Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: chỉ từ "nay" lm trạng ngữ chỉ thời gian trog câu.
Câu 2:
a) Chỉ từ: sun sun như con đỉa.
b) Chỉ từ: chần chẫn như cái đòn càn.
c) Chỉ từ: bè bè như cái quạt thóc.
d) Chỉ từ: sừg sữg như cái cột đìh.
đ) Chỉ từ: tun tủn như cái chổi sề cùn.
Câu 3:
- Xét về mặt cấu tạo, tíh tưf trog câu các câu trên thuộc kiểu cấu tạo của từ láy. Từ láy thườg có tác dụg gợi ra hìh dág, kích thước đặc đ, tíh chất... của sự vật 1 cáh khá cụ thể.
- Hìh ảh mà các tíh từ gợi ra khôg lớn lao, khoág đạt ( trừ trườg hp so sáh chân voi như cái cột đìh).
- Vì thế các sự vật đem ra so sáh ns chug là quá nhỏ bé, tầm thườg khôg phù hp vs vóc dág to lớn và khoẻ mạh của 1 con voi.
Điều này ns lên vc phán đoán sai và phiến diện của mấy ôg thầy bói về con voi.
Cảm ơn!!!
Câu 1 :
Xuất xứ ; văn ban " Bức tranh của em gái tôi " - Tạ Duy Anh
Câu 2:
- Nhân vật đc nhắc đến là Kiều phương .
Kiều Phương là 1 cô bé hiếu động và rất đam mê hội họa . Ở cô dậy lên những phẩm chất đáng quý , đó là sự hồn nhiên , trong sáng và nhân hậu . Khi bị anh trai gọi là Mèo , cô không buồn hay giận mà còn vui vẻ chấp nhận và thường dùng tên ấy để xưng hô với bạn bè . Mặt cô lúc nào cũng lấm lem màu vẽ do cô tự sáng chế . Bị anh la mắng thì Mèo vênh mặt lên . Mặc dù tài năng hội họa của cô được mọi người đánh giá rất cao nhưng cô vẫn giữ được tâm hồn trong sáng , hồn nhiên . Tuy hay bị anh la mắng nhưng cô vẫn dành cho anh những tình cảm thật tốt đẹp và rất trân trọng anh . Những tình cảm đó đã được thể hiện ở bức tranh đoạt giải nhất của cô . Khi dự thi trở về , mặc dù trước thái độ lạnh nhạt của anh trai , Mèo vẫn kêu anh cùng đi nhận giải với mình .
Câu 3 :
ngôi kể này có tác dụng trong việc thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật là:
Làm nhiệm vụ dẫn dắt, kể lại toàn bộ câu chuyện là người kể chuyện xưng “tôi” - được coi là “người phát ngôn tự sự” thứ nhất (người nắm quyền kể toàn bộ câu chuyện, không ngừng can dự vào câu chuyện dưới nhiều hình thức). Các tác phẩm đều bắt đầu và kết thúc bằng lời kể của người phát ngôn này.Hai người phát ngôn tự sự cùng nằm trong một tầng câu chuyện, có sự giao lưu hai chiều, mang tính đối ngẫu và ngôi kể thứ nhất còn kể chi tiết sự việc diễn ra và thể hiện rõ tâm lí của mình khi kể.
Câu 4:
Nhân vật anh trai của kiều phương trong " Bức tranh của em gái tôi" là 1 người anh rất quan tâm đến em mình nhờ đó anh mới phát hiện ra năng khiếu đặc biệt của Kiều Phương - người em gái của mình. Từ đó anh mới phát hiện những đồ vật trong nhà bị em gái mình lục đục chỉ vì pha chế màu để vẽ . Từ việc quan tâm thầm lặng ấy đã hiện lên phần nào là sự yêu thương dành cho cô em gái của mình. Tuy nhiên, trong phút chốc người anh lại bị sự ganh ghét của mình che đi sự yêu thương đã dành cho em gái mình trước đó chỉ vì do bản thân quá tự ti, quá mặc cảm dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực mà hiểu lầm em mình. Anh Kiều Phương vẫn giữ mối hiểu lầm ấy cho đến khi nhìn thấy bức tranh đoạt giải của em giá mình được trưng bày. Người anh hoạt đầu ngỡ ngành rồi đến hối hận khôn nguôi, vì chính bản thân đã hiểu lầm hay cáu gắt, ghen tị với em nhưng thấy được sự trong sáng của Kiều Phương người anh đã thay đổi tính cách bản thân. Anh hãnh diện vì trong bức tranh kia có phản phất hình dánh của mình được mọi người khen ngợi, hãnh diện vì có 1 cô em gái đa tài. Sau đó người anh lại xấu hổ trước em gái mình, người trong tranh thật trong sáng làm sao như em gái anh nhưng anh - con người thật lại không có nét gì là giống với con người trong tranh kia.
Chúc bạn học tốt!!!
a biểu cảm
b Đây là biểu hiện của lòng tự ái và mặc cảm tự ti khi thấy người khác có tài năng nổi bật hơn mình. Sự đố kị ấy khiến cho người anh thấy không thể thân thiện được với em gái mình như trước nhưng cậu ta không thể không quan tâm đến những bức tranh do Mèo vẽ.
Ý nghĩa nhan đề “Buổi học cuối cùng”:
- Kết thúc những ngày sống trong độc lập tự do
- Báo hiệu những ngày đen tối dưới ách phát xít Đức
- Sự tiếc nuối đối với việc không được học tiếng mẹ đẻ
1. Công cụ sản xuất được cải tiến : gồm :
- Rìu đá có vai, lưỡi đục , bàn mài đá và mảnh cưa đá
- Công cụ bằng xương , bằng sừng
- Đồ gốm
- Chì lưới bằng đất nung
- Xuất hiện đồ trang sức
Nhận xét :
- Loại hình công cụ (nhiều hình dáng và kích cỡ).
- Kĩ thuật mài (mài rộng, nhẵn và sắc).
- Kĩ thuật làm đồ gốm (tinh xảo, in hoa văn hình chữ s nối nhau, cân xứng, hoặc in những con dấu nổi liền nhau).
- Hai phát minh lớn : thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước.
2.
-Nhờ sự phát triển của nghề làm đồ gốm, người Phùng Nguyên, Hoa Lộc đã phát minh ra thuật luyện kim.
-Kim loại được dùng đầu tiên là đồng.
-Ở Phùng Nguyên, Hoa Lộc và các di chỉ khác cùng thời trên khắp nước ta, người ta đã phát hiện được nhiều cục đồng, xỉ đồng, -dây đồng, dùi đồng. Thuật luyện kim đã được phát minh.
Việc phát minh ra thuật luyện kim có ý nghĩa quan trọng :
- Tạo ra nguyên liệu làm công cụ, vật dụng mới khá cứng, có thể thay thế đồ đá.
- Đúc được nhiều loại hình công cụ, dụng cụ khác nhau.
- Công cụ sắc bén hơn, đạt năng suất lao động cao hơn nhiều so với công cụ đá.
—> Việc phát minh ra thuật luyện kim đã làm thay đổi sức sản xuất, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội, đưa con người ra khỏi thời nguyên thủy, bước sang thời đại văn minh
3.
Nghề nông trồng lúa nước ra đời ở đồng bằng ven sông, suối,biển,thung lũng.
Cây lúa trở thành cây lương thực chính ở nước ta
=> Cuộc sống con người ổn định hơn,định cư lâu dài,cây lương thực chính
Từ đây con người có thể định cư lâu dài ở đồng bằng ven các con sông lớn vì :
Việc phát minh ra thuật luyện kim và phát minh nghề nông trồng lúa nước đã tạo điều kiện :
- Lúa gạo trở thành lương thực chính của người Việt Nam.
- Con người chủ động hơn trong trồng trọt và tích lũy lương thực.
- Từ đó con người có thể yên tâm định cư lâu dài, xây dựng xóm làng (vùng đồng bằng ở các con sông lớn như sóng Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai) và tăng thêm các hoạt động tinh thần, giải trí.
4.
- Những nét mới về công cụ sản xuất:
+ Loại hình công cụ (nhiều hình dáng và kích cỡ).
+ Kĩ thuật mài (mài rộng, nhẵn và sắc).
+ Kĩ thuật làm đồ gốm (tinh xảo, in hoa văn hình chữ s nối nhau, cân xứng, hoặc in những con dấu nổi liền nhau).
+ Đa dạng nguyên liệu làm công cụ : đá. gồ, sừng, xương và đặc biệt là đồng.
- Ý nghĩa của việc phát minh ra thuật luyện kim :
Việc phát minhra thuật luyện kim có ý nghĩa hết sức to lớn không chỉ đối với người thời đó mà cả đối với thời đại sau này. Nhờ thuật luyện kim mà có được công cụ khá cứng , có thể thay thế đồ đá. Đúc được nhiều loại hình công cụ, dụng cụ khác nhau. Hình thức công cụ đẹp hơn, chất liệu bền hơn, mở ra con đường tìm nguyên liệu mới.
5.
- Lúa gạo trở thành lương thực chính của người Việt Nam.
- Con người chủ động hơn trong trồng trọt và tích lũy lương thực.
- Từ đó con người có thể yên tâm định cư lâu dài, xây dựng xóm làng (vùng đồng bằng ở các con sông lớn như sóng Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai) và tăng thêm các hoạt động tinh thần, giải trí.
6.
Đạt được trình độ cao trong sản xuất, thể hiện ở:
- Công cụ sản xuất được cải tiến.
- Hai phát minh lớn : thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước. Con người yên tâm định cư lâu dài, xây dựng xóm làng.
7.
Rìu đá hoa lộc
Được in hoa văn các loại : có hình chữ S nối nhau , những đường cuộn theo hình tròn hay hình chữ nhật,những đường chấm nhỏ li ti...
Mình chỉ làm được từng đó thôi ^^
1. Công cụ sản xuất được cải tiến như thế nào?
- Công cụ được mài sẵn toàn bộ, có hình dáng cân xứng.
- Được tìm thấy ở Phùng Nguyên ( Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Lung Leng ( Lon Tum) cách đây khoảng 4000 – 3500 năm.
- Làm gốm có hoa văn trang trí đẹp.
2. Thuật luyện kim đã được phát minh như thế nào?
- Nhờ sự phát triển của nghề làm gốm, người Phùng Nguyên – Hoa Lộc đã phát minh ra thuật luyện kim.
- Kim loại được dùng đầu tiên là đồng.
- Nhiều cục đồng, xỉ đồng, dây đồng được tìm thấy ở Phùng Nguyên – Hoa Lộc.
=> Việc phát minh ra thuật luyện kim có ý nghĩa rất lớn. Con người đã tìm được nguyên liệu chế tạo cộng cụ vừa tốt hơn, cứng hơn, vừa có thể làm được những loại công cụ mà nguyên liệu đá hoặc đất sét không đáp ứng được. Đồng thời mở ra một thời đại mới trong lĩnh vực chế tạo công cụ của loài người.
3. Nghề trồng lúa nước ra đời ở đâu và trong điều kiện nào?
- Di chỉ Hoa Lộc – Phùng Nguyên đã tìm thấy dấu tích của nghề nông trồng lúa ở nước ta.
- Điều kiện: Công cụ sản xuất được cải tiến, Ở vùng đồng bằng, ven sông lớn đất đai màu mỡ.
- Cây lúa trở thành cây lương thực chính.
C1:
a) Quyền ht;
- Mọi công dân đều có quyền đc học tập, ko hạn chế về trình độ, độ tuổi
- Đc học bằng nhiều hình thức
- Học bất cứ ngành nghề gì phù hợp với độ tuổi, sở thích của mình
Nghĩa vụ ht:
- CD từ 6-14 tuổi bắt buôvj phải hoàn thành bậc GD tiểu học, từ 11-18 tuổi phải hoàn thành bậc THCS
- Gia đình phải tạo điều kiện cho con em hoàn thành nghĩa vụ học tập
b)Những trẻ em...có quyền và nghĩa vụ ht dưới nhiều hình thức
+Trẻ em khuyết tập đc học ở trường mà nhà nước, các tổ chức xã hội dành riêng cho họ
+Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: ngày đi làm, tối đi học ở trung tâm GD thường xuyên; tự học qua sách báo, bạn bè; học ở các lớp học tình thương do các thầy cô giáo,TN tình nguyện dạy...
C2:
- CD có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, ko ai đc xâm phạm tới thân thể người khác. Việc bắt giữ người khác phải theo quy định của pháp luật
- CD có quyền đc pl bảo hộ t/mạng,s/k,d/d,n/phẩm.Mọi người phải tôn trọng t/m,s/k,d/d,n/phẩm của người khác
- Mọi việc làm xâm hại đến t/m,s/k,d/d,n/phẩm của người khác đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc
C3:Theo em, trong các loại hình di chuyển: máy bay, tàu hoả, tàu điện, ôtô, môtô, xe máy...thì môtô, xe máy được nguời dùng ưa thích vì chúng tiện lợi, gọn nhẹ, dễ sử dụng. Nhưng chính loại hình này lại là kém an toàn nhất ! Xã hội ta hiện nay đang chọn loại hình di chuyển này để đi lại mỗi ngày, môtô-xe máy đang phục vụ cho hàng triệu người từ thành thị đến nông thôn.
Theo em, nhận định của Antoine Compagnon cho rằng ý nghĩa của tác phẩm văn học không bị giới hạn bởi bối cảnh ra đời. Một tác phẩm có giá trị là tác phẩm có khả năng vượt thời gian và không gian, luôn gợi ra những cách hiểu mới cho người đọc ở các thời đại khác nhau. “Cái vô tận” chính là sức sống bền bỉ của văn học, khi tác phẩm vẫn còn ý nghĩa và tính thích đáng dù đã rời xa hoàn cảnh xuất hiện ban đầu.
- Không bao giờ cạn kiệt: Một tác phẩm thực sự lớn không bao giờ bị đóng khung trong một nghĩa duy nhất. Ý nghĩa của nó giống như một hành trình mở, liên tục được tái sinh thông qua sự tiếp nhận của các thế hệ độc giả khác nhau.
- Sự đồng sáng tạo: Mỗi thời đại sẽ "soi" thấy những vấn đề của mình trong tác phẩm cũ, khiến nó luôn tươi mới. "Cái vô tận" ở đây chính là khả năng gợi mở không giới hạn của văn bản nghệ thuật.
2. "Tính thích đáng ở bên ngoài bối cảnh xuất hiện"- Vượt thoát giới hạn lịch sử: Tác phẩm được viết ra trong một bối cảnh cụ thể (lịch sử, văn hóa, chính trị của thời đại tác giả), nhưng giá trị của nó không chết đi khi bối cảnh đó qua đi.
- Tính phổ quát: "Tính thích đáng" (pertinence) là khả năng tác phẩm vẫn có thể "nói" được với người đọc ở một không gian và thời gian hoàn toàn khác. Ví dụ: Chúng ta đọc Truyện Kiều ngày nay không chỉ để biết về xã hội phong kiến mà còn để thấu cảm về thân phận con người và tình yêu.
3. Sự cân bằng giữa "Nghĩa khởi thủy" và "Sự vô tận"- Antoine Compagnon không phủ nhận ý đồ của tác giả. Ông cho rằng tác phẩm vẫn có một "nghĩa khởi thủy" (ý nghĩa nguyên bản gắn với tác giả và thời đại của họ).
- Tuy nhiên, giá trị thực sự của một kiệt tác nằm ở chỗ nó vừa bảo tồn cái "gốc" đó, vừa có khả năng thích nghi và trở nên có ý nghĩa với những trải nghiệm cá nhân của độc giả tương lai.
Tóm lại: Nhận định khẳng định văn chương đích thực không phải là những bảo tàng đóng kín mà là những thực thể sống. Sức sống của tác phẩm không nằm ở việc nó đã nói gì trong quá khứ, mà nằm ở việc nó vẫn còn có thể nói gì với chúng ta ngày hôm nay.