K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (8 điểm): “Sao phải hòa nhập khi mà bạn sinh ra để nổi bật?” – Dr. Seuss

Câu nói của Dr. Seuss là một lời nhắn nhủ mạnh mẽ về giá trị của sự khác biệt và cá tính riêng. Trong xã hội hiện đại, khi chuẩn mực và khuôn mẫu dễ khiến con người trở nên giống nhau, thì việc giữ gìn bản sắc cá nhân lại càng quan trọng.

Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan. Mỗi người đều có những điểm độc đáo, những khả năng riêng biệt. Việc “nổi bật” không phải là khoe khoang, mà là dám sống thật với chính mình, dám theo đuổi điều mình tin tưởng, dù khác biệt với số đông.

Trong thực tế, những người tạo ra sự thay đổi lớn lao cho thế giới — từ nghệ sĩ, nhà khoa học đến nhà lãnh đạo — đều là những người không ngại nổi bật, không ngại đi ngược dòng. Họ không hòa nhập để vừa lòng người khác, mà sống đúng với bản chất để cống hiến.

Vì vậy, câu nói không cổ vũ sự tách biệt, mà khuyến khích mỗi người tìm ra giá trị riêng, sống đúng với bản thân, và từ đó góp phần làm phong phú cho cộng đồng.

Câu 2 (12 điểm): “Một tác phẩm siêu việt là một tác phẩm làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” – Voltaire

Voltaire đã nhấn mạnh một chân lý sâu sắc: văn học vĩ đại không né tránh khổ đau, mà khắc họa nó bằng sự thấu hiểu và nghệ thuật, để từ đó làm nên giá trị bất hủ.

Trong lịch sử văn học, những tác phẩm siêu việt thường là những bản ghi chép chân thật về nỗi đau, sự mất mát, và khát vọng sống. Ví dụ:

  • “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ kể về một người đàn bà bị bạo hành, mà còn đặt ra câu hỏi về cái nhìn nghệ thuật và sự thật cuộc sống.
  • “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười châm biếm nhưng cũng là tiếng khóc cho một xã hội lố lăng, đầy bi kịch.
  • “Những người khốn khổ” của Victor Hugo là bản anh hùng ca về lòng nhân đạo giữa thống khổ cùng cực.

Tác phẩm siêu việt không chỉ khiến người đọc xúc động, mà còn gợi mở nhận thức, giúp con người hiểu hơn về chính mình và thế giới. Nỗi thống khổ trong văn học không phải để bi lụy, mà để thức tỉnh, để sưởi ấm, và để lưu giữ nhân tính.

Vì vậy, ý kiến của Voltaire là một định nghĩa sâu sắc về sứ mệnh của văn học: làm bất tử những nỗi đau, để từ đó làm bất tử lòng trắc ẩn và khát vọng sống của con người.

28 tháng 9 2025

Câu 1 (8 điểm): “Sao phải hòa nhập khi mà bạn sinh ra để nổi bật?” – Dr. Seuss

Câu nói của Dr. Seuss là một lời nhắn nhủ mạnh mẽ về giá trị của sự khác biệt và cá tính riêng. Trong xã hội hiện đại, khi chuẩn mực và khuôn mẫu dễ khiến con người trở nên giống nhau, thì việc giữ gìn bản sắc cá nhân lại càng quan trọng.

Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan. Mỗi người đều có những điểm độc đáo, những khả năng riêng biệt. Việc “nổi bật” không phải là khoe khoang, mà là dám sống thật với chính mình, dám theo đuổi điều mình tin tưởng, dù khác biệt với số đông.

Trong thực tế, những người tạo ra sự thay đổi lớn lao cho thế giới — từ nghệ sĩ, nhà khoa học đến nhà lãnh đạo — đều là những người không ngại nổi bật, không ngại đi ngược dòng. Họ không hòa nhập để vừa lòng người khác, mà sống đúng với bản chất để cống hiến.

Vì vậy, câu nói không cổ vũ sự tách biệt, mà khuyến khích mỗi người tìm ra giá trị riêng, sống đúng với bản thân, và từ đó góp phần làm phong phú cho cộng đồng.

Câu 2 (12 điểm): “Một tác phẩm siêu việt là một tác phẩm làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” – Voltaire

Voltaire đã nhấn mạnh một chân lý sâu sắc: văn học vĩ đại không né tránh khổ đau, mà khắc họa nó bằng sự thấu hiểu và nghệ thuật, để từ đó làm nên giá trị bất hủ.

Trong lịch sử văn học, những tác phẩm siêu việt thường là những bản ghi chép chân thật về nỗi đau, sự mất mát, và khát vọng sống. Ví dụ:

  • “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ kể về một người đàn bà bị bạo hành, mà còn đặt ra câu hỏi về cái nhìn nghệ thuật và sự thật cuộc sống.
  • “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười châm biếm nhưng cũng là tiếng khóc cho một xã hội lố lăng, đầy bi kịch.
  • “Những người khốn khổ” của Victor Hugo là bản anh hùng ca về lòng nhân đạo giữa thống khổ cùng cực.

Tác phẩm siêu việt không chỉ khiến người đọc xúc động, mà còn gợi mở nhận thức, giúp con người hiểu hơn về chính mình và thế giới. Nỗi thống khổ trong văn học không phải để bi lụy, mà để thức tỉnh, để sưởi ấm, và để lưu giữ nhân tính.

Vì vậy, ý kiến của Voltaire là một định nghĩa sâu sắc về sứ mệnh của văn học: làm bất tử những nỗi đau, để từ đó làm bất tử lòng trắc ẩn và khát vọng sống của con người.

Báo cáo nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng 1,đặt vấn đề*Lí do chọn đè tài-Tính cấp thiết và xu hướng :+Thời trang bền vững đang dần trở thành môt xu hướng tiêu dùng quan trọng trên toàn cầu+Thế hệ gen Z là nhóm người tiêu dùng năng động,có sức ảnh hưởng lớn và ngày càng quan tâm đến gái trị đâọ đức ,môi trường trong quyết định mua sắm+Tác động của ngành công nghiệp thời...
Đọc tiếp

Báo cáo nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng

1,đặt vấn đề

*Lí do chọn đè tài

-Tính cấp thiết và xu hướng :

+Thời trang bền vững đang dần trở thành môt xu hướng tiêu dùng quan trọng trên toàn cầu

+Thế hệ gen Z là nhóm người tiêu dùng năng động,có sức ảnh hưởng lớn và ngày càng quan tâm đến gái trị đâọ đức ,môi trường trong quyết định mua sắm

+Tác động của ngành công nghiệp thời trang đến môi trường xã hội

*Mục đích nghiên cứu

-Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thời trang bền vững,hành vi người tiêu dùng và đặc điểm của thế hệ gen Z

-Đánh giá nhận thức,thái độ và hành vi hiện tại của gen Z Việt Nam đói với thời trang bền vững

-Xác định các yếu tố(giá cả,nhạn thức về môi trường,ảnh hưởng từ mạng xã hội,thông điẹp marketing) tác động đến quyết định mua sắ

-Đề xuất 1 hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp thời trang nhằm thúc đẩy tiêu dùng,Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu:Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của thế hệ Gen Z

-Phạm vi nghiên cứu:

+Không gian:Thế hệ Gen Z đang sinh sống và học tập/làm việc tại Thái Nguyên

+Thời gian:Dữ liệu thu thập trong 1-2 năm gần nhất(2024-2025)

*Phương pháp nghiên cứu

-Khảo sát bằng bảng hỏi:Phát cho sinh viên trường đại học Thái Nguyên,công nhân khu CN Sông Công,người dân mua sắm tại chợ, trung tâm thương mại

-Phỏng vấn:Một số chủ shop thời trang tại Tp Thái Nguyên

-Quan sát thực tế:Lượng khách vào các shop/cửa hàng ở các dịp lễ hoặc ngày thường

-Thống kê-tổng hợp:Số liệu về doanh thu ngành bán lẻ thời trang

2,Giải quyết vấn đềl

Việc lựa chọn đề tài do hiện nay nhiều các bạn trẻ còn đang chưa tiêu dùng đúng đắn vè việc quyết định mua sắm đồng thời giúp hiểu rõ thói quen tiêu dùng và tâm lí mua sắm của gen Z như ta biết thì gen z là 1 thế hệ trẻ năng động có thói quen tiêu dùng đa dạng những ở Thái Nguyên mà con ở 1 số tỉnh khác.Thực trạng hiẹn nay vào các thời diểm như mới vào năm học,tết,ngày lễ,.. các bạn trẻ đổ xô nhau đi mua sắm.Nguyên nhân có thể do ảnh hưởng từ mạng xã hội,bạn bè,tâm lí thích"bắt trend" khẳng định phong cách không những mua sắm trực tiếp mà con mua bằng hình thức online.

3,Kết luận

Việc này phản ánh về lối sống,gu thẩm mĩ và văn hóa tiêu dùng của thế hẹ trẻ,cũng làm thế hệ trẻ có thể tìm cái mới mẻ,năng động,bắt kịp theo xu hướng.Bên cạnh đó, nó dễ mua sắm bốc đồng không lo nghĩ dẫn đến hoang phí,chạy đua trào lưu quá mức.Vì vậy,cần xây dựng văn hóa mua sắm thông minh,cân bằng giữa phong cách và tài chính.Để giúp chúng ta hiểu hành vi mua sắm của Gen z,làm sáng tỏ đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên vừa phát triển toàn cầu vừa mang dấu ấn địa phương

0
Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. *Đặt vấn đề:Lý do chọn đề tàiĐối tượng phạm vi nghiên cứuMục đích nghiên cứuPhương pháp nghiên cứuViết nghiên cứu *Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu. -1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945 +Khái niệm hình tượng văn học và vai trò...
Đọc tiếp

Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

*Đặt vấn đề:

Lý do chọn đề tài

Đối tượng phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Viết nghiên cứu

*Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu.

-1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945

+Khái niệm hình tượng văn học và vai trò của hình tượng người phụ nữ trong văn học.

+Bối cảnh xã hội, văn hóa và tư tưởng giai đoạn 1930-1945 (những ảnh hưởng đến văn học và quan niệm về phụ nữ).

-2: Hình tượng người phụ nữ trong các sáng tác tiêu biểu

+Hình tượng người phụ nữ bi kịch, đau khổ (ví dụ: nhân vật của Nam Cao).

+Hình tượng người phụ nữ với khát vọng đổi đời, tìm kiếm sự giải phóng (ví dụ: nhân vật của Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam).

+Phân tích sự đa dạng trong cách khai thác: từ thân phận nô lệ đến những nét tính cách mới.

-3: Đánh giá và những đóng góp của văn học giai đoạn 1930-1945

+Giá trị nhân văn trong việc khắc họa thân phận người phụ nữ.

+Sự thể hiện những trăn trở, đấu tranh và khát vọng của người phụ nữ trong xã hội.

+Đóng góp của hình tượng người phụ nữ vào sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam.

Kết luận: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa của đề tài.

Tài liệu tham khảo: Liệt kê các sách, bài báo, công trình đã sử dụng.

0
đề tài:các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm sản phẩm thời trang của thế hệ Gen z1,đặt vấn đề*Lí do chọn đè tài-Tính cấp thiết và xu hướng :+Thời trang bền vững đang dần trở thành môt xu hướng tiêu dùng quan trọng trên toàn cầu+Thế hệ gen Z là nhóm người tiêu dùng năng động,có sức ảnh hưởng lớn và ngày càng quan tâm đến gái trị đâọ đức ,môi trường trong quyết...
Đọc tiếp

đề tài:các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm sản phẩm thời trang của thế hệ Gen z

1,đặt vấn đề

*Lí do chọn đè tài

-Tính cấp thiết và xu hướng :

+Thời trang bền vững đang dần trở thành môt xu hướng tiêu dùng quan trọng trên toàn cầu

+Thế hệ gen Z là nhóm người tiêu dùng năng động,có sức ảnh hưởng lớn và ngày càng quan tâm đến gái trị đâọ đức ,môi trường trong quyết định mua sắm

+Tác động của ngành công nghiệp thời trang đến môi trường xã hội

*Mục đích nghiên cứu

-Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thời trang bền vững,hành vi người tiêu dùng và đặc điểm của thế hệ gen Z

-Đánh giá nhận thức,thái độ và hành vi hiện tại của gen Z Việt Nam đói với thời trang bền vững

-Xác định các yếu tố(giá cả,nhạn thức về môi trường,ảnh hưởng từ mạng xã hội,thông điẹp marketing) tác động đến quyết định mua sắ

-Đề xuất 1 hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp thời trang nhằm thúc đẩy tiêu dùng,Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu:Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của thế hệ Gen Z

-Phạm vi nghiên cứu:

+Không gian:Thế hệ Gen Z đang sinh sống và học tập/làm việc tại Thái Nguyên

+Thời gian:Dữ liệu thu thập trong 1-2 năm gần nhất(2024-2025)

*Phương pháp nghiên cứu

-Khảo sát bằng bảng hỏi:Phát cho sinh viên trường đại học Thái Nguyên,công nhân khu CN Sông Công,người dân mua sắm tại chợ, trung tâm thương mại

-Phỏng vấn:Một số chủ shop thời trang tại Tp Thái Nguyên

-Quan sát thực tế:Lượng khách vào các shop/cửa hàng ở các dịp lễ hoặc ngày thường

-Thống kê-tổng hợp:Số liệu về doanh thu ngành bán lẻ thời trang

2,Giải quyết vấn đềl

Việc lựa chọn đề tài do hiện nay nhiều các bạn trẻ còn đang chưa tiêu dùng đúng đắn vè việc quyết định mua sắm đồng thời giúp hiểu rõ thói quen tiêu dùng và tâm lí mua sắm của gen Z như ta biết thì gen z là 1 thế hệ trẻ năng động có thói quen tiêu dùng đa dạng những ở Thái Nguyên mà con ở 1 số tỉnh khác.Thực trạng hiẹn nay vào các thời diểm như mới vào năm học,tết,ngày lễ,.. các bạn trẻ đổ xô nhau đi mua sắm.Nguyên nhân có thể do ảnh hưởng từ mạng xã hội,bạn bè,tâm lí thích"bắt trend" khẳng định phong cách không những mua sắm trực tiếp mà con mua bằng hình thức online.

3,Kết luận

Việc này phản ánh về lối sống,gu thẩm mĩ và văn hóa tiêu dùng của thế hẹ trẻ,cũng làm thế hệ trẻ có thể tìm cái mới mẻ,năng động,bắt kịp theo xu hướng.Bên cạnh đó, nó dễ mua sắm bốc đồng không lo nghĩ dẫn đến hoang phí,chạy đua trào lưu quá mức.Vì vậy,cần xây dựng văn hóa mua sắm thông minh,cân bằng giữa phong cách và tài chính.Để giúp chúng ta hiểu hành vi mua sắm của Gen z,làm sáng tỏ đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên vừa bbatsw tend toàn cầu vừa mang dấu ấn địa phương

4,Tài liệu tham khảo

-các trang web như:luanvan24.com,stdocu.vn,chat gpt




0
Đề cương nghiên cứu: "Tác động của mạng xã hội đối với thanh niên hiện nay" Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát mức độ sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay. Đánh giá tác động của mạng xã hội đối với thanh niên về mặt xã hội, tâm lý và học tập. Đề xuất các giải pháp để giúp thanh niên sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả và an toàn. Câu hỏi nghiên cứu Mức độ sử...
Đọc tiếp

Đề cương nghiên cứu: "Tác động của mạng xã hội đối với thanh niên hiện nay"

Mục tiêu nghiên cứu

  • Khảo sát mức độ sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay.
  • Đánh giá tác động của mạng xã hội đối với thanh niên về mặt xã hội, tâm lý và học tập.
  • Đề xuất các giải pháp để giúp thanh niên sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả và an toàn.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Mức độ sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay như thế nào?
  • Tác động của mạng xã hội đối với thanh niên về mặt xã hội, tâm lý và học tập là gì?
  • Các giải pháp nào có thể giúp thanh niên sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả và an toàn?

Phương pháp nghiên cứu

  • Khảo sát trực tuyến đối với thanh niên từ 15 đến 25 tuổi.
  • Phân tích dữ liệu từ các nguồn thông tin khác nhau, bao gồm sách, bài báo và báo cáo nghiên cứu.

Kết quả dự kiến

  • Mức độ sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay là rất cao.
  • Tác động của mạng xã hội đối với thanh niên về mặt xã hội, tâm lý và học tập là đáng kể.
  • Các giải pháp giúp thanh niên sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả và an toàn bao gồm giáo dục, hướng dẫn và quản lý thời gian sử dụng mạng xã hộ
0
6 tháng 12 2016

Tôi ngưỡng mộ tác giả Đinh Vũ Ngọc (ĐVN) từ khi nhà thơ Hương Thu (Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đường Việt Nam) đọc bài thơ “MỜI” của ông trong buổi lễ Họp mặt các Chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường các tỉnh phía Nam lần đầu tiên năm 2006. Giọng thơ toát lên sự trẻ trung, khỏe khoắn. Đây là một trong những nét mới ít thấy ở thể thơ Luật Đường. Chưa biết ông trước khó có thể hình dung ra được sự “cổ lai hy” đó chính là ở một tác giả không chuyên nghiệp và đã bước vào lớp người “cổ lai hy”. Khi nhà thơ Thành Nhân, Chủ nhiệm chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường thành phố Cao Lãnh ghé chơi và đọc cho nghe bài thơ “CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM”, tôi hoàn toàn bị chinh phục và đã khẩn khoản nhờ anh đọc cho tôi chép lại nguyên tác và đây cũng chỉ là bài thơ thứ hai của tác giả ĐVN mà tôi vinh hạnh được đọc. Thế là tôi cứ thế mà nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại cả chục lần vẫn cứ say sưa.

 

Hãy lắng nghe tác giả mở đề:

 

Chiếc áo quê hương dáng thướt tha

Non sông gấm vóc mở đôi tà

Câu “phá đề” giới thiệu trực khởi về chiếc áo quê hương mang dáng vóc dịu dàng, xinh xắn rất phù hợp với phụ nữ Việt Nam. Câu “thừa đề” nâng cao lên, dẫn người đọc liên tưởng tới “non sông gấm vóc”. Cách mở đề thành công, mang tính truyền thống thường thấy, chưa sử dụng bất cứ nghệ thuật gì khác biệt. Điều tôi khâm phục chính là sự khéo léo của tác giả trong việc lồng ghép, lựa chọn từ ngữ để diễn tả một cách khái quát hết những ý chính mà bài thơ sẽ nói đến đó là: chiếc áo dài quê hương, phù hợp với vẻ đẹp hình thể kết hợp với nét thùy mị, duyên dáng, nết na, thanh thoát của chị em phụ nữ Việt Nam, không những chỉ mang phong thái cốt cách văn hóa của người Việt Nam mà còn nhắc nhở mỗi người về tình yêu đất nước.

 

Tà bên Đông Hải lung linh sóng

Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa

Cặp câu “thực” cũng là một sự thăng hoa hoa của cảm hứng nghệ thuật. Hai câu giống như hai vết kéo của người thợ may, đã cắt xong hai vạt áo; giống như hai nét sổ của người họa sĩ, vừa chấm phá nét phác thảo bản họa đồ đất nước; giống như những tiết tấu mở đầu hai dòng nhạc hứa hẹn cho những giai điệu du dương. Chỉ hai câu thôi cũng đã thấy biển bạc, rừng vàng, thấy cả dãy Trường Sơn hùng vĩ. Chỉ hai câu mà thấy hiện lên cả âm thanh, màu sắc. Ta tưởng như nghe tiếng sóng vỗ dạt dào. Ta tưởng như thấy trăm hoa đua nở. Tác giả không ngần ngại việc sử dụng “điệp tự”. Chữ “” níu từ câu “phá” được lặp lại hai lần trong cặp “thực” không hề phá vỡ bố cục mà càng làm cho tứ thơ liền lạc, dẫn người đọc phải đọc tiếp, chiêm ngưỡng tiếp. Đọc tới đây ta có cảm giác như đang trong chuyến hành hương tìm về cội nguồn, vừa lắng nghe chăm chú, vừa nhìn theo cánh tay chỉ, vừa khâm phục sự am tường của người hướng dẫn viên du lịch.

 

Vạt rộng Nam phần chao cánh gió

Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà

Một “vạt áo” nhỏ nhoi, sao như lột tả cả miền Nam thân thiết. Những cánh rừng miền Đông bát ngát; những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn; những bãi biển phương Nam hiền hòa, ấm nắng; những dòng sông chở nặng phù sa; những đồng lúa bao la xanh ngắt đương thì con gái… đang vươn ra đón ngọn gió lành. Kỳ diệu hơn là “vòng eo” thắt đáy lưng ong, niềm tự hào của vẻ đẹp phụ nữ phương Đông truyền thống lại được tác giả nhuần nhị ẩn dụ vào dải đất miền Trung điệp trùng đồi núi và nổi tiếng với những eo vịnh biển đẹp tầm cỡ quốc tế, những khu du lịch sầm uất, mỗi năm níu gót hàng triệu bước chân du khách. Nghệ thuật đối ở cả hai cặp “thực” và “luận” đều rất nhuần nhuyễn. Tác giả hình như không chỉ là nhà thơ! Tác giả là họa sĩ, là kiến trúc sư? Tác giả là nhà khoa học viễn tưởng hay là một nghệ nhân điêu khắc? Không thể nào? Phải có sự phối hợp nghệ thuật hài hòa lắm giữa các bộ môn ấy mới có thể có được sự quan sát tinh tường dường ấy, sự miêu tả tinh tế dường ấy.

 

Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực

Hương lúa ba miền thơm thịt da.

Đành rằng rất thích, thích đến mê đắm bài thơ này, tôi vẫn mạnh dạn chân thành phát biểu quan điểm riêng của mình là: cặp câu “kết” chưa cân xứng với tầm cỡ của bài thơ. Tác giả đã có sự khám phá khi phát hiện và lựa Hà Nội làm điểm nhấn cho “vạt trước của chiếc áo”. Tuy nhiên, “trái tim Hà Nội” có lẽ vẫn đắt hơn là “nhịp tim”. Các cụm từ “nhô gò ngực” và “thơm thịt da” dẫu rất hình tượng nhưng lại quá cụ thể đã làm giảm tính tế nhị và đánh mất chất thơ. Cụm từ “Hương lúa ba miền” thật đắt đã góp phần làm mờ nhạt bớt hạn chế nhỏ vừa kể trên.

 

Trong những năm gần đây, giới yêu thích thơ luật Đường đã có sân chơi riêng, có điều kiện giao lưu rộng rãi hơn, đặc biệt là từ khi Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đưởng Việt Nam ra đời và liên tục cho ra mắt các chi nhánh ở các tỉnh thành trong cả nước. Tuy vậy, vẫn còn không ít người cho rằng đó là hình thức cổ điển, ngoại lai, gò bó, kém sáng tạo thì việc sáng tác, phát hiện và giới thiệu những bài thơ hay ở thể thơ này càng trở nên là một trong những việc đáng làm. Có thể những suy nghĩ của tôi chưa thật sự xác đáng, song tự đáy lòng tôi vừa rất kính trọng vừa nể phục tác giả ĐVN. Qua bài thơ của mình ông đã cho thấy “bình xưa” chưa hẳn đã xưa. Đặc biệt sự tìm tòi, ý tưởng sáng tạo đã vượt lên hẳn những bài thơ luật Đường đương thời. Tính trí tuệ được toát ra từ mỗi từ, mỗi chữ, mỗi câu. Đúng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ hay nhất về chiếc áo dài Việt Nam mà tôi đã từng đọc! Chúc tác giả ĐVN khỏe mạnh, sống lâu và say mê sáng tác để ngày càng có thêm nhiều tác phẩm hay gửi đến bạn yêu thơ cả nước.

Bạn tham khảo nhé! Chúc bạn học tốt!

12 tháng 12 2016


Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đinh Vũ Ngọc

Các đồng chí đã quen thuộc với hình ảnh của những nữ quân nhân với các bộ quân phục trông mạnh mẽ, gọn gàng thể hiện nét đẹp chính quy. Nhưng chúng tôi cũng muốn thể hiện mình thướt tha trong bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đến với hội thi hôm nay, các nữ quân nhân đơn vị rất phấn khởi và tự tin trong tà áo làm nên nét đẹp quê hương mình…
Hình ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một hình ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .
"Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay"
BíchLan
Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhã, đài các, kiêu sa ... của người phụ nữ Việt. Áo dài như dòng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ . Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân hình thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực


Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều thanh lịch cho người phụ nữ.
Đã hàng thế kỉ trôi qua, trang phục áo dài trắng trinh nguyên như là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt,
Văn hóa áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều tiếp biến, giao lưu và có đời sống lịch sử qua nhiều triều đại. Mỗi triều đại, chiếc áo dài phản ánh một sự phát triển mới về cảm quan thẩm mỹ của một đất nước đa dân tộc. Mỗi dân tộc người trên đất Việt có thể sáng tạo mãi trên chiếc áo dài của mình mà không hề lẫn lộn với các tộc người khác. Sự sáng tạo thể hiện không chỉ ở các kiểu cách, các màu sắc mà còn ở các tiết họa, kết cấu trang trí trên áo dài. Mỗi bước tiến của văn hóa, văn minh, chiếc áo dài của mỗi tộc người càng gắn liền với bản sắc dân tộc - hiện đại hơn
Chiếc áo dài là thể hiện sự thống nhất giữa cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong văn hóa Việt Nam. Chiếc áo dài Việt đã từng được trần bông để mặc trong lúc hàn giá, đã từng được may bằng lụa mỏng để mặc trong những ngày nóng nực. Mùa Xuân, mùa Thu, chiếc áo dài Việt có thể được may bằng những chất liệu phù hợp với thời tiết.
Đời sống thẩm mỹ phong phú của chiếc áo dài Việt biểu hiện tập trung ở sự thể hiện khác nhau của cái đẹp. Áo dài có thể biểu hiện trong cái đẹp kiêu sa, lộng lẫy, choáng ngợp, lại cũng có thể biểu hiện trong cái đẹp dịu dàng đoan trang thùy mị, trong cái đẹp giản dị, thường nhật. Áo dài Việt có thể đẹp khi mang lại sự ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa hè, dịu dàng trong mùa Xuân, kiều diễm trong mùa Thu. Những gam màu, những kiểu dáng vô tận được thể hiện thông qua chiếc áo dài Việt không chỉ tạo nguồn cảm xúc thẩm mỹ bất tận cho các nhà sáng tạo mà còn làm rung động hàng triệu trái tim về sự xuất hiện của nó trong những tình huống nhất định của cuộc sống.
Cảm xúc về chiếc áo dài Việt Nam cũng đã làm nên những ca khúc bất từ, đi vào thơ ca, phảng phất được cái riêng, cái giản dị của cuộc sống:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
Do tính đa dạng kỳ diệu trong đời sống thẩm mỹ của xã hội, chiếc áo dài có thể là hình ảnh tạo dựng về cái đẹp của người phụ nữ khi sử dụng nó. Khoác chiếc áo dài lên mình, bước ra đường phố, đến nơi công sở người phụ nữ đã tự cảm thấy mình đẹp hơn và đối diện cũng như hòa chung vào với cái đẹp khác của xã hội. Người phụ nữ mặc chiếc áo dài để nâng cao giá trị của mình và hy vọng được

23 tháng 3

Câu 1. Người mắc chứng “tự bào chữa” sẽ bám riết vào lí do đó để biện minh cho bản thân và thuyết phục mình cũng như người khác rằng đó là nguyên nhân khiến họ không thành công

Câu 2. Thao tác lập luận chủ yếu là giải thích kết hợp phân tích

Câu 3. Tác giả đề cập đến “căn bệnh tự bào chữa” vì đây là rào cản khiến con người không dám nghĩ lớn, không dám hành động, từ đó nhấn mạnh muốn thành công phải loại bỏ thói quen đổ lỗi, biện minh cho bản thân

Câu 4. Biện pháp tu từ là ẩn dụ “vắc-xin tiêu diệt căn bệnh”, giúp làm nổi bật ý nghĩa phải chủ động loại bỏ thói quen tự bào chữa, tăng sức gợi hình, gợi cảm và thuyết phục người đọc hành động

Câu 5. Bài học là cần nhận thức rõ sai lầm của bản thân, không nên tự bào chữa hay đổ lỗi cho hoàn cảnh, phải dũng cảm đối mặt, nỗ lực thay đổi và kiên trì hành động để đạt được thành công

Đề cương nghiên cứu: 1. Đặt vấn đề:- Lí do chọn đề tài:Ngày nay, mạng xã hội như Facebook, Tiktok hay Youtube đang trở thành nơi giới trẻ tiếp xúc với thơ ca một cách nhanh chóng, thưus vị và gần gũi so với sách vở. Em muốn tìm hiểu sự thay đổi trong cách học sinh THPT cảm nhận thơ ca thông qua các nền tảng này.- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Học sinh THPT ( chủ yếu là độ tuổi 16-18),...
Đọc tiếp

Đề cương nghiên cứu:

1. Đặt vấn đề:

- Lí do chọn đề tài:

Ngày nay, mạng xã hội như Facebook, Tiktok hay Youtube đang trở thành nơi giới trẻ tiếp xúc với thơ ca một cách nhanh chóng, thưus vị và gần gũi so với sách vở. Em muốn tìm hiểu sự thay đổi trong cách học sinh THPT cảm nhận thơ ca thông qua các nền tảng này.

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Học sinh THPT ( chủ yếu là độ tuổi 16-18), các nền tảng mạng xã hội phổ biến hiện nay.

- Mục đích nghiên cứu:

Khám phá sự thay đổi trong cách tiếp cận và cảm xúc của học sinh đối với thơ ca hiện đại, từ đó đề xuất cách lan tỏa thơ ca hiệu quả hơn qua mạng.

-Cách tiếp cận vấn đề:

Kết hợp giữa kháo sát thực tế, phân tích hiện tượng văn hóa và tham khảo tài liệu về giá dục, mạng xã hội.

- Luận điểm chính:

LD1: Mạng xã hội làm cho thơ ca trở nên sinh động, dễ lan tỏa hơn

LD2: Tuy nhiên, nhiều học sinh chỉ tiếp nhận phần "giải trí", chưa hiểu sâu giá trị của thơ

LD3: Cần có sự kết hợp giữa mạng xã hội và giáo dục văn hóa để các học sinh đam mê thơ thực sự


2. Giải quyết vấn đề:

- Khái niệm then chốt: thơ ca, cảm nhận, mạng xã hội, học sinh THPT.

- Luận điểm 1: Mạng xã hội mang đến cách tiếp cận mới với thơ ca (video ngắn, trình diễn, minh họa hỉnh ảnh, âm thanh,...). Ví dụ: Các video đọc thơ trên Tiktok, clip cảm nhận thơ học đường,... giúp học sinh thấy thơ gàn gũi và thú vị hơn.

- Luận điểm 2: Sự thay đổi này có hai mặt: tích cực là lan tỏa thơ ca rộng rãi, tiêu cực là cảm nhận nông, thiên về hình thức. Một số bạn chỉ nhớ "trend thơ", không hiểu nội dung.

- Luận điểm 3: Cần hướng dẫn học sinh kết hợp mạng xã hội với học tập chính thống, giáo viên có thể dùng video thơ trong giờ học, học sinh có thể làm clip cảm nhận thơ sáng tạo nhưng vẫn giữ chiều sâu.

3. Kết luận:

Đề tài cho thấy mạng xã hội vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc cảm nhận thơ ca của học sinh. Nwus được định hướng đúng, mạng xã hội có thể trở thành cầu nối giữa thơ ca và thế hệ trẻ. Từ đó, việc dạy và học văn sẽ trở nên hấp dẫn, gần gũi hơn.

4. Tài liệ tham khảo

- Tài liệu 1: Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, NXB Giáo dục Việt Nam.

- Tài liệu 2: Một số vidoe thơ trên Tiktok và You tube (kênh học sinh, kênh giáo viên).

- Tài liệu 3: Bài viết "Ảnh hường của mạng xã hội đến thói quen đọc của giới trẻ", Báo tuổi trẻ, 2024.

0
28 tháng 9 2025

Câu 1: Tuổi trẻ là quãng đời rực rỡ nhất của mỗi con người. Nó đáng giá vì chỉ đến một lần, mất đi sẽ không thể lấy lại. Đây là lúc ta có sức khỏe, ước mơ và nhiệt huyết để dấn thân, dám thử và dám sai. Những trải nghiệm trong tuổi trẻ, dù thành công hay thất bại, đều trở thành hành trang quý báu giúp ta trưởng thành. Tuổi trẻ không thể đo bằng tiền bạc, bởi giá trị của nó nằm ở cách ta sống và cống hiến. Sống có lý tưởng, biết trân trọng từng ngày, dám yêu thương và dấn thân, ta mới không hoài phí quãng đời vô giá ấy.

(Mik chỉ làm đc câu 2 thôi, xin lỗi nha =()

Câu 1: Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? (8 điểm)

Tuổi trẻ không thể đo bằng tiền bạc, bởi đó là khoảng thời gian quý giá nhất của đời người — nơi ta sống trọn vẹn với đam mê, khát vọng và những sai lầm cần thiết để trưởng thành. Tuổi trẻ là hành trình khám phá bản thân, là những lần vấp ngã rồi đứng dậy, là những giấc mơ chưa từng bị giới hạn bởi thực tế.

Tuổi trẻ đáng giá bởi:

  • Nó là thời điểm duy nhất ta có thể sống hết mình mà không sợ mất mát.
  • Là lúc ta dám yêu, dám thử, dám thất bại.
  • Là nền móng để ta xây dựng tương lai — không phải bằng sự hoàn hảo, mà bằng nhiệt huyết và trải nghiệm.

Tuổi trẻ không thể định giá, nhưng có thể đánh mất nếu ta sống hoài nghi, trì hoãn, hoặc sợ hãi. Vì vậy, tuổi trẻ chỉ thật sự đáng giá khi ta dám sống, dám cháy hết mình với nó.

Câu 2: Đối thoại với nhạc sĩ Trần Tiến về sứ mệnh nghệ thuật (12 điểm)

Kính gửi nhạc sĩ Trần Tiến,

Là một người yêu văn chương, tôi xin được đối thoại cùng anh — người nghệ sĩ mang trái tim cháy bỏng và giọng hát đầy chân thật.

Tôi đồng cảm sâu sắc với quan điểm của anh: nghệ thuật không chỉ là cái đẹp, mà là ngọn lửa sáng tạo chưa từng có trước đó. Trong văn học, tôi từng bắt gặp ngọn lửa ấy qua những trang viết của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, hay trong những vần thơ của Trần Dần — nơi cái đẹp không nằm ở sự hoàn hảo, mà ở sự thật trần trụi và cảm xúc nguyên sơ.

Tôi tin rằng:

  • Người nghệ sĩ chân thật là người dám đối diện với bóng tối, để từ đó thắp lên ánh sáng cho người khác.
  • Tác phẩm nghệ thuật không chỉ để ngắm nhìn, mà để sưởi ấm những cõi lòng cô đơn, như anh đã viết.

Văn học đã giúp tôi hiểu rằng: sáng tạo là hành trình cô đơn nhưng đầy hy vọng. Và người nghệ sĩ, như anh nói, chính là người bạn ấm áp và tốt bụng của cuộc đời — không phải vì họ hoàn hảo, mà vì họ dám sống thật.

Xin cảm ơn anh vì đã nhắc tôi rằng: nghệ thuật không chỉ là cái đẹp, mà là sự sống.

đề tài nghiên cứu văn học Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim LânI. Lý do chọn đề tài • “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. • Tác phẩm phản ánh chân thực nạn đói năm 1945 và ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người trong hoàn cảnh khốn cùng. • Em chọn đề tài này vì muốn hiểu rõ...
Đọc tiếp

đề tài nghiên cứu văn học

Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

I. Lý do chọn đề tài

• “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

• Tác phẩm phản ánh chân thực nạn đói năm 1945 và ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

• Em chọn đề tài này vì muốn hiểu rõ hơn về giá trị nhân đạo và hiện thực – hai đặc điểm cốt lõi của văn học Việt Nam giai đoạn 1945–1975.

II. Mục tiêu nghiên cứu

1. Làm rõ giá trị hiện thực thể hiện qua bức tranh xã hội nạn đói 1945.

2. Phân tích giá trị nhân đạo qua cách nhà văn nhìn nhận, trân trọng con người nghèo khổ.

3. Khẳng định tài năng của Kim Lân trong việc miêu tả hiện thực và thể hiện lòng nhân ái.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân.

• Phạm vi: Nội dung tác phẩm, ngôn ngữ, nhân vật, và chi tiết tiêu biểu (nhất là nhân vật Tràng và người “vợ nhặt”).

IV. Phương pháp nghiên cứu

1. Phân tích – tổng hợp: Phân tích nội dung, hình tượng, ngôn ngữ.

2. So sánh – đối chiếu: Liên hệ với các tác phẩm cùng thời (như “Làng” – Kim Lân, “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

3. Khái quát – nhận xét: Từ chi tiết cụ thể, rút ra ý nghĩa tư tưởng và giá trị nhân văn.

V. Nội dung nghiên cứu

1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm

• Kim Lân (1920–2007): cây bút truyện ngắn chuyên viết về người nông dân.

• “Vợ nhặt” viết sau Cách mạng tháng Tám, in trong tập “Con chó xấu xí”.

• Bối cảnh: nạn đói năm 1945, hàng triệu người chết đói – một sự kiện có thật trong lịch sử.

2. Giá trị hiện thực

• Phản ánh thảm cảnh đói khát, xã hội rối ren, con người bị đẩy đến bờ vực sinh tồn.

→ Cảnh người chết đói, mùi gây, tiếng quạ, xác người trên đường…

• Phản ánh cuộc sống khốn cùng của người dân nghèo – cụ thể là gia đình Tràng.

• Dù nghèo, họ vẫn hướng tới điều tốt đẹp – thể hiện tinh thần vượt lên hiện thực.

3. Giá trị nhân đạo

• Xót thương con người nghèo khổ: nhà văn cảm thông sâu sắc với thân phận bị đói rét, bị lãng quên.

• Trân trọng phẩm chất con người: dù đói khát, họ vẫn biết yêu thương, biết hy vọng, biết mơ về mái ấm.

• Niềm tin vào tương lai: cuối truyện, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng thấp thoáng → biểu tượng cho cách mạng, cho niềm tin sống.

4. Nghệ thuật thể hiện

• Tình huống truyện độc đáo: “nhặt vợ” giữa nạn đói.

• Miêu tả tâm lý tinh tế: nhân vật Tràng và người vợ nhặt có sự thay đổi về tâm trạng.

• Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, đậm chất nông thôn.

VI. Kết luận

• “Vợ nhặt” là truyện ngắn tiêu biểu cho văn học hiện thực và nhân đạo sau 1945.

• Kim Lân không chỉ phản ánh đói khát mà còn khơi dậy niềm tin vào tình người và sự sống.

• Qua tác phẩm, người đọc hiểu rằng: trong khổ đau, tình thương vẫn là ánh sáng dẫn đường cho con người.


VII. Tài liệu tham khảo

1. Phân tích tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân (NXB Đại học Sư phạm).

2. Tuyển tập Kim Lân – NXB Hội Nhà văn, 2003

0