K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

27 tháng 1

Bài thơ Bếp lửa gợi trong em những cảm xúc ấm áp và xúc động về tình bà cháu thiêng liêng. Hình ảnh bếp lửa không chỉ là ngọn lửa nấu ăn quen thuộc mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, sự chở che và hi sinh thầm lặng của bà. Qua những kỉ niệm tuổi thơ gian khó, em cảm nhận được tấm lòng nhẫn nại, giàu đức hi sinh của người bà luôn vì cháu mà chịu đựng mọi vất vả. Bếp lửa bà nhóm lên còn là ngọn lửa của niềm tin, của hi vọng giúp cháu vững bước trong cuộc sống. Bài thơ khiến em thêm trân trọng những năm tháng tuổi thơ bên gia đình, đặc biệt là bên bà. Em cũng thầm nhắc mình phải biết yêu thương, kính trọng và biết ơn những người thân yêu khi còn có thể. Bếp lửa không chỉ là bài thơ về kỉ niệm mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về cội nguồn và tình cảm gia đình.

27 tháng 1

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt đã gợi cho em nhiều cảm xúc sâu lắng và xúc động. Hình ảnh bếp lửa gắn liền với người bà hiện lên thật giản dị mà ấm áp. Qua những kỉ niệm tuổi thơ bên bà, em cảm nhận được tình bà cháu thiêng liêng và bền chặt. Bếp lửa không chỉ sưởi ấm những ngày đông giá rét mà còn nuôi dưỡng tâm hồn và niềm tin cho cháu. Em rất xúc động trước sự hi sinh thầm lặng, tần tảo của người bà trong những năm tháng khó khăn. Bài thơ khiến em thêm yêu quý và trân trọng những người thân trong gia đình. Đồng thời, em cũng tự nhắc mình phải biết yêu thương, quan tâm và giữ gìn những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.

22 tháng 3

Câu 1. bài thơ mẹ tôi của từ dạ linh gợi trong em nhiều cảm xúc sâu lắng về tình mẫu tử thiêng liêng, hình ảnh người mẹ hiện lên giản dị mà giàu tình yêu thương, luôn âm thầm hi sinh vì con cái, em cảm nhận được sự vất vả, tảo tần và cả những nỗi lo lắng mà mẹ dành cho con trong từng chi tiết nhỏ, bài thơ không chỉ thể hiện tình yêu thương của mẹ mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ nhiều hơn, qua đó em hiểu rằng mẹ luôn là chỗ dựa vững chắc nhất trong cuộc đời, vì vậy em sẽ cố gắng học tập tốt và sống có trách nhiệm để không phụ lòng mẹ, bài thơ đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc và làm em thêm yêu quý gia đình của mình

24 tháng 9 2025

t bt


24 tháng 9 2025

Tớ làm cho cậu nì:

“Trăng sáng trăng soi rừng núi
Trăng lên trăng tỏ trên trời.”

Khi đọc bài thơ này, mình cảm nhận được vẻ đẹp yên bình và thơ mộng của ánh trăng đêm. Trăng không chỉ là ánh sáng chiếu rọi mọi vật mà còn như người bạn đồng hành, dịu dàng và tinh khiết giữa bầu trời rộng lớn. Đêm trăng làm cho tâm hồn mình thấy nhẹ nhàng, thanh thản, như được rửa sạch những muộn phiền thường ngày. Mình tưởng tượng ánh trăng vàng dịu dàng chiếu xuống, tỏa sáng từng ngọn cây, từng ngọn núi xa xa, tạo nên một khung cảnh nên thơ, đầy chất thi ca. Bài thơ gợi cho mình niềm tin vào vẻ đẹp tự nhiên và sự yên bình trong cuộc sống. Cảm giác ấy làm mình muốn ngồi lại, tận hưởng từng phút giây lặng lẽ bên ánh trăng sáng.

Nếu cậu thấy cách xưng hô ko đúng thì cậu sửa lại nhe.Tớ mới học ý nên là nếu cậu thấy hợp lí thì cậu cho mình 2 coin nha !! =3

21 tháng 1 2022

Refer:

Thời xưa những người đã từng trải qua thời kì loạn lạc có mấy ai hiểu được cảm giác tự do của cuộc sống họ suốt ngày phải chịu sự bóc lột của bọn tham quan xấu xa một phần cũng đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây,họ lo sợ họ có thể bị giết bất cứ lúc nào ,trong tâm thế của một người bị ràng buộc với dây xích không nối thoát thân.Sự tự do được khẳng định chắc nịch ngay từ trong suy nghĩ của nhà thơ. Cuộc sống tự do là được chiêm ngưỡng những cảnh đẹp làm những thứ mình thích mà không bị ai ép buộc. Bên trong nhà tù thì tối tăm mịt kín ,bên ngoài thì tiếng con tu hú gọi bầy biểu trưng cho người thân của tác giả ngóng trông tác giả chờ một ngày trở về.Còn những hình ảnh:"lúa chiêm đang chín,trái cây ngọt dần ,bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào" thể hiện được sự những ham muốn của tác giả khi tác giả vẫn còn tự do.còn bầu trời rộng lớn thể hiện cho sự tư do khi có thể bay nhảy tùy thích chứ không chật hẹp và oi bức như căn phòng của nhà tù.còn con tu hú thể hiện cho tác giả ở ngoài bầu trời khi vẫn còn bay nhảy thỏa thích một cách tự do và  không bị trói buộc như bây giờ.Nhìn thấy sự tự do của con chim tu hú mà ta không kìm được lòng bởi sự ham muốn sau bao ngày tháng bị ràng buộc .cuộc sông chật chội, ngột ngạt thật khó mà có thể kìm được nỗi lòng của tâm hồn của người thi sĩ đang bay cao trên bầu trời rộng lớn.con chim tu hú đang trong lồng thì uất ức muốn phá tan lồng sắt để trở về cuộc sống tự do còn những chú chim tu hú ngoài lồng thì mong mỏi chờ một ngày người thân của mình về đoàn tụ

6 tháng 11 2017

Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm - nhân vật lão Hạc - dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.

Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ôm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,...

Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử...! Cái chết của
lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên... Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.

Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.

Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,... ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,... là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.

Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!

Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Caor..) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch" khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “"con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn di. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!

Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người - kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng. Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, định khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!

Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.

Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.

Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.

Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.

Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiệm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!

Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dân Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.

9 tháng 12 2017

Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm - nhân vật lão Hạc - dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.Mặc dù lão phải sống khốn khổ , nghèo túng nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình. Lão yêu thương con rất mực. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Không chỉ vậy, tình yêu thương lão dành cho con được dâng trào đến cực điểm khi lão tử tự bằng bả chó. Qua đó , nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!