(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

<...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

CÂY TRE TRĂM ĐỐT

Ngày xưa, ở làng kia có một lão nhà giàu. Lão thuê một anh nông dân nghèo, khoẻ mạnh để cày ruộng cho lão. Lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lại keo kiệt. Lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân, vì thế lão suy tính ngày đêm. Cuối cùng thì lão đã nghĩ ra một kế để lừa anh. Lão nhà giàu cho gọi anh nông dân đến và dỗ dành:

– Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm. Hết thời gian đó, ta sẽ cho anh cưới con gái ta.

Anh nông dân thật thà tin ngay vào lời của lão. Hết vụ lúa mùa đến vụ lúa chiêm, không quản nắng mưa, sương gió, anh chăm chỉ cày bừa trên cánh đồng của lão nhà giàu. Mỗi mùa gặt, anh thu về cho lão ta rất nhiều thóc lúa. Nhà lão đã giàu lại càng giàu hơn nữa.

Thấm thoắt ba năm đã trôi qua, thời hạn làm thuê của anh nông dân cũng đã hết. Lão nhà giàu không muốn cho anh nông dân nghèo khổ cưới con gái của mình, lão lại tìm mưu kế để đánh lừa anh. Lão nhà giàu gọi anh đến và bảo:

– Con ơi, bấy lâu nay con đã chăm chỉ làm việc, ta sẽ cho con cưới con gái ta. Bây giờ, con phải vào rừng tìm cho được cây tre trăm đốt, đem về đây để làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới.

Anh nông dân thật thà, vác dao đi ngay vào rừng để chặt tre.

Đợi anh nông dân đi khỏi làng, lão nhà giàu bèn gả con gái lão cho một tên nhà giàu khác ở trong làng. Lão cho giết bò, giết lợn, nấu xôi, mở rượu làm cỗ cưới thật là linh đình.

Trong khi lão nhà giàu làm cỗ thì anh nông dân một mình lang thang trong rừng. Anh ngả hết cây tre này đến cây tre khác. Anh cẩn thận đếm từng đốt trên các cây tre nhưng chẳng cây nào có đủ một trăm đốt. Vẫn chưa nản lòng, anh lại tìm đến bụi tre già, anh cố chặt một cây cao nhất, mặc cho gai làm rách cả áo, xước cả da, cây tre đổ xuống, anh đếm đi, đếm lại vẫn chỉ có hơn bốn mươi đốt. Anh buồn quá, ngồi bên đống tre đốn dở và khóc. Bỗng nhiên anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khoan thai đi đến, ông lão hỏi anh:

– Làm sao cháu khóc?

Anh lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong ông lão nói:

– Cháu hãy đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang lại đây, ông sẽ giúp cháu.

Anh nông dân mừng quá, liền chặt đủ một trăm đốt tre đem đến cho ông lão. Ông lão chỉ tay vào đống tre và bảo anh đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần. Lạ thay, anh vừa đọc xong thì một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Ông lão căn dặn anh:

– Cháu không thể vác cây tre này về nhà được vì nó quá dài cháu ạ. Cháu hãy đọc ba lần câu "Khắc xuất, khắc xuất", các đốt tre sẽ rời ra như cũ. Cháu hãy bó lại và đem về nhà.

Anh nông dân chưa kịp cảm ơn ông lão thì ông lão đã biến mất. Anh đành vác hai bó tre đi về làng.

Về tới nơi, thấy mọi người đang ăn uống vui vẻ, anh nông dân mới biết lão nhà giàu đã lừa dối anh. Anh lẳng lặng để bó tre ngoài sân rồi vào nhà gọi lão nhà giàu ra nhận. Lão nhà giàu không thấy tre, mà chỉ thấy toàn là đốt tre. Lão cười bảo anh:

– Tao bảo mày chặt đem về một cây tre có trăm đốt, chứ có bảo mày đem về một trăm đốt tre đâu?

Chẳng cần trả lời lão, anh lẩm nhẩm đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Lão nhà giàu nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Anh nông dân thấy vậy đọc luôn "Khắc nhập, khắc nhập", lão nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Thấy vậy mấy tên nhà giàu khác chạy tới định gỡ cho lão, anh nông dân lại đọc "Khắc nhập, khắc nhập" thế là cả bọn lại bị dính hết vào cây tre. Lão nhà giàu ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới khoan thai đọc "Khắc xuất, khắc xuất" ba lần, tức thì cả bọn nhà giàu rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới cô con gái lão nhà giàu làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.

(Trích Truyện dân gian Việt Nam, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại nào?

Câu 2. Chỉ ra nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện của văn bản "Cây tre trăm đốt".

Câu 3. Hãy chỉ ra các chi tiết hoang đường, kì ảo được sử dụng trong văn bản. Theo em, các chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản có vai trò gì?

Câu 4. Nhân vật anh nông dân trong văn bản có những phẩm chất gì đáng quý? Phẩm chất đó được thể hiện qua những chi tiết nào?

Câu 5. Qua nội dung câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ gì? Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về ước mơ đó trong khoảng 5 − 7 dòng.

37
6 tháng 2

Câu 1. Thể loại: Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại truyện cổ tích (cụ thể là cổ tích thần kỳ).

Câu 2. Nhân vật phản diện: Nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện là lão nhà giàu. Lão đại diện cho sự tham lam, gian xảo và bội ước.

Câu 3. Chi tiết kì ảo và vai trò:

- Các chi tiết kì ảo: * Sự xuất hiện của ông Bụt (ông lão đầu tóc bạc phơ).

+ Hai câu thần chú "Khắc nhập, khắc nhập" và "Khắc xuất, khắc xuất".

+ Các đốt tre tự động dính liền thành một cây tre dài và tự rời ra theo lời đọc.

+ Lão nhà giàu và những tên khác bị dính chặt vào cây tre.

- Vai trò: * Giúp giải quyết những mâu thuẫn mà nhân vật chính không thể tự giải quyết bằng sức mạnh bình thường.

+ Thể hiện sự phù trợ của lực lượng siêu nhiên đối với những người hiền lành, lương thiện.

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, thú vị và giàu trí tưởng tượng.

Câu 4. Phẩm chất của anh nông dân:

- Thật thà, chất phác: Anh tin ngay vào lời hứa của lão nhà giàu và đi vào rừng tìm cây tre trăm đốt mà không chút nghi ngờ.

- Chăm chỉ, chịu khó: Anh làm việc suốt ba năm ròng rã "không quản nắng mưa, sương gió", "ngả hết cây tre này đến cây tre khác" để thực hiện yêu cầu.

- Kiên trì, nhẫn nại: Dù tìm mãi không thấy cây tre trăm đốt, anh vẫn không nản lòng, cố tìm đến những bụi tre già nhất.

Câu 5. Ước mơ của tác giả dân gian và suy nghĩ cá nhân:

Ước mơ: Tác giả dân gian gửi gắm ước mơ về sự công bằng trong xã hội: "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo". Người nghèo khổ, hiền lành sẽ được hạnh phúc, kẻ tham lam, xảo quyệt sẽ bị trừng trị.

Suy nghĩ về ước mơ (Đoạn văn 5-7 dòng):Ước mơ về sự công bằng qua triết lý "Ở hiền gặp lành" trong truyện "Cây tre trăm đốt" là một khát vọng nhân văn sâu sắc của người lao động xưa. Trong một xã hội đầy rẫy bất công, khi người nghèo bị áp bức, họ chỉ biết gửi gắm niềm tin vào sức mạnh của thần linh để tìm lại công lý. Ước mơ này không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn là bài học đạo đức quý giá cho đến ngày nay. Nó nhắc nhở chúng ta sống lương thiện, chân thành và tin tưởng rằng những nỗ lực chính đáng sẽ luôn được đền đáp xứng đáng. Đồng thời, đây cũng là lời cảnh báo cho những kẻ sống ích kỷ, lừa lọc sẽ phải nhận lấy hậu quả tương xứng.

Câu 1

Cây tre thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2

-Nhân vật phản điện là lão nhà giàu

Câu 3

Các chị tiết hoang đường kì ảo trong câu truyện là: sự xuất hiện của bụt,câu thần chú "khắc nhập, khắc nhập",câu thần chú"khắc xuất ,khắc xuất".

Tác dùng của các chị tiết hoang đường kì ảo:

Giúp câu truyện chở lên cuốn hút và hấp dẫn người đọc,người nghe hơn

Thể hiện ước mơ công lí về xã hội công bằng mà ở đó cái thiện lười nhác chiến thắng cái ác

Thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải mâu thuẫn chính của truyện

Câu 4

Phẩm chất đáng quý của nhân vật là:Cần cù chăm chỉ,thật thà chất phác

Câu 5

Trong câu truyện tác giải muốn gửi gắm ước mơ mơ trong câu truyện là một đất nước công bằng những người làm việt tốt hay việc thiện đều được đền đáp còn những người làm việc ác thì sẽ phải trả giá cho việc làm của mình



11 tháng 3

Câu 1

14 tháng 3

Câu 1

-câu chuyện thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2

-nhân vật phản diện là: lão nhà giàu

Câu 3

-những chi tiết kỳ ảo là : sự xuất hiện của ông lão(bụt) để giúp đỡ anh nông dân

-câu thần chú "khắc nhập ,khắc nhập"có khả năng giúp các đốt tre dính vào nhau.

Câu 4

-những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân là: cần cù, chăm chỉ, thật thà, chất phát, hiền lành.

Câu 5

-ước mơ có sức mạnh thần kỳ để chống lại cái ác, cái bớt công trong cuộc sống

14 tháng 3

C1juggling hữu dụng cho người dùng thì phải có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì cũng nên có cái gì  

Câu1

Truyện cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu2

Nhân vật thuộc tuyến phản diện trong câu chuyện cây tre trăm đốt là lão nhà giàu

Câu3

Những chi tiết hoang đường,kì ảo có trong văn bản:

-Sự xuất hiện của ông Bụt

-Đọc câu thần chú"Khắc nhập,khắc nhập"làm các cây tre dính vào nhau

-Câu thần chú"Khắc xuất,khắc xuất"để các cây tre tách rời

Tác dụng của các yếu tố hoang đường,kì ảo:

-Giúp cho câu chuyện trở nên cuốn hút và hấp dẫn người đọc,người nghe

-Thể hiện ước mơ công lí và muốn nói cái thiện luôn chiến thắng cái ác

Câu4

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân:

-Chăm chỉ,cần cù:Anh làm việc quần quật cho nhà lão giàu ba năm

-Thật thà,chất phác:Anh bị lão nhà giàu lừa hết lần này đến lần khác mà không hề nghỉ ngờ

Câu5

-Qua câu chuyện,tác giả dân gian muốn gửi tới chúng ta ước mơ:

-Ước mơ về một thế giới toàn người thật thà,lương thiện

-Ước mơ có sức mạnh chống lại cái ác,bảo vệ cho cái thiện và sẽ không bao giờ bị xã hội chèn ép




14 tháng 3

1 truyện cổ tích

2 lão nhà giàu

3 sự xuất hiện của ông lão với đầu tóc bạc phơ da dẻ hồng hào để giúp đỡ anh nông dân khi anh đang khóc vì tuyệt vọng

4 cần cù chăm chỉ anh làm việc quần quân cho ông lão nhà giàu






14 tháng 3

Câu 1:

Truyện cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

câu 2:

Ông lão nhà giàu

Câu 3:

Chi tiết kì ảo là ông bụt,nói khắc nhập khắc xuất là cây tre sẽ tự dựng cho người dính vào và thả người ra

Câu 1 cổ tích

Câu 2 lão nhà giàu

Câu 3 ông lão bụt và câu thần chú

Câu 4 người anh chăm chỉ cần cù làm cho lão nhà giàu

Câu 5 ước có sức mạnh để chống lại sức mạnh bất công của thế giới sã hội

15 tháng 3

Cổ tích

  Chính diện

Cây chế trăm đốt


Câu 1 chuyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện là lão thuê

Câu 3 Chi tiết kì ảo là người đàn ông chỉ tay vào 100 cây tre nói khắc nhập,khắc nhập thì 100 cây dính liền vào nhau,chi tiết hoang đường kì ảo làm cho câu văn thêm hay hơn.

Câu 4 Nhân vật anh nông dân có những phẩm chất đáng quý: Chăm chỉ, thật thà, hiền lành. Kiên nhẫn, chịu khó làm việc. Chi tiết thể hiện: Anh làm việc vất vả cho phú ông nhiều năm mà không than phiền, vẫn cố gắng đi tìm cây tre trăm đốt theo lời phú ông

Câu 5Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ về công bằng trong cuộc sống. Người hiền lành, chăm chỉ sẽ được giúp đỡ và có hạnh phúc. Ngược lại, những kẻ tham lam, gian dối sẽ bị trừng phạt thích đáng. Câu chuyện cũng khuyên con người nên sống thật thà, lương thiện và chăm chỉ lao động. Em thấy đây là một ước mơ đẹp và rất ý nghĩa của người xưa.

Câu 1 câu chuyện thuộc thể loại truyện cổ tích câu 2 nhân vật ông lão giàu câu 3 ông bụt hiện ra câu 4 anh nông dân làm việc quần quật vất vả câu 5 qua câu chuyện em hiểu được cần phải biết chăm chỉ cần cù mới làm nên được

Câu 1

Truyện cổ tích

Câu 2

Nhân vật thuộc tuyến phản diện trong văn bản cây tre trăm đốt và lão già

Câu 3

15 tháng 3

Cây tre trăm đốt

Câu 1. - Thể loại: truyện cổ tích

Câu 2. Ông lão nhà giàu trong tuyến nhân vật phản diện.

Câu 3. *Những chi tiết hoang đường kỳ ảo là:

-Sự xuất hiện của ông bụt tóc trắng, má hồng.

-Câu thần chú: "khắc nhập, khắc nhập" cho cây tre dính vào với nhau để thành 100 đốt.

-Câu thần chú: "khắc xuất, khắc xuất" để cho cây tre rời ra.

*Tác dụng:

-Giúp cho câu văn trở nên cuốn hút người đọc, người nghe hơn.

-Thể hiện sự công lý về cái thiện, cái ác.

Câu 4. Những phẩm chất của anh nông dân là:

-Cần cù, chăm chỉ.

-Thật thà, chất phác.

Câu 5.

-Ước mơ về một công bằng xã hội.



Câu 1: văn bản thuộc thể loại truyện cổ tích 

Câu 2: nhân vật thuộc tuyến phản diện trong văn bản là lão nhà giàu

Câu 3: những chi tiết hoang đường kì ảo trong văn bản : 

- sự xuất hiện của ông lão (bụt ) với đầu tóc bạc phơ da dẻ hồng hào để giúp đỡ anh nông dân khi đang khóc trong tuyệt vọng  

- câu thần chú "khắc nhập ,khắc nhập "có khả năng làm cho 100 đốt tre dính liền lại với nhau thành 1 cây tre hoàn chỉnh

- câu thần chú khắc xuất khắc xuất có khả năng làm cho cây chia tách rời như cũ   

-tác dụng: giúp câu văn trở lên cuốn hút và hấp dẫn người đọc người nghe hơn

-Thể hiện ước mơ Công Lý về xã hội công bằng mà ở đó cái thiện luôn có chiến thắng cái ác

- thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải quyết mâu thuẫn chính của truyện 

Câu 4: những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân  

Cần cù chăm chỉ :anh làm việc quần quật cho nhà lão nhà giàu suốt ba năm không quản nắng mưa sương gió      

Thật thà chất phác: Anh tin lời của lão nhà giàu bị lừa hết lần này đến lần khác không hề nghi ngờ. khi được giao nhiệm vụ vào rừng tìm tre trăm đốt Anh cũng vác dao đi ngay

Câu 5:

- ước mơ về một xã hội công bằng lơ những người lao động hiền lành thật thà không phải chịu bất công lừa dối

-Ước mơ có sức mạnh thần kỳ để chống lại cái ác cái bất công trong xã hội

15 tháng 3

câu 1 cây tre 100 đốt thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện trong truyện cây tre trăm đốt là gã nhà giàu

Câu 3 những chi tiết cơ cấu kỳ ảo là xuất hiện một ông lão tóc trắng bạc phơ để giúp đỡ anh nông dân

Câu 4 Cần cù, chăm chỉ: Anh làm việc quần quật cho lão nhà giàu suốt ba năm, "không quản nắng mưa, sương gió".Thật thà, chất phác: Anh tin lời nói của lão nhà giàu, bị lừa hết lần này đến lần khác mà không hề nghi ngờ. Khi được giao nhiệm vụ vào rừng tìm tre trăm đốt, anh cũng vác dao đi

câu 5 em nghĩ mọi người lừa dối lẫn nhau và sống để cho một giới không có những sự lừa dối


Em mong trên thế giới có nhiều người hiền lành sẽ có nhiều sự may mắn để bới đi nhiều khó khăn

Câu 1 : Văn bản thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện trong truyện là lão nhà giàu ông chủ não là người tham lam xảo quyệt đã lừa gạt anh nông dân hiền lành để quỵt công và không thực hiện lời hứa gả con gái

Câu 3 các chi tiết Kỳ ảo sự xuất hiện của bụt khi anh nông dân khóc câu thần chú khắc nhập khắc nhập làm các đốt tre dính liền thành cây tre trăm đốt và khắc suốt khắc suốt làm các đốt tre rời ra

Vai trò giúp cốt truyện thêm hấp dẫn ly kỳ và lôi cuốn người đọc thể hiện sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên đối với những người hiền lành lương thiện khi họ gặp bế tắc giúp giải quyết mâu thuẫn xung đột trừng trị kẻ ác và mang lại kết thúc có hậu

Phẩm chất cần cù chịu khó thật thà và hiền lành có phần chất phác tin người chi tiết thể hiện cần cù chịu khó anh làm việc quần quật cho não nhà giàu suốt 3 năm trời không quản ngại nắng mưa vất vả để mong được lấy con gái não thật thả tim người khi não nhà giàu hứa gả con gái với điều kiện tìm được cây tre trăm đốt Anh đã tin lời và lập tức vào rừng thì kiếm mà không hề nghi ngờ sự lừa lọc của lão

Câu 5 ước mơ tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ về công lý xã hội ở hiền gặp lành ác giả ác báo người nghèo khổ hiền lành sẽ được giúp đỡ và hạnh phúc còn kẻ tham lam gian ác sẽ bị trừng phạt

Đoạn văn tham khảo 5 đến 7 dòng

Ước mơ về sự công bằng ở hiền gặp này trong truyện cây tre trăm đốt là một khát vọng nhân văn sâu sắc của nhân dân lao động xưa qua hình ảnh anh nông dân nhận được sự giúp đỡ của bụt để cưới được vợ em cảm nhận được niềm tin mãnh liệt của ông cha ta vào lẽ phải dù cuộc sống có nhiều bất công và khó khăn nhưng nếu chúng ta giữ vững sự lương thiện và lòng kiên trì điều tốt đẹp chắc chắn sẽ đến ước mơ này không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn là bài học giáo dục đạo đức quý giá cho mỗi chúng ta hôm nay về lối sống trung thực và tử tế


Câu 1 cây tre thuộc thể loại truyện cổ tích

Câu 2 nhân vật phản diện là lão nhà giàu

Câu 3 thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện giúp giải mâu thuẫn chính của truyện

Câu 4 phẩm chất đáng quý của nhân vật là cần cù Chăm chỉ thật thà chất

Cô Lâm trong câu chuyện tác giảmuốn gửi gắm ước mơ trong câu chuyện là một đất nước công bằng những người làm việc tốt hay việc thiện đều đều được đền đáp còn những người làm việc ác thì sẽ phải trả giá cho việc làm của mình

Câu1

Cây tre trăm đốt thuộc thể loại truyện cổ tích.

Câu2:

Nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện trong văn bản là lão nhà giàu.

Câu3:

Những chi tiết hoang đường kì ảo trong văn bản:

-sự xuất hiện của ông Bụt.

-các câu thần chú làm tre dính liền và có thể tách ra tùy ý.

Tác dụng của nhũng chi tiết đó:

-giúp trở nên cuốn hút và hấp dẫn.

-thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện.

Câu4:

Những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân:

-cần cù chăm chỉ,làm việc quần quật suốt 3 năm.

-thật thà,chất phát.

Câu5:

Ước mơ về một xã hội coing bằng,nơi nhũng người lao động thật thà không phải chịu bấy công lừa dối.

15 tháng 3

Câu 1: Cây tre trăm đốt thuộc thể loại Truyện Cổ Tích.

Câu 2: Nhân vật thuộc tuyến Phản diện trong truyện là : "Phú Ông"

Câu 3: " Khắc nhập khắc xuất"

Câu 4: Anh nông dân có những phẩm chất đáng quý: " Chăm chỉ, hiền lành, thật thà và kiên trì.

Câu 5: Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm mơ ước công bằng trong dân gian

16 tháng 3

Qua câu chuyện"cây tre trăm đốt", tác giả dân gian gửi gắn ước mơ về công lí xã hội:"ở hiền gặp lành". câu chuyện thể hiện hát vọng của người lao động nghèo, chăm chỉ, thật thà sẽ chiến thắng kẻ tham lam, độc ác, được giúp đỡ để có hạnh phúc bền vững.

C1 thể loại truyện cổ tích

C2 nhân vật phản diện trong cây tre trăm đốt là lão nhà giàu

16 tháng 3

Thể loại cổ tích

Của lão nhà giàu

Anh khóc vì tuyệt vọng



17 tháng 3

Cậu bé đã rất hối han

20 tháng 3

1 là truyện cổ tích đân gian

2 là lão nhà giàu,con gái

3 ôcác chi hoamg. đưưng kì ảo là:ông bụt hiện nên giúp anh Khoai, caau thần chú, và cây tre trăm đốt tự nối liền vào nhau. Vai trò của câu hoang đường kì ảo là phát triền cốt truyện hiên ươc mơ về công lí trồng trị người tham lam đền đáp cho người hiền lành

4 Nhừng phẩm chất đáng quý của người anh nông đân là:

Câu1 cô tích

Câu2 qhan diêt

Câu3 sụ xuân hiên cua ông lão

Câu4 cân cù xiêng năng thât thà

Câu5 ươc mơ về một xã hội mạnh


22 tháng 3

Câu 1 : Truyện cổ tích

Câu 2: Là phú ông

Câu 3: Về phần kết bài

Câu 4: Cở phẩm chất : Tốt bụng , hiền lành , trung thực , thật thà và trung thành

Câu 5 :Tác giả muốn gửi gắm ước mơ công bằng cho nhân dân


Câu 1

Thể loại truyện cổ tích

Câu 2

Chính diện: anh nông dân

Phản diện: lão nhà giàu

28 tháng 7 2020

câu c sai quan hệ từ mà, thay bằng nên

28 tháng 7 2020

a, Tôi rất yêu mẹ tôi vì mẹ là người đã chăm sóc tôi từ thuở lọt lòng.

b,Bài văn đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của tác giả.

c,Lão cố tỏ ra vui vẻ nhưng thực ra lão rất nhớ thương chú chó vàng của lão. Vì lão ốm nên mới phải bán chú đi.

d,Các chiến sĩ đã hi sinh anh liệt để bảo vệ đất nước.

còn lại mình không nghĩ ra

  

Ngày xưa, ở đất Cao Bằng, có một người tiều phu mộc mạc hiền lành và hiề lành .  Anh có một bà mẹ già hay đau ốm Thầy thuốc bảo là cần có sữa nai tẩm bổ, mới mong chữa lành bệnh cho mẹ. Anh không quản ngại khó khăn, mỗi ngày vào rừng quyết tâm đi tìm kiếm sữa nai về cho mẹ, nhưng rất khó vì vừa thấy bóng người, nai đã bỏ chạy mất rồi. Không lấy được sữa nai, người...
Đọc tiếp

Ngày xưa, ở đất Cao Bằng, có một người tiều phu mộc mạc hiền lành và hiề lành .  Anh có một bà mẹ già hay đau ốm Thầy thuốc bảo là cần có sữa nai tẩm bổ, mới mong chữa lành bệnh cho mẹ. Anh không quản ngại khó khăn, mỗi ngày vào rừng quyết tâm đi tìm kiếm sữa nai về cho mẹ, nhưng rất khó vì vừa thấy bóng người, nai đã bỏ chạy mất rồi. Không lấy được sữa nai, người tiều phu buồn bực, không dám về nhà. Anh ngồi giữa rừng ôm mặt khóc. Bỗng nhiên, thấy có một ông lão chống gậy đến bảo rằng: “Nếu con muốn có sữa nai thì phải mang lốt nai, mới đến gần loài nai được”. Rồi ông lão trao cho anh tiều phu một bộ da nai khoác vào người. Anh làm theo và quả nhiên, sau đó, anh lại gần được các con nai cái, vắt được nhiều sữa đem về nhà chữa bệnh cho mẹ già.

a, Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản

b, Giải nghĩa từ tiều phu

c, Chỉ ra cụm danh từ trong câu văn in đậm

d, Nhân vật tiều phu trong đoạn trích có phẩm chất gì em cần học tập ?

 

1
2 tháng 1 2020

1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là tự sự.

2. Tiều phu: người đi đốn củi.

3. Cụm danh từ trong câu in đậm: một bà mẹ già.

4. Phẩm chất của người tiều phu đáng học tập là: hiếu thảo.

12 tháng 2 2020

- Đây là câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự quan tâm chia sẻ đối với những người bất hạnh, nghèo khổ. Câu chuyện thể hiện tình thương của gia đình nọ với ông lão mù, nghèo khổ và đặc biệt là tình thương của ông lão với những người khác bất hạnh hơn mình. Đối với ông lão những bộ quần áo cũ là món quà mà ai đó đã trao tặng cho mình nhưng món quà ấy còn quý giá hơn khi mà ông trao nó cho người khác - những người thực sự cần nó hơn ông. Trong con người bất hạnh nghèokhổ ấy là một tấm lòng nhân ái, sau đôi mắt mù lòa ấy là một tâm hồn trong sáng, cao đẹp. Đối với ông lão được giúp đỡ người khác như một bất ngờ thú vị của cuộc sống, là niềm vui, niềm hạnh phúc tràn ngập tâm hồn
-bài học sâu sắc tình thương

  • Ngay cả khi phải sống cuộc sống nghèo khổ hay chịu sự bất hạnh thì con người vẫn cần biết quan tâm đến người khác, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh hơn mình và tình yêu thương giữa con người với con người là không phân biệt giàu nghèo, giai cấp…
  • Được yêu thương, giúp đỡ người khác chính là niềm vui, nguồn hạnh phúc, ý nghĩa của sự sống và là cách nâng tâm hồn mình lên cao đẹp hơn.
  • Đừng bao giờ thờ ơ, vô cảm trước nỗi khổ đau, bất hạnh của người khác, đừng vì nghèo khổ hay bất hạnh mà trở nên hẹp hòi ích kỷ, sống trái với đạo lý con người: Thương người như thể thương thân


-Xác định thái độ của bản thân:

  • Đồng tình với thái độ sống có tình thương và trách nhiệm với mọi người, khích lệ những người biết mở
  • #Châu's ngốc
14 tháng 3 2021

hay đấy nhưng hơi ngắn tại bọn mk là HSG nên cần phải viết hơn mặt cơ.cảm ơn

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

2

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3

bn đi ôn tập để thi HSG à???

tối mk trả lời cho nha bài này cô chữa cho mk rồi

16 tháng 4 2019

Nguyễn Quỳnh Trang gửi cho mk đi

A. Văn Bản   Một ngày, hai ngày trôi qua, Chân, Tay, Tai, Mắt chẳng làm gì cả. Nhưng lạ thay, họ không thấy vui tươi, nhàn nhã mà lại thấy mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân, cậu Tay chẳng cất nổi mình để chạy nhảy, nô đùa như trước nữa. Cô Mắt thì suốt ngày lờ đờ, hai mí nặng trĩu. Bác Tai mọi ngày nghe gì cũng rõ, nay lúc nào cũng cảm thấy như có cái cối xay lúa quay ù ù ở bên trong. Họ...
Đọc tiếp

A. Văn Bản 

  Một ngày, hai ngày trôi qua, Chân, Tay, Tai, Mắt chẳng làm gì cả. Nhưng lạ thay, họ không thấy vui tươi, nhàn nhã mà lại thấy mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân, cậu Tay chẳng cất nổi mình để chạy nhảy, nô đùa như trước nữa. Cô Mắt thì suốt ngày lờ đờ, hai mí nặng trĩu. Bác Tai mọi ngày nghe gì cũng rõ, nay lúc nào cũng cảm thấy như có cái cối xay lúa quay ù ù ở bên trong. Họ cứ sống trong tình trạng như thế cho tới ngày thứ bảy thì không thể chịu đựng được nữa, đành họp nhau lại để bàn. Bác Tai cố cất tiếng: – Chúng ta suy nghĩ và hành động sai lầm rồi các cháu ạ! Chúng ta không làm để kiếm thức ăn nuôi lão Miệng thì chúng ta cũng tê liệt cả. Lão Miệng tuy không làm nhưng lão có công việc là nhai. Như thế cũng là làm việc chứ không phải ăn không ngồi rồi. Từ trước đến nay, chúng ta sống gắn bó thân thiết với nhau, nay tự dưng lại gây nên chuyện. Lão Miệng có cái ăn thì chúng ta mới khoẻ khoắn lên được. Theo ý bác, chúng ta nên đến nói lại với lão Miệng, các cháu có đi không?

B. Bài Tập 

 

Bài 1 : Mối quan hệ giữa Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng cho em suy nghĩ về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng ?

Bài 2 : Kể tên một số truyện ngụ ngôn em đã học hoặc đã đọc. Nêu bài học đạo đức rút ra từ những câu chuyện ngụ ngôn đó. 

Bài 3 : Tìm một số câu tục ngữ khuyên răn con người nên đoàn kết, hợp tác với nhau trong cuộc sống 

1
26 tháng 6 2018

Trong những bài học mà cha ông ta vẫn truyền lại cho thế hệ trẻ có bài học về sự đoàn kết giữa cá nhân và tập thể. Không có cá nhân tách biệt, cũng không có tập thể mà chỉ có một người. Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể vẫn biểu hiện rất rõ trong cuộc sống của mỗi người. Câu chuyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” đã phản ánh được đúng đắn mối quan hệ gắn bó ấy. Cha ông ta đã kín đáo gửi gắm quan niệm sống cũng như bài học qua câu chuyện dân gian hàm chứa ý nghĩa sâu sắc này.

“Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là câu chuyện hài hước, dí dỏm kể về cuộc sống của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng. Chỉ vì sự ganh ghét, đố kị của cô Mắt đã dẫn đến tình huống cả bọn cùng tẩy chay lão Miệng, vì nghĩ rằng lão Miệng không phải làm gì nhưng cũng được hưởng thụ mọi miếng ngon ở trên đời. Suy nghĩ của cô Mắt đã khiến cho cậu Chân, cậu Tay và bác Tai cùng đồng tình ủng hộ.

Và diễn biến câu chuyện cứ thế trở nên phức tạp hơn. Khi nghe sự giải thích của cô Mắt thì tất cả mọi người đều tìm đến lão Miệng và nói “Từ nay chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay chúng tôi đã cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi”. Mặc dù câu nói thể hiện sự tức giận, bực mình, bức bội bấy lâu nay nhưng suy nghĩ của cô Mắt không phải là không có lí. Vì cô Mắt chỉ nghĩ rằng lão Miệng không phải làm việc vất vả gì, chỉ việc ăn nên gây ra sự ghen ăn tức ở là đúng. Nhưng cô Mắt đã không biết rằng lão Miệng cũng làm, việc mà lão làm hằng ngày chính là nhai thức ăn, giúp nuôi sống cơ thể, để cho các bộ phận khác trên cơ thể có thể khỏe mạnh để hoạt động được.

Tuy nhiên lời giải thích của lão Miệng không được ai lắng nghe và đồng cảm. Sự rạn nứt, tan vỡ của các bộ phận trên cơ thể người cũng từ đó mà hình thành. Một tập thể từng hòa thuận, đoàn kết với nhau giờ bị tách biệt, chia bè kéo cánh.

Và chính suy nghĩ phiến diện của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai đã dẫn đến nhiều hậu quả tai hại, và cái giá mà họ phải trả cũng rất đắt. Vì không phải làm việc để nuôi lão Miệng nên các bộ phận đó trở nên uể oải, mệt nhọc, không có động lực và tinh thần làm việc. Cậu Chân, cậu Tay cũng không vận động, chạy nhảy nhiều như trước nữa. Cô Mắt không còn tinh anh, suốt ngày mệt mỏi. Tất cả mọi người đều rơi vào trạng thái mệt mỏi, không thiết tha làm việc. Đây chính là hậu quả mà cả bọn phải trả giá, và việc họp nhau bàn lại mọi chuyện cũng xuất phát từ đây.

Bác Tai là người lớn tuổi nhất, đã ngộ ra điều mà bấy lâu nay mọi người vẫn nghĩ không đúng. Bác đã giải thích cho mọi người “Chúng ta lầm rồi các cháu ạ….” Chính lời nói chí lí như thế này đã thuyết phục được cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay cùng đi đến nói chuyện với lão Miệng.

Những ngày cô Mắt, cậu Chân, cậu tay và bác Tai không làm việc, không có gì để ăn nên lão Miệng cũng trở nên mệt mỏi và không còn sức sống.

Như vậy qua chi tiết này có thể thấy được nếu như trong một tập thể không có sự đồng lòng và hợp sức của tất cả mọi người thì tập thể đó sẽ rơi vào bệ rạc và không còn một thể thống nhất. Bởi vậy trách nhiệm của mỗi cá nhân là phải cố gắng vì tập thể chứ không phải vì chính bản thân mình.

Câu chuyện kết thúc trong sự hòa thuận, vui vẻ của cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng. Sự hòa thuận này xuất phát từ sự thấu hiểu cho nhau, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.

Từ câu chuyện hài hước, dí dỏm trên mà chúng ta mới ý thức được mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa cá nhân và tập thể, cách ứng xử của từng cá nhân trong một tập thể cũng hoàn toàn quan trọng, quyết định đến sự tồn tại của tập thể đó.

@.@

lm đc câu 1 thui ! 

“Ngày xưa, con người chưa biết tính thời gian, chưa biết tính tuổi của mình. Ở nước nọ, có một ông vua nổi tiếng thông minh và tài đức. Đất nước của ông thanh bình, dân tình no ấm. Một lần , nhân dịp vui, nhà vua nảy ý định ban thưởng cho người già nhất trong nước. Nhưng chẳng làng nào chọn được người già nhất nước. Thấy vậy, nhà vua liền phái một đoàn sứ giả đi tìm các vị...
Đọc tiếp

“Ngày xưa, con người chưa biết tính thời gian, chưa biết tính tuổi của mình. Ở nước nọ, có một ông vua nổi tiếng thông minh và tài đức. Đất nước của ông thanh bình, dân tình no ấm. Một lần , nhân dịp vui, nhà vua nảy ý định ban thưởng cho người già nhất trong nước. Nhưng chẳng làng nào chọn được người già nhất nước. Thấy vậy, nhà vua liền phái một đoàn sứ giả đi tìm các vị thần để biết hỏi cách biết người già nhất. Vâng lệnh vua, đoàn sứ giả lên đường. Vị thần đầu tiên họ gặp là Thần Sông. Thần Sông mặc áo trắng, tóc mềm như nước, nghe sứ giả hỏi bèn lắc đầu trả lời : – Ta ở dây đã lâu nhưng chưa bằng mẹ ta. Hãy đến hỏi mẹ ta. Mẹ ta là Biển Cả. Thần Biển mặc áo xanh biếc đang ru con bằng những lời sóng vỗ. Được hỏi, thần Biển chỉ tay lên ngọn núi xa xa và nói : – Hãy hỏi Thần Núi, Thần còn sinh ra trước cả ta. Khi ta lớn lên thì Thần Núi đã già rồi. Đoàn sứ giả lại lặn lội đến gặp Thần Núi, Thần Núi da xanh rì vì rêu bám cũng lắc đầu chỉ tay lên trời : – Hãy đến hỏi Thần Mặt Trời. Lúc ta mới chào đời, ta đã phải nhắm nghiền mắt vì nắng của Thần. Thần Mặt Trời còn có trước cả ta. Làm sao đến được chỗ Thần Mặt Trời. Đoàn sứ giả thất vọng quay về. Đến một khu rừng, họ gặp một bà lão nét mặt buồn rầu ngồi chăm chú trước cây hoa đào. Đoàn sứ giả đến gần hỏi: – Thưa cụ, tại sao  cụ lại ngồi đây ? Bà lão trả lời : – Tôi đến đây để hái hoa đào. Thuở trước, con tôi đi xa, cây đào này đang nở hoa. Bây giờ, mỗi lần hoa đào nở, tôi lại ra hái một bông hoa để về nhớ đến con tôi. Một ý nghĩ vụt lóe lên, đoàn sứ giả xin phép bà lão trở lại kinh đô. Họ tâu lên vua việc gặp bà lão hái hoa đào tính thời gian chờ con. Nhà vua vốn thông minh nên nghĩ ra cách tính tuổi con người: Cứ mỗi lần hoa đào nở thì tính một tuổi. Sau này người ta mới biết mười hai lần trăng tròn rồi khuyết, hoa đào mới nở một lần. Lại kể về chuyện nhà vua, sau khi tìm được cách tính tuổi, ông rất vui mừng, cảm động và nhớ đến bà lão hái hoa đào, nhà vua truyền cho thần dân cả nước: Mỗi lần hoa đào nở được mở hội ba ngày ba đêm. Những ngày vui ấy sau này người ta gọi là Tết. Phong tục ấy còn truyền mãi đến bây giờ.”

                                           Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy? Phương thức biểu đạt chính là gì?

Câu 2. Văn bản trên thuộc thể loại truyện nào? Hãy kể tên một số văn bản cũng viết theo thể loại ấy?

Câu 3. Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 4. Nhân vật chính trong văn bản trên là ai?

Câu 5. a. Khi “nhà vua truyền cho thần dân cả nước: Mỗi lần hoa đào nở được mở hội ba ngày, ba đêm. Những ngày vui ấy sau này người ta gọi là Tết.” thì em hiểu ba ngày ba đêm đó là những ngày nào của Tết nguyên đán hiện nay?

b. Hãy kể ra một vài phong tục trong ngày Tết của quê em?

c. Em có suy nghĩ gì về những phong tục này?

Câu 6. Em hãy giải thích nghĩa của từ:  sứ giả, phong tục?

 

1
9 tháng 3 2022

Caau 1 kể theo ngôi thứ 3; PTBĐ chính là tự sự

Câu 2 truyện cổ tích ; truyện Thạch Sanh, Tấm Cám

Câu 3: nội dung chính là quá trình tìm ra cách tính tuổi

Câu 4 là nhà vua

Câu 5: a) mùng 1 mùng 2 mùng 3

b) gói bánh chưng...

Câu 6: Su gia la nguoi duoc sai di lam mot viec gi do

Phong tục:Phong tục là thói quen sinh hoạt và cách sống lâu ngày đã ăn sâu vào đời sống xã hội hay toàn bộ hoạt động sống của con người hình thành trong tiến trình lịch sử, có tính ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được cộng đồng thừa nhận và tuân theo một cách tự giác


 

Bài 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:Cây tre trăm đốtNgày xưa có một chàng trai hiền lành, khỏe mạnh tên là Khoai đi cày thuê cho vợ chồng ông phú hộ. Hai người này có hứa: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho".Tin vào lời hứa, anh ra sức làm việc không ngại khó nhọc. Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa...
Đọc tiếp

Bài 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Cây tre trăm đốt

Ngày xưa có một chàng trai hiền lành, khỏe mạnh tên là Khoai đi cày thuê cho vợ chồng ông phú hộ. Hai người này có hứa: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho".

Tin vào lời hứa, anh ra sức làm việc không ngại khó nhọc. Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa ra một điều kiện là phải tìm được một cây tre trăm đốt để làm nhà cưới vợ thì ông mới gả con gái cho. Vì muốn có cơ hội để cưới con gái của chủ, anh bèn lên rừng quyết tâm tìm được một cây tre trăm đốt. Tìm mãi không thấy, anh thất vọng ngồi khóc. Bỗng Bụt hiện lên và bảo anh đi tìm, chặt cho đủ 100 đốt tre rời rồi giúp anh bằng hai câu thần chú: "khắc nhập, khắc nhập!" để gắn kết 100 đốt tre rời thành một cây tre trăm đốt và "khắc xuất, khắc xuất!" để tách các đốt tre ra.

Nhờ là các khúc tre rời nên anh cũng dễ dàng gánh về làng được. Về nhà, anh cho cha vợ tương lai của mình xem cây tre trăm đốt. Không tin vào điều mắt mình nhìn thấy, ông nhà giàu sờ tay vào cây đếm từng khúc tre. Phép màu của Bụt đã hút ông dính luôn vào cây tre. Khi ông đồng ý giữ lời hứa, anh mới sực nhớ ra câu "khắc xuất" để giải thoát cho cha vợ của mình. Sợ hãi, ông phú hộ phải giữ lời hứa, gả con gái cho anh nông dân. Cuối cùng, anh và con gái ông phú hộ sống với nhau hạnh phúc mãi mãi.

 

Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản.

Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản trên là ai? Từ đó cho biết truyện được kể theo ngôi thứ mấy.

Câu 3. Nhân vật anh chàng Khoai và nhân vật phú hộ trong văn bản thuộc kiểu nhân vật nào? Vì sao?

Câu 4. Em hãy sử dụng sơ đồ sau để tóm tắt các sự việc trong truyện.

Câu 5. Em hãy cho biết câu nói: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho” là lời của nhân vật nào.

Câu 6. Chỉ ra và cho biết chức năng của trạng ngữ có trong câu văn sau: Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa ra một điều kiện là phải tìm được một cây tre trăm đốt để làm nhà cưới vợ thì ông mới gả con gái cho.

Câu 7. Chỉ ra và nêu vai trò một chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 8. Hoàn thiện sơ đồ sau để đưa ra nhận xét của em về nhân vật Khoai trong văn bản.

Câu 9. Nếu thay đổi kết thúc truyện thành:

Mang lòng thù hận người với người cha vì đã không cho mình cưới vợ nên chàng Khoai đã không đọc câu thần chú khiến cho người cha mãi mãi dính vào cây tre trăm đốt, ngày ngày chỉ còn biết chịu đựng trong đau đớn, dằn vặt.

Thì em có đồng ý hay không? Vì sao?

Câu 10. Viết một bài văn khoảng 200 chữ kể lại câu chuyện cổ tích Cây tre trăm đố

0
5 tháng 1 2020

HELP ME PLEASE !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Bài 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:Cây tre trăm đốtNgày xưa có một chàng trai hiền lành, khỏe mạnh tên là Khoai đi cày thuê cho vợ chồng ông phú hộ. Hai người này có hứa: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho".Tin vào lời hứa, anh ra sức làm việc không ngại khó nhọc. Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa...
Đọc tiếp

Bài 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Cây tre trăm đốt

Ngày xưa có một chàng trai hiền lành, khỏe mạnh tên là Khoai đi cày thuê cho vợ chồng ông phú hộ. Hai người này có hứa: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho".

Tin vào lời hứa, anh ra sức làm việc không ngại khó nhọc. Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa ra một điều kiện là phải tìm được một cây tre trăm đốt để làm nhà cưới vợ thì ông mới gả con gái cho. Vì muốn có cơ hội để cưới con gái của chủ, anh bèn lên rừng quyết tâm tìm được một cây tre trăm đốt. Tìm mãi không thấy, anh thất vọng ngồi khóc. Bỗng Bụt hiện lên và bảo anh đi tìm, chặt cho đủ 100 đốt tre rời rồi giúp anh bằng hai câu thần chú: "khắc nhập, khắc nhập!" để gắn kết 100 đốt tre rời thành một cây tre trăm đốt và "khắc xuất, khắc xuất!" để tách các đốt tre ra.

Nhờ là các khúc tre rời nên anh cũng dễ dàng gánh về làng được. Về nhà, anh cho cha vợ tương lai của mình xem cây tre trăm đốt. Không tin vào điều mắt mình nhìn thấy, ông nhà giàu sờ tay vào cây đếm từng khúc tre. Phép màu của Bụt đã hút ông dính luôn vào cây tre. Khi ông đồng ý giữ lời hứa, anh mới sực nhớ ra câu "khắc xuất" để giải thoát cho cha vợ của mình. Sợ hãi, ông phú hộ phải giữ lời hứa, gả con gái cho anh nông dân. Cuối cùng, anh và con gái ông phú hộ sống với nhau hạnh phúc mãi mãi.

 

Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản.

Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản trên là ai? Từ đó cho biết truyện được kể theo ngôi thứ mấy.

Câu 3. Nhân vật anh chàng Khoai và nhân vật phú hộ trong văn bản thuộc kiểu nhân vật nào? Vì sao?

Câu 4. Em hãy sử dụng sơ đồ sau để tóm tắt các sự việc trong truyện.

 

Câu 5. Em hãy cho biết câu nói: "Con chịu khó làm lụng giúp ta, ba năm nữa ta sẽ gả con gái ta cho” là lời của nhân vật nào.

Câu 6. Chỉ ra và cho biết chức năng của trạng ngữ có trong câu văn sau: Nhưng ba năm sau, khi mà ông nhà giàu đã có mọi thứ của cải, ông bèn trở mặt, ông đưa ra một điều kiện là phải tìm được một cây tre trăm đốt để làm nhà cưới vợ thì ông mới gả con gái cho.

Câu 7. Chỉ ra và nêu vai trò một chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 8. Hoàn thiện sơ đồ sau để đưa ra nhận xét của em về nhân vật Khoai trong văn bản.

 

 

 

Câu 9. Nếu thay đổi kết thúc truyện thành:

Mang lòng thù hận người với người cha vì đã không cho mình cưới vợ nên chàng Khoai đã không đọc câu thần chú khiến cho người cha mãi mãi dính vào cây tre trăm đốt, ngày ngày chỉ còn biết chịu đựng trong đau đớn, dằn vặt.

Thì em có đồng ý hay không? Vì sao?

Câu 10. Viết một bài văn khoảng 200 chữ kể lại câu chuyện cổ tích Cây tre trăm đốt.

2
20 tháng 10 2021

help milk câu 3 đến câu 10 thôi

22 tháng 11 2023

a