Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Sử dụng linh hoạt các kiểu câu: nghi vấn, cảm thán
- Dùng các thủ pháp: so sánh, liên tưởng: “Bó hành hoa xanh như lá mạ”, “một làn sương mỏng, mơ hồ như bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu”...
- Biểu lộ cảm xúc: “trông mà thèm quá”, “có ai lại đừng vào ăn cho được”...
📖 1. Văn học Việt Nam (ngoài SGK 10)
- “Hịch tướng sĩ” – Trần Quốc Tuấn (vừa hùng hồn, vừa khích lệ lòng yêu nước).
- “Cáo bệnh, báo thân” – Nguyễn Trãi (tâm sự đời ẩn dật).
- Thơ Hồ Xuân Hương: “Bánh trôi nước”, “Tự tình”, “Đánh cờ người”… (nổi bật tiếng nói cá tính, nữ quyền).
- Thơ Nguyễn Công Trứ: “Bài ca ngất ngưởng”, “Hàn nho phong vị phú”.
- Thơ Tú Xương: giễu cợt, trào phúng, rất vui nhưng sâu sắc.
- Một số tác phẩm Nam Cao (ngoài SGK có Đời thừa, Sống mòn…).
- Thạch Lam: tập truyện ngắn Hà Nội băm sáu phố phường, Gió đầu mùa.
📖 2. Văn học nước ngoài
- Thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch (Trung Quốc) – vừa trữ tình vừa hào hùng.
- Truyện ngắn Anton Chekhov (Nga) – ngắn gọn mà sâu.
- “Những người khốn khổ” – Victor Hugo (Pháp).
- “Thép đã tôi thế đấy” – Nikolai Ostrovsky (Nga).
- “Chiến tranh và hòa bình” – Lev Tolstoy (Nga).
- Shakespeare: Romeo và Juliet, Hamlet.
- “Trà hoa nữ” – Alexandre Dumas con (Pháp).
+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.
Nhà triết gia Francis Bacon từng khẳng định: “Sách làm đầy đủ con người.” Quả thật, sách không chỉ là kho tàng tri thức, mà còn là nhịp cầu nối liền tâm hồn con người qua mọi thời đại. Mỗi trang sách mở ra như một cánh cửa nhiệm màu, đưa ta vượt qua ngưỡng thời gian và không gian để chạm đến những miền đất xa lạ, gặp gỡ những tâm hồn đã từng sống, từng yêu, từng đau khổ và từng hiến dâng. Có khi đó là ngọn đuốc sử thi, soi rọi những trận chiến, những khát vọng tự do và ý chí trường tồn; có khi lại là tiếng thở dài khẽ khàng trong những trang nhật ký, hé lộ sự mong manh, hữu hạn của kiếp người; và cũng có khi là lời ca ngân nga trong thơ, chở nặng thương nhớ, niềm tin cùng những giấc mơ chưa bao giờ tắt. Sách lưu giữ hộ ta những giọt lệ của nhân loại, đồng thời truyền lại ngọn lửa niềm tin và ý chí sống cho hôm nay. Đọc sách là đối thoại với muôn đời, là học cách đồng cảm với một con người xa lạ tận chân trời, là lắng nghe tiếng vọng của chính mình giữa vô biên tri thức và cảm xúc. Chính trong hành trình ấy, ta nhận ra một sự thật giản dị mà lớn lao: con người, dù cách biệt bao nhiêu về thời đại, văn hóa hay số phận, vẫn gặp nhau ở một điểm chung bất diệt – khát vọng sống, khát vọng yêu thương và khẳng định ý nghĩa đời mình. Và khi khép lại trang sách, ta mới hiểu: điều kỳ diệu nhất không phải là tri thức đã được lưu giữ, mà là sự sống trong ta vừa được đánh thức – sự sống biết cảm, biết nghĩ, biết yêu và biết nối dài ước mơ nhân loại.
Hiểu nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn
Nhận định khẳng định sứ mệnh kép của nhà văn:
- "Sáng mắt, sáng lòng": Nhà văn phải có tầm nhìn sắc bén và trái tim nhân hậu để phát hiện mọi vẻ đẹp, giá trị tiềm ẩn lẫn những góc khuất tăm tối của đời sống.
- "Đấu tranh không khoan nhượng": Văn chương không chỉ phản ánh mà còn phải dấn thân, bênh vực cái thiện, lên án cái ác, góp phần cải tạo xã hội.
→ Văn học chân chính phải là "tấm gương soi đời" (Stendhal) và "cây búa đập vào bức tường thành" (Brecht).
Phân tích một số tác phẩm làm sáng tỏ
1. "Chí Phèo" (Nam Cao)
- Phát hiện cái đẹp:
- Vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn Chí Phèo (khát khao lương thiện, tình yêu với Thị Nở).
- Vẻ đẹp nhân văn của Thị Nở – người đàn bà xấu xí nhưng giàu tình thương.
- Phơi bày cái ác:
- Bá Kiến – đại diện cho thế lực thống trị tàn bạo, biến con người thành "quỷ dữ".
- Xã hội nông thôn phong kiến đầy định kiến, đẩy Chí vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.
→ Nam Cao đấu tranh cho nhân tính bằng cách vạch trần cơ chế tha hóa, đồng thời tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người.
2. "Vợ nhặt" (Kim Lân)
- Cái đẹp trong tăm tối:
- Tình người ấm áp giữa nạn đói (bà cụ Tứ nhường cơm, Tràng cưu mang vợ).
- Khát vọng sống mãnh liệt của người lao động.
- Cái ác hiện hình:
- Nạn đói 1945 do thực dân, phát xít gây ra, biến con người thành "bóng ma".
- Sự hủy diệt nhân tính (cảnh xác người chết nằm la liệt).
→ Kim Lân bảo vệ cái thiện bằng cách cho thấy: dù trong cùng cực, tình yêu thương vẫn là cứu cánh.
3. "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam)
- Cái đẹp mong manh:
- Ánh sáng đoàn tàu – biểu tượng của hy vọng, khát vọng đổi đời.
- Tâm hồn tinh tế của Liên trước vẻ đẹp bình dị (đom đóm, mùi đất ẩm).
- Cái xấu lặng lẽ:
- Cuộc sống tù đọng, bế tắc của phố huyện nghèo.
- Sự bất công khi con người bị mắc kẹt trong bóng tối.
→ Thạch Lam đấu tranh bằng lòng trắc ẩn, lay tỉnh ý thức về giá trị cuộc sống.
Kết luận
- Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn khẳng định tính chiến đấu của văn học. Các tác phẩm lớn đều là sự kết hợp giữa cái nhìn đa chiều và tư tưởng nhân văn.
- Qua phân tích, ta thấy: Nhà văn chân chính không chỉ miêu tả hiện thực mà còn gửi gắm thông điệp đạo đức, góp phần thay đổi nhận thức xã hội.
- THAM KHẢO
Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn nhấn mạnh vai trò của nhà văn là phải “sáng mắt, sáng lòng” để nhìn rõ cái hay, cái đẹp và cả cái xấu, cái ác trong cuộc sống. Nhà văn không chỉ phản ánh thực tế mà còn phải đấu tranh loại bỏ điều xấu, bảo vệ và phát huy cái thiện qua tác phẩm của mình.
Ví dụ, trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao, nhà văn thể hiện lòng thương cảm với người nông dân nghèo khổ và lên án xã hội bất công. Hay trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, tác phẩm vừa tôn vinh vẻ đẹp nghệ thuật vừa phê phán bạo lực gia đình.
Như vậy, nhà văn góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn bằng cách thể hiện và bảo vệ những giá trị nhân văn trong văn học.
camon
uh
thank
thanks kiu nhó