xong trở lại Liêu Dương, sang vườn Thúy thì cảnh vật hoang tàn, vắng lặng. Hỏi thăm láng giềng, chàng mới biết gia đình Kiều gặp biến cố, nàng đã bán mình chuộc cha và gia đình phải dời đi nơi khác. Nghe tin, Kim Trọng đau đớn, bàng hoàng. Câu 4 Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình: Những hình ảnh như cỏ mọc, rêu phong, gai góc, lối xưa vắng vẻ… không chỉ tả cảnh hoang tàn mà còn thể hiện tâm trạng buồn bã, hụt hẫng, xót xa của Kim Trọng khi trở lại chốn cũ. Cảnh vật trở thành tấm gương phản chiếu nỗi đau mất mát và dự cảm chia lìa. Câu 5 Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi sự đối lập giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại chia xa. Hoa đào vẫn nở như cũ nhưng con người đã vắng bóng, làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa trước sự đổi thay của số phận và tình yêu dang dở.

3 tháng 3

Câu 1

Thể loại: Truyện thơ nôm

Câu 2.

Văn bản là lời của người kể chuyện ngôi thứ ba, xen với lời thoại của ông bà Vương khi kể lại sự việc cho Kim Trọng nghe.

Câu 3

Sau nửa năm về quê chịu tang chú, Kim Trọng trở lại vườn Thúy – nơi từng gắn bó với mối tình đầu trong sáng. Cảnh cũ nay trở nên hoang vắng, tiêu điều khiến chàng bàng hoàng. Hỏi thăm láng giềng, Kim Trọng mới biết gia đình Thúy Kiều gặp tai biến, nàng đã bán mình chuộc cha và cả nhà phải dời đi nơi khác. Đau đớn, chàng tìm đến chỗ ở mới của gia đình họ Vương, chứng kiến cảnh nghèo khó sa sút và nghe kể lại việc Kiều trao duyên cho Thúy Vân để giữ trọn nghĩa tình. Kim Trọng rụng rời, xót xa trước sự thật phũ phàng ấy.

Câu 4

Đoạn thơ sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Hình ảnh “lầu không”, “cỏ lan”, “rêu phong”, “gai góc mọc đầy” gợi nên một không gian hoang lạnh, quạnh hiu, vắng bóng con người. Cảnh vật như bị phủ lên màu thời gian, dấu tích xưa đã phai mờ.

Qua bức tranh ấy, Nguyễn Du kín đáo bộc lộ tâm trạng của Kim Trọng: nỗi cô đơn, hụt hẫng và đau xót khi trở lại chốn thề nguyền mà người xưa không còn. Cảnh càng tiêu điều bao nhiêu thì lòng người càng tan nát bấy nhiêu. Quá khứ tươi đẹp đối lập với hiện tại hoang vắng đã làm nổi bật nỗi mất mát và tiếc nuối khôn nguôi trong lòng chàng Kim.

Câu 5

Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi từ điển tích thơ Đường, diễn tả sự đối lập giữa cảnh và người. Hoa đào vẫn nở tươi thắm, vẫn “cười” với gió đông như năm trước, nhưng người xưa đã vắng bóng.

Câu thơ tạo nên một nghịch lí đầy xót xa: thiên nhiên dường như vô tình trước nỗi đau của con người. Cái tươi tắn của hoa càng làm nổi bật nỗi buồn, sự thẫn thờ trong lòng Kim Trọng. Qua đó, tác giả thể hiện sâu sắc cảm giác bẽ bàng, tiếc nuối khi tình yêu đẹp đẽ đã bị biến cố cuộc đời chia cắt.


4 tháng 3

Câu 1:Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm

Câu 2:Văn bản là lời của người kể chuyện (tác giả) – tức Nguyễn Du thuật lại câu chuyện

Câu 3:Sau nửa năm lưu lạc, kim trọng trở lại vườn cũ. Cảnh vật hoang tàn, tiêu điều khiến nàng đau xót. Kim Trọng hỏi thăm tin tức gia đình Thúy Kiều và biết cha mẹ đã dời đi nơi khác, Kim Trọng cũng gặp nhiều khó khăn, phải đi xa. Nghe tin, Kiều vô cùng đau đớn, xót xa cho số phận mình và người thân.

Câu 4:Biện pháp tả cảnh ngụ tình giúp:

Khắc hoạ cảnh vườn hoang vắng, tiêu điều, đầy rêu phong,gai góc

Quá quá thể hiện tâm trạng buồn tủi,, cô đơn,đau xót của thúy Kiều

Làm nổi bật quá khứ êm đềm và sự xót xa trước cảnh thay đổi

Câu 5:Hình ảnh “hoa đào năm ngoái” gợi quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc (đặc biệt là kỉ niệm tình yêu với Kim Trọng). “Cười gió đông” thể hiện sự tươi vui, rực rỡ của ngày xưa. Đặt trong hoàn cảnh hiện tại, hình ảnh ấy càng làm nổi bật sự đổi thay, mất mát và nỗi đau xót của Kiều trước cảnh cũ người xưa không còn.


Câu 1:Văn bản thuộc thể loại:Truyện thơ Nôm

Câu 2: Văn bản là lời của người kể chuyện(tác giả)tức Nguyễn Du thuật lại câu chuyện.

Câu 3: Sau nửa năm lưu lạc,Kim Trọng trở lại vườn Thuý cảnh vật hoang tàn,tiêu điều nhìn đau xót.Kim Trọng hỏi thăm tin tức gia đình Thúy Kiều thì biết cha mẹ cô đã dời đi nơi khác,Kim Trọng nghe tin vô cùng đau đớn,xót xa cho số phận

Câu 4: Biện pháp tả cảnh ngụ tình giúp:khắc họa cảnh vườn xưa hoang vắng,tiêu điều,gai góc lầm nổi bật nỗi nhớ quá khứ êm đềm và sự xót xa trước cảnh đổi thay.

Câu 5: Hình ảnh“hoa đào năm ngoái”gợi quá khứ tươi đẹp,hạnh phúc

“Cười gió đông”thể hiện sự tươi vui, rực rỡ của ngày xưa và đặt trong hoàn cảnh hiện tại,hình ảnh ấy càng làm nổi bật sự đổi thay,mất mát và nỗi đau xót trước cảnh cũ người xưa không còn.

4 tháng 3

Câu 1: Thể loại của văn bản ​Đáp án: Truyện thơ Nôm (cụ thể là thể thơ Lục bát). ​

Câu 2: Lời của ai? ​Đáp án: Đây là lời của người kể chuyện (ngôi thứ ba), đang miêu tả lại khung cảnh và tâm trạng của nhân vật Kim Trọng.

​Câu 3: Tóm tắt các sự kiện chính ​Đoạn trích miêu tả cảnh ngộ và hành động của Kim Trọng khi quay trở lại vườn Thúy: ​Sự thay đổi của cảnh vật: Sau thời gian xa cách, Kim Trọng trở lại thì thấy vườn xưa đã hoang phế, rêu phong, cỏ mọc đầy lối đi. ​Sự trống vắng: Cảnh cũ còn đó nhưng người xưa (Thúy Kiều) đã không còn, tạo nên cảm giác mất mát, hụt hẫng. ​Sự hoài niệm: Kim Trọng đối diện với hiện thực nghiệt ngã, nhớ lại những kỷ niệm đẹp đẽ trước đây.

​Câu 4: Tác dụng của biện pháp "Tả cảnh ngụ tình" ​Đoạn thơ: ​"Sập sè én liệng lầu không, Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày..." ​Tác dụng: * Về nội dung: Khắc họa sự hoang vắng, hiu quạnh của khu vườn. Hình ảnh "lầu không", "rêu phong" cho thấy sự ngưng đọng của thời gian và sự thiếu vắng bóng dáng con người. ​Về biểu cảm: Qua cảnh vật đổ nát, tác giả bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa và hụt hẫng của Kim Trọng. Cảnh vật càng hoang vu bao nhiêu càng thể hiện nỗi cô đơn và dự cảm chẳng lành về số phận của người yêu bấy nhiêu. ​

Câu 5: Ý nghĩa hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" ​Đây là một hình ảnh mang tính ước lệ cao, mượn ý từ bài thơ nổi tiếng của Thôi Hộ: ​Sự tương phản: Hình ảnh hoa đào "cười gió đông" tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên vẫn vẹn nguyên, bền vững theo chu kỳ. Tuy nhiên, nó lại đối lập gay gắt với sự thay đổi của phận người ("người đi đâu mất"). ​Ý nghĩa: Nhấn mạnh nỗi đau khổ của nhân vật khi đối diện với tình cảnh "Cảnh còn người mất". Hoa đào vẫn nở, vẫn đẹp, nhưng người tri kỷ thì đã biền biệt phương xa, làm nổi bật sự khắc nghiệt của thời gian và định mệnh.

Câu 1: Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2: Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3: Tóm tắt:

Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4:

Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là: Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có hiện diện với hơi ấm của con người. Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của “Ngày xuân con én đưa thoi”. Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5: Hình ảnh “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi sự bất ngờ ngỡ ngàng, bàng hoàng và xen lẫn tiếc nuối. Cảnh cũ vẫn còn đó, hoa vẫn tươi cười trước gió đông như năm nào, nhưng người xưa thì đã đổi thay, không còn như trước. Qua sự đối lập giữa hoa vẫn tươi cười và lòng người đầy buồn bã, nhớ nhung, tác giả làm nổi bật nỗi xót xa, hụt hẫng của nhân vật trước cảnh cũ mà người xưa không còn. Cái tươi tắn của hoa càng làm nổi rõ sự mất mát và nỗi đau thương trong lòng người.



6 tháng 3

câu 1: văn bản thuộc thể loại thơ nôm

câu 2: lời nói của nhân vật kim trọng

câu 3: Sau nửa năm chịu tang, Kim Trọng quay lại vườn Thúy tìm Thúy Kiều. Cảnh cũ đã hoang vắng, không còn bóng người. Hỏi thăm hàng xóm, chàng biết Kiều đã bán mình chuộc cha và gia đình đã dời đi nơi khác. Kim Trọng đau đớn tìm đến nhà nhưng chỉ gặp Thúy Vân, nghe kể lại toàn bộ sự việc.

câu 4: Biện pháp tả cảnh ngụ tình cho thấy cảnh vườn hoang vắng, tiêu điều → qua đó thể hiện tâm trạng buồn bã, cô đơn, đau xót và tiếc nuối của Kim Trọng khi trở lại chốn cũ mà không còn gặp Kiều.

câu 5: Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi sự đối lập giữa cảnh vẫn như cũ nhưng người đã vắng bóng, qua đó thể hiện nỗi nhớ thương, tiếc nuối và cảm giác mất mát của Kim Trọng khi không còn gặp lại Thúy Kiều.

6 tháng 3

Câu 1 Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2 Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3 Tóm tắt: - Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều. - Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều. - Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4 - Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là: + Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người. + Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của

"Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5

- HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lí giải hợp lí. Chú ý những nội dung sau:

+ Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ.

+ Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

+ Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản:

Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

6 tháng 3

Câu 1 (0.5 điểm).

Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2 (0.5 điểm).

Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3 (1.0 điểm).

Tóm tắt các sự kiện chính:

• Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

• Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

• Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4 (1.0 điểm).

Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là:

• Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người.

• Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuôi của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của "Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5 (1.0 điểm).

Về hình ảnh thơ "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông":

• Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ.

• Gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

• Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản: Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.


6 tháng 3

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại Truyện thơ Nôm (viết theo thể thơ lục bát)

Câu 2: Văn bản chủ yếu là ngôn ngữ của người kể chuyện có đan xen ngôn ngữ của nhân vật (lời than vãn của Vương Quan/ông bà Vương)

Câu 3: Tóm tắt văn bản theo các sự kiện chính: Kim

Trọng sau nửa năm đi hộ tang chú ở Liêu Dương trở về Chàng vội vàng sang vườn Thúy tìm Kiều nhưng thấy cảnh tượng hoang tàn, vắng lặng Kim Trọng hỏi thăm hàng xóm và tìm đến nơi ở mới của gia đình họ Vương Tại đây, chàng bàng hoàng nghe tin gia đình Kiều gặp biến cố lớn, Kiều đã bán mình chuộc cha và trao duyên lại cho Thúy Vân. Kim Trọng đau đớn, xót xa tột độ trước nghịch cảnh trớ trêu

Câu 4: Y nghĩa: Đây là một hình ảnh mang tính điển tích. Hình ảnh này nhấn mạnh sự đối lập gay gắt giữa thiên nhiên và con người. Cảnh vật "hoa đào"vẫn đẹp, vẫn rạng rỡ như cũ, nhưng người con gái năm xưa đã không còn ở đó. Nó gợi lên cảm giác hụt hẫng, trống trải và dự cảm về một sự thay đổi đau lòng

Câu 5: Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích: Miêu tả cảnh vườn Thúy Kiều hoang vu (én liệng lầu không, cỏ lan mặt đất, rêu phong, gai góc...) Tác dụng: Khắc họa sự tàn phá của thời gian và biến cố đối với cảnh vật. Ngụ tình:

Thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng, đau xót và lo âu của

Kim Trọng. Cảnh vật hoang tàn như chính sự đổ vỡ trong niềm hy vọng và tình yêu của chàng.

6 tháng 3

Câu 1 . Thể loại: Truyện thơ Nôm. Câu 2 . Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông. Câu 3 . Tóm tắt: - Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều. - Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều. - Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than. Câu 4 . - Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là: + Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người. + Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của

"Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim. Câu 5 - HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lí giải hợp lí. Chú ý những nội dung sau: + Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ. + Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy. + Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản: Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

6 tháng 3

Câu 1

Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2

Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3

Tóm tắt:

- Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú, Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

- Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi, Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

- Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho

Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4

- Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là:

+ Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người.

+ Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn làmùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của

"Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5

- HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lí giải hợp lí. Chú ý những nội dung sau:

+ Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ.

+ Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

+ Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản:

Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

Câu 1 : Thể loại : Truyện thơ Nôm Câu 2 : Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông

Câu 3 :


Sự kiện 1: sau nửa năm về quê hộ tang chú Kim Trọng trở lại nơi trọ cũ và bấy ngờ khi thấy cảnh tiêu điều Sự kiện 2 : gặp người láng giềng Kim Trọng hỏi về Thúy Kiều và biết được cảnh ngộ nhà Kiều Sự kiện 3 : Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân chàng đau đớn khóc than Câu 4 : Tác dụng Gợi lên không gian hiu quạnh lạnh lẽo không có sự hiện diện hơi ấm của con người Thể hiện tâm trạng hoài niệm sót sa tiết nuối vẫn là mùa xuân cánh én nhưng không phải là mùa xuân cánh én vui tươi " Ngày xuân con én đưa thoi " sự hoài niệm của Kim trọng ngày càng được đối lập gây gắt nhấn mạnh nỗi đau sót tiết nuối không tả của chàng Kim

Câu 5 :

Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi nhớ kỉ niệm đẹp trong quá khứ. Hoa đào tượng trưng cho vẻ đẹp và niềm vui của ngày xưa, nhưng khi nhìn lại thì mọi thứ đã thay đổi, chỉ còn lại nỗi nhớ và sự tiếc nuối về những điều đã qua.


19 giờ trước (8:21)

Câu 1: truyện thơ Nôm

Câu 2: là lời của người kể chuyện

Câu 3: tóm tắt các sự kiện chính:

1. Sau nửa năm chịu tang chú ở Liêu Dương, Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều nhưng cảnh vật đã thay đổi, hoang tàn, vắng vẻ.

2. Kim Trọng hỏi thăm hàng xóm thì bàng hoàng nghe tin gia đình Kiều gặp biến cố: cha bị tù tội, Kiều đã bán mình chuộc cha và cả gia đình phải dời đi nơi khác trong cảnh nghèo khó.

3. Kim Trọng tìm đến nơi ở mới của gia đình Vương ông, thấy cảnh nhà rách nát, sa sút.

4. Thúy Vương (em trai Kiều) và gia đình kể lại chi tiết nỗi đau khổ và việc Kiều trao duyên lại cho Thúy Vân trước khi đi.

Câu 4: tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình:

- Nội dung: Miêu tả cảnh vườn Thúy hoang phế (én liệng lầu không, cỏ lan mặt đất, rêu phong, gai góc mọc đầy).

- Tác dụng:

+ Tái hiện sự tàn phá của thời gian và biến cố đối với cảnh vật vốn từng là nơi thề nguyền tươi đẹp.

+ Bộc lộ gián tiếp nỗi lòng đau xót, bàng hoàng và dự cảm chẳng lành của Kim Trọng. Cảnh vật hoang vắng chính là sự phản chiếu tâm trạng cô đơn, hụt hẫng của nhân vật khi mất đi người yêu.

Câu 5: Hiểu về hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông":

- Đây là một hình ảnh lấy ý từ câu thơ cổ của Thôi Hộ.

- Ý nghĩa: Hình ảnh này tạo ra sự đối lập gay gắt giữa thiên nhiên và con người. Hoa đào vẫn nở, gió đông vẫn thổi (cảnh cũ còn đó) nhưng người xưa (Thúy Kiều) nay đã vắng bóng.

- Cảm xúc: Câu thơ nhấn mạnh sự đổi thay đau lòng của số phận con người. Nó thể hiện nỗi tiếc nuối khôn nguôi và sự ngỡ ngàng của Kim Trọng trước thực tại nghiệt ngã: cảnh còn mà người mất.

19 giờ trước (8:00)

Câu 1

Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2

Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3 :

- Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú,

Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

- Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi,

Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

- Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin

Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4

- Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là:

+ Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người.

+ Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của "Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5:

- HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lí giải hợp lí. Chú ý những nội dung sau:

+ Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của

Thôi Hộ.

+ Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

+ Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản: Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

19 giờ trước (8:23)

Câu 1: truyện thơ nôm 

Câu 2: là lời của thúy kiều , kể lại và bọc lộ tâm trạng, số phận của mình 

Câu 3: kiều trở lại vườn thúy sau  nửa năm xa cách, cảnh cũ thay đổi,  hoang vắng,  hỏi thăm hàng xóm, biết tin gia đình gặp biến cố, kiều phải bán mình, kim trọng tìm đến,  gặp lại gia đình kiều,nghe kể lại toàn bộ sự việc đau lòng  

Câu 4: "sập sè én liệng..."

Là: gợi lên cảnh hoang tàn vắng vẻ của vườn cũ 

"cỏ lan mặt đất..."

Là: thể hiện tâm trạng buồn bã, tiếc nuối, cô đơn  của kiều khi trở lại nơi xưa  

"cuối tường gai góc..." 

Là: làm nổi bật sự đổi thay của thời gian và số phận con người     

  "cỏ lan mặt đất..."

 Cuối tường gai góc..." 

Câu 5:  gợi cảnh đẹp đẽ, tươi vui của quá khứ (khi kiều và kim trọng còn hạnh phúc) 

"hoa đào vẫn cười" nhưng con người đã đổi thay, tạo sự đối lập

thể hiện nỗi tiếc nuối, xót xa cho tình yêu và thời gian đã mất

19 giờ trước (8:13)

Câu 1 :

Thể loại : Truyện thơ Nôm

Câu 2 :

Lời của Kim Trọng kết hợp lời kể của tác giả

Câu 3:

Tóm tắt các sự kiện chính :

- Sau khi chịu tang , Kim Trọng trở lại vườn Thuý

-Cảnh cũ thay đổi , hoang vắng , không còn người xưa

-Kim Trọng hỏi thăm và biết gia đình Kiều gặp biến cố

- Biết Thuý Kiều đã bán mình chuộc cha , gia đình tan nát

-Kim Trọng đau đớn , xót xa ,tìm đến gia đình Kiều

-Gặp lại gia đình , nghe kể sự tình càng thêm đau khổ

Câu 4:

Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình :

Khắc hoạ hình ảnh hoang tàn vắng vẻ của vườn

Gợi sự thay đổi mất mát của khong gian xưa

Qua đó thể hiện tâm trạng buồn bã , cô đơn , nuối tiếc của Kim Trọng

Câu 5:

Theo em hiểu :

Hoa đào vẫn nở như cũ = thiên nhiên không thay đổi

Nhưng con người đã không còn = gợi sự chia ly , mất mát





19 giờ trước (8:10)

Câu 1

Thể loại: Truyện thơ Nôm.



Câu 2

Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.



Câu 3

Tóm tăt:

- Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú,

Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

- Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi,

Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

- Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kế rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.



Câu 4

- Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là:

+ Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người.

+ Thế hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của "Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.



Câu 5

- HS nêu ý hiểu về hình ảnh thơ và có lí giải hợp lí. Chú ý những nội dung sau:

+ Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ.

+ Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

+ Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản:

Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thần thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

19 giờ trước (8:26)

Câu 1: truyện thơ Nôm

Câu 2: là lời của nhân vật Kim Trọng và ông bà Vương Ông

Câu 3:-Kim Trọng chịu tang chú trở về, đến tìm Thúy Kiều- Gặp người láng giềng, kim trọng hỏi han mới biết hoàn cảnh của Thuý Kiều-Kim trọng đau khổ tìm đến nhà Vương viên ngoại để hỏi rõ sự tình

Câu 4:Tác dụng: -thể hiện tâm trạng cô đơn, hụt hẫn của kim trọng-Gợi lên cảnh hoang vắng, tiêu điều (én lẻ, cỏ mọc, rêu phong, gai góc)-Làm nổi bật sự thay đổi của thời gian và bi kịch tình yêu tan vỡ.

Câu5:Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi:-Cảnh đẹp mùa xuân năm trước-khi tình yêu Kim Trọng dành cho Thúy Kiều còn trong sáng và hạnh phúc-Sự đối lập với hiện tại hoang vắng -> nhấn mạnh nỗi tiếc nuối, xót xa trước cảnh cũ người mất ->Thể hiện tâm trạng đau đớn và nỗi nhớ da diết của Kim Trọng.


19 giờ trước (7:58)

Câu 1:

Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm


Câu 2:

Văn bản là lời của Thúy Kiều kể lại và bộc lộ tâm trạng với Kim Trọng.


Câu 3:

Tóm tắt:

Kim Trọng trở lại vườn xưa sau thời gian xa cách → cảnh vật hoang tàn, đổi khác → hỏi thăm mới biết Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình tan tác → Kim Trọng đau xót, đi tìm Kiều → gặp lại và nghe Kiều kể lại nỗi oan, cuộc đời lưu lạc.


Câu 4:

Tác dụng tả cảnh ngụ tình:

Cảnh hoang vắng, tiêu điều → gợi nỗi buồn, cô đơn, mất mát → thể hiện tâm trạng đau xót, tiếc nuối của con người


Câu 5:

Hình ảnh “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”:

→ Gợi quá khứ tươi đẹp, tình yêu xưa vẫn như còn đó

→ Đối lập với hiện tại đổi thay, con người đã vắng bóng

→ Thể hiện nỗi tiếc nuối, xót xa trước sự đổi thay của số phận.


19 giờ trước (7:58)

Câu 1

Thể loại: Truyện thơ Nôm.

Câu 2

Văn bản là ngôn ngữ của người kể chuyện và ông bà Vương Ông.

Câu 3

Tóm tắt:

- Sự kiện 1: Sau nửa năm về quê hộ tang chú,

Kim Trọng quay trở lại nơi trọ cũ và bất ngờ khi thấy phong cảnh tiêu điều.

- Sự kiện 2: Gặp người láng giềng sang chơi,

Kim Trọng hỏi han sự tình mới biết cảnh ngộ của gia đình Thúy Kiều.

- Sự kiện 3: Tìm đến nhà Vương Ông hiện tại, được nghe kể rõ ngọn ngành câu chuyện, biết tin Kiều trao duyên mình cho Thúy Vân, chàng đau đớn, khóc than.

Câu 4

- Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích là:

+ Gợi lên một không gian quạnh hiu, lạnh lẽo, không có sự hiện diện và hơi ấm của con người.

+ Thể hiện tâm trạng hoài niệm, xót xa, tiếc nuối của chàng Kim khi trở lại nơi cũ: Vẫn là mùa xuân, cánh én nhưng không phải là mùa xuân, cánh én rộn ràng, tươi tắn của "Ngày xuân con én đưa thoi". Sự hoài niệm của Kim Trọng càng đối lập gay gắt với hiện tại, nhấn mạnh nỗi đau xót, tiếc nuối khôn tả của chàng Kim.

Câu 5

+ Hình ảnh này được tác giả gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hộ.

+ Hình ảnh gợi lên sự bất ngờ, bàng hoàng xen lẫn chút tiếc nuối vì cảnh cũ vẫn đây mà người xưa không thấy.

+ Hình ảnh gợi lên sự trớ trêu, tương phản:

Hoa vẫn cười với gió đông, còn lòng người thì buồn bã, nhớ nhung, thẫn thờ. Cái tươi tắn của hoa gợi lên nỗi tàn héo trong lòng người.

16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

15
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Câu 1. (2,0 điểm)Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.            CHÂN QUÊ     Hôm qua em đi tỉnh về,     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!     Nào đâu cái yếm lụa sồi?     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?     Nào...
Đọc tiếp

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.

            CHÂN QUÊ

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.

     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

     Nào đâu cái yếm lụa sồi?

     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

     Nào đâu cái áo tứ thân?

     Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


     Nói ra sợ mất lòng em,

     Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

     Như hôm em đi lễ chùa,

     Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

     Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

     Thầy u mình với chúng mình chân quê.

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                      (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau đây: Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại. (Barack Obama)

10
19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:

Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.

Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.

Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.

Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.

19 tháng 9 2025

tặng mik mấy xu đi

1 xu cx đc nha

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.            Nghe lời khuyên nhủ thong dong,    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.           Rạng ra gửi đến xuân đường,    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.           Tiễn đưa một chén quan hà,    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.           Sông Tần một dải xanh xanh,    Loi thoi bờ liễu mấy cành...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

           Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
           Rạng ra gửi đến xuân đường,
    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
           Tiễn đưa một chén quan hà,
    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
           Sông Tần một dải xanh xanh,
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
           Cầm tay dài ngắn thở than,
    Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
           Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
           Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, 
    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
          Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
    Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
          Dù khi sóng gió bất bình,
    Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
          Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
    Lại mang những tiếng tày trời đến sau.
          Thương nhau xin nhớ lời nhau,
    Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
          Chén đưa nhớ bữa hôm nay, 
    Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
          Dặm hồng bụi cuốn chinh an, 
    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
          Người về chiếc bóng năm canh,
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
          Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

                                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

        Người về chiếc bóng năm canh,
   Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là gì?

Câu 5. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do. 

8
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.


Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.


Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ

Hai câu:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

  • Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
  • Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản

Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.


Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do

Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.

  • Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.

Câu 3.

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”

-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.

Câu 4.

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.

Câu 5.

-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.



(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

29
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Đoạn văn khoảng 200 chữ:

Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.


Câu 2. (4,0 điểm)

Bài văn khoảng 600 chữ:

Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.

Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.

Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.

Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.

Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.

21 tháng 12 2025

Zjkizox

16 tháng 9 2025

Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Thúy Kiều

Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, tình cảm sâu sắc nhưng phải chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời. Nhân vật vừa thể hiện vẻ đẹp nghiêm trang, dịu dàng, vừa toát lên sự thông minh, nhạy cảm, đặc biệt là trong cách đối nhân xử thế và cảm nhận nỗi đau, niềm vui. Thúy Kiều còn là biểu tượng của sự hy sinh, lòng trung hiếu và tình yêu chân thành, khi sẵn sàng chịu đựng gian truân để bảo vệ gia đình, trọn nghĩa với người thân và tình yêu. Qua đó, nhân vật phản ánh bi kịch của thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải đối mặt với những éo le, bất công, dù bản thân đầy phẩm chất tốt đẹp. Đồng thời, Thúy Kiều còn khơi gợi ở người đọc cảm xúc thương cảm và ngưỡng mộ, khiến bà trở thành hình tượng nhân vật trường tồn trong văn học Việt Nam. Nhân vật không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp và tài năng, mà còn là tấm gương về nhân cách, đức hy sinh và lòng trung trinh, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.


Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay

Trong xã hội hiện đại, lí tưởng sống là mục tiêu, phương hướng giúp mỗi người định hình hành động và phát triển bản thân. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, lí tưởng không chỉ là thành công về vật chất, mà còn là giá trị tinh thần, đóng góp cho cộng đồng và đất nước. Một thanh niên có lí tưởng sống đúng đắn sẽ biết học tập, rèn luyện, sáng tạo, lao động và tôn trọng đạo đức, đồng thời nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp, như: trở thành người có ích, đóng góp cho xã hội, bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị tích cực.

Lí tưởng còn giúp thanh niên vững vàng trước cám dỗ, thử thách và khó khăn, không bị lạc hướng bởi những trào lưu tiêu cực. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, thế hệ trẻ cần biết kết hợp kiến thức, kỹ năng và lòng nhân ái để vừa phát triển bản thân, vừa xây dựng cộng đồng tốt đẹp. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Trần Lập hay những bạn trẻ tham gia hoạt động thiện nguyện đã chứng minh rằng lí tưởng sống đúng đắn sẽ tạo ra những hành động đẹp, ý nghĩa.

Từ đó, có thể thấy rằng lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là sự trưởng thành cá nhân, mà còn là sứ mệnh xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái và tiến bộ. Mỗi thanh niên cần xác định mục tiêu, nuôi dưỡng đam mê và hành động tích cực mỗi ngày, để biến lí tưởng thành thực tế cuộc sống. Chính lí tưởng sống cao đẹp sẽ giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân, cống hiến và lan tỏa những giá trị tốt đẹp, góp phần làm cho xã hội ngày càng văn minh, nhân văn.

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thúy Kiều trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du hiện lên là một con người thấu tình đạt lí nhưng mang số phận mong manh, đau khổ. Trước hết, Kiều là người sống đàng hoàng, có ý thức đạo đức rõ ràng. Nàng chủ động khuyên Thúc Sinh trở về nhà, khuyên chàng phải nói rõ sự thật với Hoạn Thư, không nên “giấu ngược giấu xuôi”. Điều đó cho thấy Kiều không muốn dựa vào sự dối trá để níu giữ tình cảm, dù bản thân đang chịu nhiều thiệt thòi trong thân phận làm lẽ. Bên cạnh đó, qua những lời dặn dò, Kiều bộc lộ khát vọng hạnh phúc nhỏ bé: mong có một địa vị rõ ràng, một tình yêu được thừa nhận. Tuy nhiên, khát vọng ấy lại mong manh và đầy bất trắc, bởi chính Kiều cũng dự cảm về “sóng gió” đang chờ phía trước. Cảnh chia tay thấm đẫm nỗi buồn với hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi” đã khắc sâu nỗi cô đơn, đau đớn của nàng. Qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Câu 2.

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, lí tưởng sống luôn đóng vai trò quan trọng đối với thế hệ trẻ. Trong cuộc sống hôm nay – khi xã hội phát triển nhanh chóng, cơ hội và thách thức đan xen – việc xác định lí tưởng sống đúng đắn càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Lí tưởng của thế hệ trẻ là những giá trị, mục tiêu tốt đẹp mà người trẻ hướng tới để sống, học tập và cống hiến. Đó có thể là khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, sống có trách nhiệm với cộng đồng, hay không ngừng hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của bản thân. Lí tưởng không phải là những điều xa vời, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày.

Trong thực tế, lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay có nhiều biểu hiện tích cực. Nhiều bạn trẻ nỗ lực học tập, rèn luyện kĩ năng, làm chủ khoa học – công nghệ để đóng góp cho xã hội. Không ít người tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái. Bên cạnh đó, người trẻ ngày nay cũng mạnh dạn khẳng định bản thân, dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ chính đáng của mình.

So với thế hệ trẻ trong quá khứ, lí tưởng của người trẻ hôm nay vừa có sự tiếp nối vừa có sự thay đổi. Nếu thế hệ trẻ trước đây sống và chiến đấu vì lí tưởng độc lập, tự do của dân tộc, thì thế hệ trẻ ngày nay tiếp nối tinh thần ấy bằng việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Dù hoàn cảnh khác nhau, điểm gặp gỡ lớn nhất vẫn là khát vọng sống có ích và cống hiến cho xã hội.

Lí tưởng có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Lí tưởng là động lực thôi thúc người trẻ vượt qua khó khăn, là ngọn đuốc soi đường giúp họ không lạc lối giữa những cám dỗ của đời sống hiện đại. Một người trẻ sống có lí tưởng sẽ biết trân trọng thời gian, sống có trách nhiệm và biết hướng đến những giá trị bền vững.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lí tưởng, chạy theo hưởng thụ, sống thực dụng. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự nhận thức và tự rèn luyện, đồng thời gia đình, nhà trường và xã hội cần có vai trò định hướng đúng đắn.

Tóm lại, việc xác định lí tưởng sống đúng đắn chính là nền tảng để thế hệ trẻ khẳng định giá trị bản thân và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống, học tập và cống hiến vì những mục tiêu cao đẹp.

17 tháng 9 2025

e

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):

Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:

“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”

Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (600 chữ):

Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.

Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.

Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.

Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.