Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đáp án C
Quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) có sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao (chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơnevơ). cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) kết thúc bằng một trận quyết chiến chiến lược (cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh)
| Thời gian | Thắng lợi tiêu biểu |
| 21 - 7 - 1954 | Ký Hiệp định Giơnevơ kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương |
| 1959 - 1960 | Phong trào “Đồng khởi” thắng lợi, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch, làm lung lay chính quyền Ngô Đình Diệm, làm phá sản “chiến lược Aixenhao”. |
| 20 - 2 - 1960 | Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời đã làm nhiệm vụ đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống Mĩ - Ngụy. |
| 9 - 1960 | Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. |
| 1961 - 1965 | Đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. |
| 1965 - 1968 | Đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ. |
| Năm 1968 | Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân |
| 1969 - 1973 | Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”. |
| Năm 1972 | Tổng tiến công chiến lược |
| Năm 1973 | Thắng Mĩ trận “Điện Biên Phủ trên không”. |
| 21 - 7 - 1973 | Ký kết Hiệp định Pari |
* Nguyên nhân chủ quan :
- Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở Miền Nam, với phương pháp đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao.
- Nhân dân ta ở hai miền giàu lòng yêu nước, đoàn kết nhất trí, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, xây dựng bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, có khả năng đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc chiến đấu ở hai miền.
* Nguyên nhân khách quan :
- Cuộc kháng chiến thắng lợi nhờ sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong quá trình đấu tranh chống kẻ thù chung của 3 dân tộc ở Đông Dương.
- Sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ trên thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác.
- Phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và đế quốc Mĩ
Đáp án B
Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1954 - 1975) kết thúc thắng lợi đã mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kĩ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đáp án C
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 đã buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược- tức là thừa nhận sự thất bại của “chiến tranh cục bộ”, rút dần lực lượng quân Mĩ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam, chuyển sang thực hiện một chiến lược mới
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đóng vai trò trung tâm trong việc tập hợp, đoàn kết các lực lượng yêu nước, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, hình thành chính quyền cách mạng, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, và cùng toàn dân kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
Vai trò Cụ thể:
1. Tập hợp và đoàn kết lực lượng:
- Tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân yêu nước, dân tộc thiểu số, các tôn giáo, đảng phái chống Mỹ cứu nước, tạo thành khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc.
- Mở rộng mặt trận với sự ra đời của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (1968), bao gồm trí thức, tư sản dân tộc ở đô thị, làm phong phú thêm lực lượng cách mạng.
2. Lãnh đạo đấu tranh chính trị và vũ trang:
- Là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện đường lối quân sự, chính trị của Đảng trên chiến trường miền Nam, phát động phong trào toàn dân đánh giặc.
- Xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng, hậu phương tại chỗ vững mạnh, là chỗ dựa cho cách mạng.
3. Xây dựng chính quyền cách mạng: Thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969), tạo cơ sở pháp lý vững chắc, đại diện cho ý chí độc lập, tự do của nhân dân miền Nam.
4. Đoàn kết quốc tế: Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, góp phần vào thắng lợi chung.
5. Biểu tượng và ngọn cờ tập hợp: Trở thành ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân miền Nam đấu tranh vì mục tiêu chung là độc lập, tự do, thống nhất đất nước, thể hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một thành công lớn của đường lối xây dựng và mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc của Đảng, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của dân tộc.
- Về quân sự: Phối hợp xây dựng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân đánh bại các chiến lược của Mỹ [4, 5].
- Về chính trị: Lãnh đạo các phong trào đấu tranh ở đô thị và nông thôn, phá tan hệ thống "ấp chiến lược" của địch [1, 5].
3. Thực hiện chức năng chính quyền (1960 - 1969) Trước khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời năm 1969, Mặt trận đóng vai trò như một chính quyền cách mạng [3]. Mặt trận đã thực hiện các chính sách như:- Chia ruộng đất cho nông dân.
- Xây dựng hệ thống y tế, giáo dục và văn hóa tại các vùng giải phóng [4, 6].
4. Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Mặt trận là đại diện duy nhất và chân chính của nhân dân miền Nam trên trường quốc tế [1, 3].- Thiết lập cơ quan đại diện tại nhiều quốc gia và tham gia các tổ chức quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại yêu chuộng hòa bình [2, 6].
- Đóng vai trò quan trọng trong việc đàm phán và ký kết Hiệp định Paris năm 1973, buộc Mỹ phải rút quân về nước [3, 5].
5. Chuẩn bị tiền đề cho ngày đại thắng Mặt trận đã tạo ra thế và lực vững chắc, kết hợp với sức mạnh của hậu phương miền Bắc để tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975 [2, 4].ngu xuẩn