Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1.
Nhắc đến nhà văn Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là ta nhớ đến tiểu thuyết Tát đèn, là ta nghĩ đến thân phận chị Dậu. Đó là một người phụ nữ nông dân nghèo khổ, cần cù lao động, giàu tình thương chồng, thương con, dũng cảm chống lại bọn cường hào. Nhà văn Ngô Tất Tố đã xây dựng nhân vật chị Dậu tiêu biểu cho cảnh ngộ khốn khổ và phẩm chất tốt đẹp của người đàn bà quê trước năm 1945.
Cảnh Tức nước vỡ bờ trong Tắt đèn đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về nhân vật Dậu.
Hoàn cảnh của chị Dậu thật đáng thương. Chị phải bán gánh khoai, bán ổ chó và đứt ruột bán đứa con gái lên bảy tuổi cho vợ chồng Nghị Quế, mới đủ nộp suất sưu cho chồng. Nhưng anh Dậu vẫn bị trói ở sân đình, vì còn thiếu một suất sưu nữa. Chú Hợi là em ruột anh Dậu, chết từ năm ngoái nhưng chết cũng không trốn được sưu nhà nước nên gia đình anh Dậu phải nộp suất sưu ấy.
Anh Dậu đang ốm nặng, bị trói suốt ngày đêm, anh ngất xỉu đi như chết. Bọn cường hào cho tay chân vác anh Dậu rũ rượi như cái xác đem đến trả cho chị Dậu. Đau khổ, tai họa chồng chất đè nặng lên tâm hồn người đàn bà tội nghiệp.
Chị Dậu là một người vợ, một người mẹ giàu tình thương.
Trong cơn nguy kịch, chị Dậu tìm mọi cách cứu chồng. Tiếng trống, tiếng tù và đã nổi lên. Chị Dậu cất tiếng khẩn khoản, thiết tha mời chồng: thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. Lời người đàn bà nhà quê mời chồng ăn cháo lúc hoạn nạn, chứa đựng biết bao tình thương yêu, an ủi vỗ về. Cái cử chỉ của chị Dậu bế cái Tỉu rồi xuống cạnh chồng cố ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng hay không đã biểu lộ sự săn sóc và yêu thương của người vợ đối với người chồng đang đau ốm, tính mạng đang bị bọn cường hào đe doạ!
Chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi đã dũng cảm chống lại bọn cường hào để bảo vệ chồng. Bọn cai lệ và tên hầu cận lý trưởng, lũ đầu trâu mặt ngựa với tay thước, roi song, dây thừng lại sầm sập xông vào nhà chị Dậu thét trói kẻ thiếu sưu. Anh Dậu vừa run rẩy kề miệng bát cháo, nghe tiếng thét của tên cai lệ, anh đã lăn dùng xuống phản! Tên cai lệ chửi bới một cách dã man. Hắn gọi anh Dậu là thằng kia hắn trợn ngược hai mắt quát chị Dậu: Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mờ mồm xin khất. Chị Dậu đã hạ mình van xin, lúc thì run run xin khất, lúc thì thiết tha xin ông trông lại. Tên cai lệ mỗi lúc lại lồng lên: Đùng đùng, (…) giật phắt cái thừng trong tay anh hầu cận lý trưởng, hắn chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu để bắt trói điệu ra đình. Chị Dậu van hắn tha cho… thì hắn bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch, tát đánh bốp vào mặt chị, rồi nhảy vào cạnh anh Dậu. Một ngày lạ thổi sai nha – lầm cho khốc hại chẳng qua vì tiền (Nguyễn Du). Để tróc sưu mà tên cai lệ, "kẻ hút nhiều xái cũ” đã hành động một cách vô cùng dã man. Mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn, hơn nữa, để bảo vệ tính mạng của chồng, bảo vệ nhân phẩm của bản thân, chị Dậu đã kiên quyết chống cự: chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ. Không thể lùi bước, chị Dâu đã nghiến hai hàm răng thách thức:
Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Tư thế của chị Dậu có một bước nhảy vọt. Từ chỗ nhún mình tự gọi là cháu, gọi tên cai lệ bằng ông y sau đó là mày. Chị đã vỗ mặt hạ uy thế và hạ nhục chúng! Hai kẻ đốc sưu định trói kẻ thiếu sưu nhưng chúng đã bị người đàn bà lực điền trừng trị. Tên cai lệ bị chị Dậu túm lấy cổ y ấn dúi ra cửa, ngã chỏng queo trên mặt đất ! Tên hầu cận lý trưởng bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. Với chị Dậu, nhà tù của thực dân cũng chẳng có thể làm cho chị run sợ. Trước sự can ngăn của chồng, chị Dậu vẫn chưa nguôi giận:
Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…
Con giun xéo mãi cũng quằn, chị Dậu cũng vậy, bị áp bức dã man, tính mạng bị đe dọa, chị đã vùng lên đánh trả một cách dũng cảm. Nhà văn Nguyễn Tuân đã có một nhận xét rất thú vị: Trên cái tối giời tối đất của đồng lúa ngày xưa hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu (…). Bản chất của nhân vật chị Dậu rất khỏe, cứ thấy lăn xả vào bóng tối mà phá ra… Ngô Tất Tố rất hả hê khi tả cảnh chị Dậu cho tên cai lệ và tên hầu cận một bài học đích dáng. Ông đã chỉ ra một quy luật tất yếu trong xã hội: Có áp bức có đấu tranh Ị
Cảnh Tức nước vỡ bờ rất sống động và giàu tính hiện thực.
Đoạn văn như một màn bi hài kịch, xung đột diễn ra căng thẳng đầy kịch tính. Hình ảnh chị Dậu được miêu tả rất chân thực. Chị giàu lòng thương chồng, vừa rất ngang tàng, cứng cỏi.
Chị hạ nhục tên cai lệ là mày, tự xứng là bà. Cái nghiến hai hàm răng, cái ấn dúi, cái túm tóc lẳng một cái và câu nói: Thà ngồi tù… đã nêu cao tầm vóc lớn lao đáng kính phục của chị Dậu, một người phụ nữ nông dấn trong xã hội cũ.
Từ hình ảnh Cái cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non (ca dao) đến hình ảnh chị Dậu trong Tắt đèn, ta thấy chân dung người phụ nữ Việt Nam trong văn học đã có một bước phát triển mới cả về tâm hồn lẫn chí khí.
2.
Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm - nhân vật lão Hạc - dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.
Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ôm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi ***** Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán ***** trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,...
Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử...! Cái chết của
lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên... Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của ***** Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.
Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.
Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,... ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào ***** Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là ***** khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,... là bởi ***** là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.
Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!
Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Caor..) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch" khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “"con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn di. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!
Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người - kể cả với ***** Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng. Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, định khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!
Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.
Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.
Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.
Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.
Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiệm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!
Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dân Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.
Phần I
câu 5: Chiếc là cuối cùng là kiệt tác vì :
-nó giống như thật => cái tâm của người nghệ sĩ
-nó có tác dụng nhiệm màu là cứu sống Giôn-xi
-đc vẽ = tình yêu thương và đức hi sinh cao cả
-nó đc vẽ (.) 1 hoàn cảnh đặc biệt
-nó vẽ = 1 tình yêu nghệ thuật chân chính
Trong những trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam, có một cái tên luôn được nhắc đến với lòng tôn kính vô hạn: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là một con người kiệt xuất, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại, mà nổi bật nhất là Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu.
Võ Nguyên Giáp sinh ra tại Quảng Bình, vốn là một nhà giáo, một nhà báo yêu nước. Với trí tuệ uyên bác và lòng nhiệt thành cách mạng, ông đã sớm đi theo con đường cứu nước. Từ một thanh niên trí thức, ông trở thành người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Bác tin tưởng giao phó trọng trách xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Dù chưa từng qua một trường lớp quân sự nào, Võ Nguyên Giáp đã chứng tỏ mình là một thiên tài quân sự với những tư duy chiến lược độc đáo và tầm nhìn xa trông rộng.
Sự kiện làm nên tên tuổi của Đại tướng và cũng là đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của ông chính là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã xây dựng tại đây một tập đoàn cứ điểm quân sự kiên cố, được đánh giá là "bất khả xâm phạm". Thế nhưng, với ý chí quyết tâm giành độc lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra một quyết định lịch sử: thay đổi phương châm từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Đây là một quyết định vô cùng táo bạo, bởi nó đòi hỏi một sự kiên nhẫn, một kế hoạch tỉ mỉ và một sự chuẩn bị lâu dài. Quyết định này đã thể hiện tầm nhìn của một vị tướng không chỉ biết đánh mà còn biết thắng một cách chắc chắn.
Suốt 56 ngày đêm, dưới sự chỉ huy tài tình của Đại tướng, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Từ việc kéo pháo bằng tay vào trận địa đến việc đào hàng trăm ki-lô-mét chiến hào, tất cả đều thể hiện ý chí "quyết chiến quyết thắng". Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm nên "tiếng sấm Điện Biên", buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ được kính trọng vì những chiến công hiển hách mà còn bởi đạo đức và phong cách sống giản dị, gần gũi. Ông là một người thầy, một người anh vĩ đại, luôn yêu thương, quan tâm đến cán bộ và chiến sĩ. Hình ảnh một vị Đại tướng luôn lắng nghe, trăn trở trước mỗi trận đánh, luôn đặt tính mạng của binh sĩ lên trên hết đã đi sâu vào lòng mỗi người dân Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra đi nhưng tên tuổi, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của ông sẽ sống mãi trong lòng dân tộc, là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tài năng quân sự xuất chúng của con người Việt Nam.
Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có lần mắc khuyết điểm. Nhưng có những khuyết điểm khiến ta luôn ray rứt mãi. Đó là trường hợp của tôi. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in chuyện của ngày hôm ấy. Tôi ân hận đã khiến cô buồn phiền vì lỗi lầm của mình nhưng tôi tin rằng Cô sẵn sàng cảm thông và tha thứ cho tôi.
Tôi vốn là một học sinh giỏi Toán của lớp. Bài kiểm tra nào tôi cũng đạt điểm chín, điểm mười. Mỗi lần, cô gọi điểm, tôi luôn tự hào và trả lời rất rành rọt trước sự thán phục của bạn bè trong lớp. Một hôm, trong giờ ôn tập, tôi chủ quan không xem lại bài cũ. Theo thường lệ, cô sẽ gọi các bạn lên bảng làm để lấy điểm. Tôi khăng khăng nghĩ rằng cô sẽ không gọi đến tôi đâu, bởi tôi đã có điểm kiểm tra miệng rồi. Vì vậy, tôi ung dung ngắm trời qua khung cửa sổ và thả hồn tưởng tượng đến trận kéo co mà đội lớp tôi và lớp bảy năm sẽ diễn ra chiều nay. Nhưng chuyện bất ngờ đã xảy ra, một tin "chấn động" làm lớp tôi nhốn háo cả lên. Cô giáo yêu cầu chúng tôi lấy giấy ra làm bài kiểm tra. Biết làm sao bây giờ? Tôi vẫn chưa ôn bài cũ. Mỗi khi làm bài, cô thường báo trước để chúng tôi chuẩn bị mà. Còn hôm nay sao lại thế này? Tôi ngơ ngác nhìn quanh một lượt và chợt bừng tỉnh khi nhỏ Hoa ngồi cạnh huých tay vào sườn nhắc tôi chép đề và lo làm bài. Tôi loay hoay mãi cứ viết rồi lại xóa. Nhìn quanh tôi thấy các bạn chăm chú làm bài. Về phía tôi, đầu óc tôi quay cuồng như muốn vỡ tung, tôi hoàn toàn mất bình tĩnh và không thể suy nghĩ được cách làm bài. Thời gian đã hết, tôi nộp bài mà lòng cứ thấp thỏm, không yên. Tôi nghĩ đến lúc phát bài ra, bài tôi bị điểm kém tôi sẽ ra sao đây? Tôi sẽ mất mặt trước lớp, lại bị cô giáo khiển trách, chưa nói đến việc thế nào bố mẹ cũng la rầy. Bố mẹ sẽ đốt sạch sành sanh kho tàng truyện tranh của tôi cho mà xem. Tôi phải làm gì đây? Tôi phải làm gì đây? Các câu hỏi dồn dập ấy đạt ra khiến tôi càng lo lắng hơn.
Rồi thời khắc định mệnh đã đến. Như mọi lần, tôi nhận bài từ tay cô để phát cho các bạn. Liếc qua bài mình, con số ba khiến tim tôi thắc lại. Tôi đã cố không để ai nhìn thấy và cố giữ nét mặt thản nhiên. Vẻ mặt ấy che giấu biết bao sóng gió đang quay cuồng, đang nổi lên trong lòng. Thật là chuyện chưa từng có. Tôi biết ăn nói làm sao với cô, với bố mẹ, với bạn bè bây giờ? Tôi lo nghĩ và bất chợt nảy ra một ý... Cô giáo bắt đầu gọi điểm vào sổ. Đến tên tôi, tôi bình tĩnh xướng to "Tám ạ!". Cô giáo dường như không phát hiện. Tôi thở phào nhẹ nhõm và tự nhủ: "Chắc cô không để ý đâu ví có gần chục bài bị điểm kém cơ mà!". Để xóa sạch mọi dấu vết, tối hôm ấy tôi làm lại bài khác rồi lấy bút đỏ ghi điểm "tám" theo nét chữ của cô. Ngày qua ngày, cứ nghĩ đến lúc cô giáo đòi xem lại bài, tôi lạnh cả người. Trời hỡi, đúng như lời "tiên tri", trời xui đất khiến làm sao ấy, cô thật sự muốn xem lại bài chúng tôi vì điểm tám không khớp với con số cô tổng kết trước khi trả bài. Cả người tôi lạnh run, mặt tôi tái mét. Tôi chỉ muốn trốn ra khỏi lớp mà thôi. Và tôi càng hốt hoảng hơn khi nghe cô gọi tên tôi. Cô đã phát hiện ra tôi sửa điểm. Cô gọi tôi lên và đưa giấy mời phụ huynh ngay. Cả lớp tôi như bị bao trùm bởi cái không khí nặng nề, khô khốc ấy. Cô chẳng nói lời nào với tôi khiến tôi càng sợ và càng bối rối hơn. Tôi không còn tâm trạng để học các môn khác. Tôi cảm thấy "ghét" cô biết bao! Tôi mới vi phạm lần đầu đầu thôi mà sao cô không tha thứ cho tôi. Tôi sẽ ghi nhớ điều này và chỉ muốn trả thù cô. Sự việc tiếp theo đó thì ba mẹ tôi đã phạt tôi suốt mấy tuần lễ không cho xem truyện, bắt tôi làm bài tập Toán miệt mài. Tôi lại càng "ghét" cô hơn... Và thế là một ngày nọ, khi hết giờ đến giờ ra chơi, các bạn chạy lên bàn hỏi bài cô, tôi đã nhanh tay giấu đi quyển số chủ nhiệm và một quyển sổ tay của cô. Tôi chỉ nghĩ làm cô tức và lo lắng... Tôi thấy cô quay lại lớp tìm và thông báo cho cả lớp. Nhưng không một ai biết... Cô không hề mảy may nghi ngờ đến những cô cậu học trò bé bỏng của cô. Đúng như tôi dự đoán, cô phải nộp sổ chủ nhiệm cho nhà trường. Cô làm mất sổ nên bị nhà trường khiển trách. Trên môi cô không nở được nụ cười nào, trông cô buồn rười rượi. Cô phải mất thời gian làm lại quyển số ấy. Điều ấy làm tôi thấy hả dạ.
Một hôm, tôi tình cờ giở quyển sổ tay của cô ra xem. Từng trang, từng trang là những ghi nhận về công việc, có cả những trang cô kỉ niệm của lớp. Cô ghi lại tên các bạn bị ốm, nhận xét bạn này cần giúp đỡ về môn nào, bạn nào tiến bộ... Tôi cảm thấy bất ngờ quá. Thì ra cô đã rất chăm chút, yêu thương chúng tôi. Tôi lật đến trang gần cuối, cô viết về bài kiểm tra Toán gần đây của lớp. Tôi hết sức ngạc nhiên khi có một đoạn nhỏ cô viết về tôi: "Không hiểu sao con bé Trinh làm bài tệ quá nhỉ? Hay nó gặp chuyện gì không vui? Mình phải tìm hiểu nguyên nhân xem có giúp em ấy được gì không? Thường trò này rất chăm ngoan, luôn giúp đỡ bạn bè và lễ phép..."Đọc những dòng tâm tình của cô, tôi thấy khóe mắt mình cay cay, lòng tôi như thắt lại. Giờ đây tôi mới biết cô luôn xem tôi là đứa trò ngoan, luôn lễ phép và tôn trọng cô. Cô luôn nghĩ vì lí do nào đó khiến tôi khiến tôi không làm bài được chứ có nghĩ vì tôi lười học bài đâu. Cô cho tôi điểm ba cũng đáng thôi. Điểm ba ấy khiến tôi khiến tôi phải nhắc nhở mình... Tôi biết làm gì để chuộc lỗi ngoài việc đem trả sổ cho cô và xin lỗi cô. Mong sao cô có thể tha thứ cho tôi. Nghĩ vậy, sáng hôm sau, tôi định đem sổ vào trả cô thì hay tin cô phải về quê gấp vì mẹ cô đang bệnh nặng không có người chăm sóc. Cô đã nộp đơn xin nghỉ việc một thời gian... Cái tin ấy làm tôi sửng sốt. Hai quyển sổ vẫn còn nguyên trong cặp của tôi. Tôi không biết làm thế nào để liên lạc với cô đây? Mọi thứ giờ đã quá muộn. Giá như lúc ấy tôi không sửa điểm thì có lẽ tôi sẽ không gây nên bao lỗi lầm, bao buồn phiền cho cô đâu. Và tôi cũng không phải ray rứt như bây giờ. Tôi chẳng biết làm gì hơn, chỉ biết dày vò chính bản thân. Bao cảm xúc đè nén trong tôi làm tôi muốn vỡ tung. Tại sao ngày ấy tôi lại có những suy nghĩ sai lầm và ngốc nghếch đến thế để rồi bây giờ ân hận mãi. Tôi không còn gặp cô nữa và chẳng biết làm sao để xin lỗi cô. Tôi chỉ còn biết gìn giữ quyển sổ của cô và mong một ngày gần đây tôi sẽ gặp lại cô, sẽ trả sổ cho cô và kèm lời xin lỗi chân thành của tôi. Cô ơi...
Thời gian không dừng lại. Giờ đây tôi đã xa cô. Chiếc ghế cô ngồi giờ đã có người thầy khác. Tôi dẫu biết người thầy ấy cũng sẽ yêu thương, lo lắng cho chúng tôi nhưng tôi chỉ mong tìm lại bóng dáng của cô ngày nào. Tôi mong có thể gặp lại cô để xin lỗi, để nhận được sự tha thứ, bao dung của cô. Cô ơi, con thật lòng xin lỗi cô...
Trong cuộc sống, mỗi chúng ta không ít lần mắc lỗi nhưng có những lỗi lầm đã gây ra không bao giờ chúng ta quên được. Bây giờ, cứ mỗi lần nhớ đến cô giáo dạy văn năm lớp bảy, tôi lại thấy trong lòng mình ray rứt vì đã vô lễ với cô.
Tôi vốn là một đứa trẻ bất hạnh nhất trên đời – tôi luôn nghĩ về bản thân mình như vậy. Mẹ tôi sinh ra tôi nhưng tôi không có bố. Từ bé tôi đã luôn bị mọi người xung quanh khinh miệt, giễu cợt là “đồ con hoang”. Nhiều bà mẹ không cho con họ chơi với tôi. Tôi sống thui thủi như thế với mẹ trong căn nhà nhỏ tồi tàn cuối xóm. Từ bé, tôi không thấy ai tốt bụng và thương tôi ngoài mẹ tôi. Hai mẹ con tôi sống trơ trọi không họ hàng trong sự khinh miệt của mọi người xung quanh. Trong mắt tôi, loài người thật xấu xa và độc ác – trừ người mẹ hiền lành mà tôi hết lòng thương yêu và kính trọng. Đến tuổi đi học, tôi không chơi với bạn nào trong lớp, luôn lãnh đạm, thờ ơ với mọi người xung quanh.
Năm ấy, tôi học lớp bảy. Trong giờ văn, hôm nay lớp học văn nghị luận chứng minh. Cô giáo giảng đề “Lá lành đùm lá rách”. Cô đã dùng nhiều lập luận và dẫn chứng gần gũi, cụ thể, thiết thực để cho chúng tôi thấy đấy là lòng nhân ái của người Việt Nam ta. Giảng xong, cô cho lớp viết bài, tiết sau cô sẽ sửa. Tiết học sau, cô gọi một số bạn nộp bài cho cô sửa – trong đó có tôi. Cô gọi tôi lên và hỏi: "Toàn, tại sao em lại không làm bài mà để giấy trắng? Em không hiểu bài à? Không hiểu chỗ nào cô sẽ giảng lại cho?"
Phản ứng của tôi bất ngờ đến mức làm cả lớp sững sờ nhìn tôi. Tôi gân cổ lên trả lời cô: "Em không làm vì em không thèm làm chứ không phải không hiểu. Toàn là nói dối, bịa đặt, trên đời này làm gì có lòng nhân ái, người yêu thương người. Tại sao em lại chứng minh điều dối trá như thế là đúng cơ chứ?" Tôi nói mà không biết mình đang nói gì. Có lẽ đó là những điều uất ức dồn nén từ lâu hôm nay bộc phát. Cả lớp đổ dồn những cặp mắt ngỡ ngàng về phía tôi. Còn cô giáo thì mặt tái xanh, tôi thấy cô giận đến run người. Cô không nói lời nào mà bước nhanh ra khỏi lớp. Tôi biết cô rất giận. Cô sợ không kìm chế được cảm xúc nên bước ra ngoài chăng? Tôi thoáng ân hận vì quá lời với cô nhưng tôi không thấy mình sai. Lớp trưởng đến bên tôi nhẹ nhàng: "Tại sao cậu vô lễ như thế? Đi theo xin lỗi cô đi!" Tôi giận dữ: "Tớ không nói sai. Tớ không có lỗi!".
Sau sự việc trên, tôi đinh ninh mình sẽ bị đuổi học hoặc chí ít là mời phụ huynh. Tôi chỉ lo mẹ sẽ buồn. Cuối giờ, cô gọi tôi lên gặp riêng cô. Tôi biết mình sẽ bị khiển trách rất nặng. Tôi bước vào phòng giáo viên, cô ngồi đó vẻ mặt buồn rười rượi. Trên đôi mắt đen lay láy của cô còn ngân ngấn nước. Tôi đoán cô vừa khóc và thấy ngạc nhiên. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi cô không trách mắng tôi mà nhẹ nhàng phân tích cho tôi thấy rằng tôi nghĩ như thế là lệch lạc. Các bạn đã luôn gần gũi và giúp đỡ tôi, cô đã luôn quan tâm và yêu thương tôi,... Tôi vô cùng ân hận. Tôi lí nhí xin lỗi cô. Cô dịu dàng xoa vào đầu tôi và bảo: "Em hiểu được như thế là tốt và đừng nên mất niềm tin vào tình người như thế! Cô không giận em đâu". Dù cô nói vậy nhưng tôi vẫn thấy mình thật có lỗi khi vô lễ với cô.
Tôi thật biết ơn cô vì đã dạy tôi bài học về tấm lòng độ lượng và giúp tôi lấy lại niềm tin về tình người
1. Ý nghĩa: - là 1 kiệt tác
- cứu sống dk 1 co người
- được vẽ trong hoàn cảnh đặc biệt ( gió bão to, đêm lạnh buốt)
- dồn tình cảm yêu thương của cụ Bơ-men dành cho G
2.
sự có mặt của yếu tố bất ngờ, ngẫu nhiên theo hướng đảo ngược tình huống. Với thủ pháp nghệ thuật này, O.Henry đã để lại cho đời Chiếc lá xanh - chiếc lá gieo mầm cho sự sống được vẽ bằng trái tim và tình yêu thương của con người. Có lẽ cũng vì vậy mà “Chiếc lá cuối cùng” đã trở thành một trong những câu chuyện hay nhất về vẻ đẹp của tình thương yêu giữa con người với con người mà O.Henry muốn gửi gắm tới độc giả.
Tìm hiểu các tác phẩm khác của O.Henry, ta thấy tác giả rất tài hoa trong việc sử dụng các yếu tố bất ngờ, ngẫu nhiên cho dù truyện có thể đề cập đến bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống xã hội. Chính yếu tố bất ngờ, ngẫu nhiên theo hướng đảo ngược tình huống đã làm cho những câu chuyện của nhà văn trở nên hấp dẫn, lý thú.
3. Qua bài " cô bé bán diêm" cho e thấy vẻ đẹp bên trong tâm hồn ngây thơ trong sáng của cô bé. Cô mong ước dk sống vui vẻ và hạnh phúc bên gđ của mk, ( mk mới pk z hoy nha bạn )
4. ( k piết đúng k nha bạn )
ý nghĩa của hình ảnh ngọn lửa cho thấy khát vọng dk sống hạh phúc bên bà mẹ và tổ ấm gđ. 1 cuộc sông hạnh phúc vĩnh hằng bên bà và mẹ
CHÚC BẠN HỌC TỐT. CÓ LẼ 1 SỐ PHẦN KHÔNG ĐÚNG ĐÂU Ạ ![]()
![]()
1)
Như vậy kiệt tác “chiếc lá cuối cùng” của cụ Bơ men chính là một hình ảnh, một minh chứng cho sự sáng tạo không ngừng của O hen ri cũng như những người làm nghệ thuật. Kiệt tác ấy giàu giá trị nhân văn, mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khó quên.Gấp trang sách lại nhưng hình ảnh bức tranh đó còn neo đậu mãi, nhắc nhở chúng ta về nhân sinh trong đời sống. Đó là một triết lí rất đẹp.
Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy cô giáo buồn
Tháng mười năm 2016, vào một buổi sáng đầu tuần, lớp em bước vào tiết kiểm tra môn Ngữ văn. Không khí trong lớp trở nên yên tĩnh lạ thường, ai nấy đều chăm chú làm bài. Đề kiểm tra hôm ấy không quá khó, chỉ cần ôn tập kỹ là có thể làm tốt. Thế nhưng em lại cảm thấy vô cùng lúng túng, bởi em đã mải chơi với các bạn vào ngày chủ nhật mà quên mất việc học bài.
Ngồi trước tờ đề, đầu óc em trống rỗng. Trong lúc hoảng loạn, em đã lén lút mở tập ra xem. Nhưng chưa kịp nhìn rõ thì cô giáo đã phát hiện và nhẹ nhàng nhắc nhở em. Em vội vàng cất tập đi, nhưng vẫn không làm được bài. Em lại quay sang nhìn bài của bạn bên cạnh. Cô giáo tiếp tục nhắc nhở, ánh mắt cô nghiêm nghị nhưng vẫn đầy kiên nhẫn.
Thay vì dừng lại, em lại ngoan cố hỏi bài bạn. Khi bạn không cho, em đã giật lấy bài của bạn để chép. Cô giáo gọi em đứng lên, nhưng thay vì nhận lỗi, em lại tỏ thái độ nghênh ngang, bất cần. Em không hề thấy hối lỗi, chỉ cảm thấy bực bội vì bị nhắc nhở. Cô không nói gì thêm, nhưng ánh mắt buồn bã của cô khiến em chợt nhận ra mình đã sai.
Khi ngồi lại chỗ, em bắt đầu suy nghĩ về hành động của mình. Một cảm giác hổ thẹn và xấu hổ trào dâng. Em đã không chỉ vi phạm nội quy mà còn khiến cô giáo buồn lòng. Sau khi hết giờ kiểm tra, em đã đến gặp cô, cúi đầu xin lỗi và nhận khuyết điểm của mình. Cô nhẹ nhàng tha thứ, khuyên bảo em bằng giọng nói đầy tình cảm. Em đã hứa với cô sẽ không bao giờ tái phạm.
Từ lần mắc lỗi ấy, em rút ra bài học sâu sắc: sự trung thực và thái độ học tập nghiêm túc là điều quan trọng nhất. Em hiểu rằng thầy cô luôn yêu thương và mong muốn điều tốt nhất cho học trò. Em sẽ cố gắng học tập chăm chỉ hơn để không phụ lòng cô và để bản thân ngày càng trưởng thành hơn.
Có.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật chủ yếu là qua nhân vật lão Hạc: Bằng phương pháp đối lập, nhà văn tạo vé bề ngoài cho lão Hạc dường như lẩm cấm, gàn dở, đôi lúc bị nghi ngờ là phường “đâm heo thuốc chó” nữa nhưng bên trong lão lại là một người có vẻ đẹp tâm hồn cao quý, đáng kính trọng.
- Cách dựng truyện: Nhà văn dựng truyện chân thực và sinh động. Ông dẫn người đọc vào mạch truyện đầy khéo léo, bất ngờ. Càng lúc truyện càng căng thẳng qua đó, bộc lộ tính cách và tâm lí nhân vật qua từng sự kiện trong truyện.
- Ngôn ngữ của truyện: Truyện được viết với nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng. Nét nối bật là ngôn ngữ đối thoại và độc thoại đầy chất trữ tình mang cả tình cảm, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật.
- Nghệ thuật kể chuyện: Câu chuyện được kể theo lời dẫn của nhân vật “tôi” (ông giáo) - người tham gia trong câu chuyện và chứng kiến sự việc diễn ra. Điều này làm cho câu chuyên thêm chân thật, gần gũi với người đọc. Đồng thời chọn vai kể này, việc dẫn dắt câu chuyên sẽ tự nhiên, linh hoạt hơn. Cũng vì thế, câu chuyên được kể với nhiểu giọng điệu hơn. Ngưòi kể có thể vừa kể, vừa bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của mình. Việc miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật cũng rất tự nhiên, hợp lí. Việc tạo tình huống truyện bất ngờ nhằm lôi cuốn người đọc và dễ dàng trình bày triết lí sâu sắc về cuộc sống của tác giả.
Cả 2 ý kiến của 2 bạn đều đúng
Nội dung và nghệ thuật
- Nghệ thuật kể chuyện: nét đặc sắc nhất là cách kể chuyện của nhà văn, thông qua lời kể của một nhân vật được chứng kiến câu chuyện ( Ông giáo ) làm cho câu chuyện giàu tính chân thực. . .
- Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật: thông qua ngoại hình và nhất là miêu tả
diễn biến tâm lí nhân vật rất thành công. Nhân vật chính (Lão Hạc) được miêu tả và nhìn
nhận qua nhiều nhân vật khác (qua ông giáo, Binh Tư, qua vợ ông giáo )
- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện: từ những sự việc tưởng như rất vụn vặt, tác giả đã tạo ra sự hấp dẫn của câu chuyện qua các tình huống truyện : từ việc lão Hạc bán con chó vàng,lão Hạc nhờ ông giáo trông coi giúp mảnh vườn, lão Hạc xin bả chó đến cái chết thêthảm của lão Hạc ...
Nội dung:
- Những phẩm chất đáng quý của lão Hạc, cái chết thê thảm và đau đớn của lão Hạc đã phản ánh tình cảnh đói khổ, bế tắc của người nông dân Việt Nam trướcCách mạng tháng Tám 1945; đồng thời cũng thể hiện cái nhìn đầy yêu thương và trân trọng đối với người nông dân (cáinhìn nhânđạo )của nhà văn Nam Cao…
Mở bài
Trong kho tàng truyện ngụ ngôn Việt Nam, truyện “Đẽo cày giữa đường” là một câu chuyện quen thuộc, giàu ý nghĩa giáo dục. Nhân vật trung tâm của truyện là người thợ mộc – một người chăm chỉ nhưng lại có nhược điểm lớn là thiếu chính kiến. Nhân vật này để lại ấn tượng sâu sắc bởi sự cả tin và thay đổi liên tục theo ý kiến của người khác.
Thân bài
Người thợ mộc trong truyện xuất hiện với hoàn cảnh rất bình thường: anh nhận được một khúc gỗ và mang ra đường để đẽo thành chiếc cày đem bán. Ban đầu, anh có ý định rõ ràng và mong muốn làm ra một sản phẩm tốt. Tuy nhiên, trong quá trình đẽo cày, mỗi khi có người đi qua góp ý, anh lại lập tức nghe theo mà không suy nghĩ đúng sai.
Khi có người bảo cày phải đẽo thế này mới tốt, anh liền làm theo. Người khác lại nói cách đó không đúng, anh lại đổi ngay sang cách khác. Cứ như vậy, người thợ mộc liên tục thay đổi cử chỉ và hành động, hết sửa rồi lại đẽo lại, hoàn toàn không có lập trường riêng. Những chi tiết này cho thấy anh là người thiếu suy nghĩ độc lập, không tin vào hiểu biết của bản thân, chỉ biết làm theo lời người khác một cách máy móc.
Kết quả là chiếc cày cuối cùng không ra hình dạng gì, không thể sử dụng được. Điều đó phản ánh rõ hậu quả của việc không có chính kiến: công sức bỏ ra nhiều nhưng kết quả lại bằng không. Qua cách xây dựng tình huống truyện đơn giản, ngắn gọn nhưng giàu tính biểu tượng, tác giả dân gian đã khắc họa thành công hình ảnh người thợ mộc như một kiểu nhân vật điển hình cho thói “ba phải”.
Về mặt nghệ thuật, truyện sử dụng lối kể chuyện ngắn gọn, tình huống lặp lại nhiều lần để nhấn mạnh tính cách nhân vật. Nhân vật người thợ mộc không được miêu tả nhiều về ngoại hình mà chủ yếu được thể hiện qua hành động, lời nói gián tiếp, từ đó làm nổi bật nhược điểm của anh. Cách kể chuyện nhẹ nhàng nhưng mang ý nghĩa phê phán sâu sắc.
Nhận xét về nhân vật, em thấy người thợ mộc là người đáng trách nhưng cũng đáng thương. Đáng trách vì anh không biết suy nghĩ, không tự tin vào bản thân; đáng thương vì chính sự thiếu bản lĩnh ấy đã khiến anh thất bại.
Kết bài
Qua việc phân tích nhân vật người thợ mộc trong truyện “Đẽo cày giữa đường”, câu chuyện đã gửi gắm một bài học sâu sắc: trong cuộc sống, mỗi người cần có chính kiến, biết lắng nghe ý kiến người khác nhưng phải biết chọn lọc và suy nghĩ độc lập. Chỉ khi có lập trường vững vàng, con người mới có thể đạt được thành công.
Mở bài:
Truyện ngụ ngôn “Đẽo cày giữa đường” là một câu chuyện dân gian quen thuộc, mang ý nghĩa phê phán sâu sắc. Nhân vật trung tâm của truyện là người thợ mộc – một con người hiền lành, chăm chỉ nhưng lại có nhược điểm lớn là thiếu chính kiến, dễ bị chi phối bởi ý kiến của người khác. Chính đặc điểm nổi bật này đã dẫn đến thất bại của nhân vật và tạo nên bài học sâu sắc cho người đọc.
Thân bài:
Người thợ mộc xuất hiện trong hoàn cảnh rất đời thường: anh đẽo cày đem ra chợ bán để kiếm sống. Ban đầu, anh có ý định và cách làm riêng của mình, điều đó cho thấy anh là người lao động cần cù, có mong muốn làm ra sản phẩm tốt để bán được giá. Tuy nhiên, khi vừa bắt tay vào công việc, anh lại liên tục nghe theo những lời góp ý của người qua đường.
Hễ có người bảo cày to thì anh đẽo to, có người chê to lại nghe theo và đẽo nhỏ, người khác lại góp ý làm cong hay làm thẳng, anh đều răm rắp làm theo. Những cử chỉ và hành động đó cho thấy người thợ mộc là người không có lập trường vững vàng, không biết suy nghĩ, chọn lọc ý kiến đúng sai. Anh không tự tin vào quyết định của bản thân mà luôn phụ thuộc vào người khác.
Về mặt ý nghĩ, người thợ mộc tin rằng ai cũng nói đúng và cho rằng làm theo số đông thì sẽ tốt. Nhưng chính sự cả tin, thiếu suy xét ấy đã khiến sản phẩm cuối cùng trở nên méo mó, không dùng được, “chẳng giống cái cày nào”. Qua đó, tác giả dân gian đã khéo léo phê phán thói quen sống không có chính kiến, dễ bị dao động.
Truyện được xây dựng bằng nghệ thuật kể chuyện ngắn gọn, tình huống đơn giản nhưng giàu tính biểu tượng. Nhân vật người thợ mộc được khắc họa chủ yếu qua hành động, không cần miêu tả cầu kỳ mà vẫn làm nổi bật tính cách. Lối kể mộc mạc, gần gũi giúp bài học trở nên dễ hiểu và dễ nhớ.
Nhận xét về nhân vật người thợ mộc, em thấy anh là hình ảnh tiêu biểu cho những người làm việc mà không có lập trường, không biết tự chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Dù chăm chỉ nhưng vì thiếu bản lĩnh nên cuối cùng vẫn thất bại.
Kết bài:
Qua việc phân tích đặc điểm nhân vật người thợ mộc trong truyện “Đẽo cày giữa đường”, truyện ngụ ngôn đã gửi gắm bài học sâu sắc: trong cuộc sống và học tập, con người cần biết lắng nghe ý kiến người khác nhưng phải có chính kiến, biết suy nghĩ và lựa chọn đúng đắn. Nếu không, chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng “đẽo cày giữa đường”, làm việc gì cũng dang dở và không đạt kết quả tốt.
Đúng thì tick hộ mình nhé hehehe
đợi xíu
Mở bài
Trong kho tàng truyện ngụ ngôn Việt Nam, “Đẽo cày giữa đường” là một tác phẩm quen thuộc, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nhân vật trung tâm của câu chuyện là người thợ mộc – hình ảnh tiêu biểu cho sự thiếu bản lĩnh, dễ dao động trước ý kiến của người khác. Ấn tượng nổi bật về nhân vật này chính là sự thiếu kiên định, dẫn đến hành động sai lầm và kết quả thất bại.
Thân bài
1. Đặc điểm nhân vật qua chi tiết cụ thể
Hoàn cảnh: Người thợ mộc vốn có nghề, có khả năng làm ra chiếc cày để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, khi đem cày ra đường, ông lại gặp nhiều người góp ý.
Cử chỉ, hành động: Mỗi lần nghe ai đó chê bai, ông lập tức thay đổi cách đẽo cày theo lời khuyên ấy. Hành động liên tục sửa đổi cho thấy ông không có chính kiến, dễ bị tác động.
Ý nghĩ: Người thợ mộc tin rằng lời người khác luôn đúng hơn mình, nên không dám giữ quan điểm riêng. Điều này phản ánh sự thiếu tự tin và thiếu bản lĩnh.
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Truyện ngụ ngôn sử dụng tình huống đơn giản nhưng giàu tính biểu tượng: một người thợ mộc đẽo cày giữa đường, ai đi qua cũng góp ý.
Nhân vật được khắc họa qua hành động chứ không cần miêu tả dài dòng. Chính sự thay đổi liên tục của ông đã bộc lộ rõ bản chất thiếu kiên định.
Ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích, giàu tính hàm ý, giúp người đọc dễ dàng rút ra bài học.
3. Nhận xét về nhân vật
Người thợ mộc là hình ảnh phê phán thói ba phải, thiếu lập trường trong xã hội.
Tuy nhiên, nhân vật cũng mang tính chất cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi người phải biết cân nhắc, chọn lọc ý kiến thay vì mù quáng nghe theo tất cả.
Kết bài
Qua việc phân tích nhân vật người thợ mộc trong truyện ngụ ngôn “Đẽo cày giữa đường”, ta thấy được bài học sâu sắc: Trong cuộc sống, cần có chính kiến, bản lĩnh và sự kiên định. Biết lắng nghe người khác là cần thiết, nhưng phải có sự chọn lọc và tin tưởng vào khả năng của bản thân. Nếu không, ta sẽ dễ rơi vào thất bại như người thợ mộc trong câu chuyện.