K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

7 tháng 1

chịu

7 tháng 1
  • Hùng Vương: dựng nước Văn Lang (đầu tiên)
  • An Dương Vương: nước Âu Lạc
  • Ngô – Đinh – Tiền Lê: giành lại độc lập
  • Lý – Trần: phát triển đất nước, thắng quân Nguyên – Mông
  • Hậu Lê: thời Lê Lợi, Lê Thánh Tông rất hưng thịnh
  • Nguyễn: triều đại cuối cùng (Gia Long → Bảo Đại)
7 tháng 1
Lịch sử của các vị vua và triều đại phong kiến Việt Nam kéo dài khoảng 4000 năm lịch sử, bắt đầu từ thời Hồng Bàng với các Vua Hùng cho đến triều Nguyễn kết thúc vào năm 1945. Có khoảng 54 vị hoàng đế tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam.  Các triều đại và thời kỳ chính bao gồm:
  • Thời kỳ Hồng Bàng (khoảng 2879–258 TCN): Tên nước là Xích Quỷ, sau đổi thành Văn Lang dưới thời Hùng Lân vương (Hùng Hiền Vương). 
  • Âu Lạc (thời An Dương Vương)
  • Thời kỳ Bắc thuộc
  • Thời kỳ độc lập, tự chủ (từ thế kỷ X): Bắt đầu với nhà Ngô (939-965), tiếp theo là các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Tây Sơn, và Nguyễn. 
  • Các quốc hiệu chính qua các thời kỳ: Xích Quỷ, Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, và Việt Nam. 
Mỗi triều đại có những đóng góp riêng biệt và các vị vua nổi tiếng như Lý Thái Tổ (người mở ra nhà Lý) hay các vị vua nhà Trần với những chiến công oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. 

ns j zậy trời. ko cs hẻo

7 tháng 1
  • Các Vua Hùng (Nước Văn Lang): Theo truyền thuyết, có 18 đời Hùng Vương cai trị nước Văn Lang từ năm 2879 TCN. Dù mang tính chất dã sử, nhưng khảo cổ học đã xác nhận sự tồn tại của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ trong giai đoạn này.
  • An Dương Vương (Nước Âu Lạc): Thục Phán sau khi thống nhất bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt đã lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương, xây thành Cổ Loa.

2. Thời kỳ đấu tranh giành độc lập (Bắc thuộc và tự chủ)

  • Hai Bà Trưng: Cuộc khởi nghĩa đầu tiên đánh đuổi tô định, Trưng Trắc lên ngôi vua (Trưng Nữ Vương).
  • Lý Nam Đế (Nhà Tiền Lý): Thành lập nước Vạn Xuân, là người đầu tiên xưng Hoàng đế để khẳng định sự bình đẳng với các hoàng đế phương Bắc.
  • Mai Hắc Đế, Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương): Những vị vua lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ nhà Đường.
  • Họ Khúc, họ Dương: Tuy chỉ xưng Tiết độ sứ nhưng họ thực chất là những người đứng đầu quốc gia tự chủ.

3. Thời kỳ độc lập, quân chủ tập quyền (Thế kỷ X - XIX)

Đây là giai đoạn rực rỡ nhất với hơn 20 triều đại. Nếu tính từ nhà Đinh đến hết nhà Nguyễn, lịch sử ghi nhận khoảng 125 vị vua và hoàng đế.

  • Nhà Ngô (Ngô Quyền): Người đặt nền móng độc lập lâu dài sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
  • Nhà Đinh (Đinh Tiên Hoàng): Thống nhất 12 sứ quân, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
  • Nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành): Có công lớn trong việc phá Tống, bình Chiêm.
  • Nhà Lý (9 đời vua): Mở đầu bằng Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Đây là thời kỳ Phật giáo cực thịnh. Vị vua cuối cùng là Lý Chiêu Hoàng - nữ hoàng duy nhất trong lịch sử.
  • Nhà Trần (12 đời vua): Nổi tiếng với 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông. Các vị vua thường nhường ngôi sớm cho con để làm Thái thượng hoàng.
  • Nhà Lê Sơ (Lê Thái Tổ - Lê Thánh Tông): Đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền. Vua Lê Thánh Tông là vị vua có công trạng rực rỡ nhất về văn trị và võ công.
  • Nhà Mạc và thời Lê Trung Hưng: Giai đoạn đất nước chia cắt (Nam - Bắc triều, Trịnh - Nguyễn phân tranh). Vua Lê lúc này chỉ còn danh nghĩa, quyền lực nằm trong tay các Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
  • Nhà Tây Sơn (Quang Trung - Nguyễn Huệ): Vị anh hùng áo vải đánh tan quân Thanh và quân Xiêm, thống nhất đất nước sau nhiều năm chia cắt.
  • Nhà Nguyễn (13 đời vua): Triều đại phong kiến cuối cùng. Vua Gia Long thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Nam ra Bắc. Vua Minh Mạng là người có nhiều đóng góp lớn trong việc cải cách hành chính và mở rộng lãnh thổ.

4. Vị vua cuối cùng

  • Vua Bảo Đại: Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng tại Ngọ Môn (Huế), chính thức chấm dứt chế độ quân chủ tại Việt Nam. Ông có câu nói nổi tiếng: "Thà làm dân một nước độc lập, hơn làm vua một nước nô lệ".

Một số sự thật thú vị:

  • Vua ở ngôi lâu nhất: Lý Nhân Tông (56 năm).
  • Vua ở ngôi ngắn nhất: Vua Dục Đức (chỉ 3 ngày).
  • Vua sống thọ nhất: Bảo Đại (82 tuổi - tính theo năm dương lịch mất tại Pháp) hoặc vua Trần Nghệ Tông (73 tuổi - tính trong thời kỳ phong kiến).
8 tháng 1

Này anh nghĩ em nên học theo từng thời đại nhé, chứ để nêu hết các vị vua thì rất nhiều em à!

1 tháng 9 2016

Ở các nước phương Đông vua nắm mọi quyền hành, từ việc đặt ra luật pháp , chỉ huy quân đội, đến việc xét sử những người có tội.Vua đc coi là đại diện thần thánh ở trần gian, theo chế độ cha chuyền con nối

19 tháng 9 2016

Ở các phương Đông, nhà vua nắm mọi quyền hành, từ việc kinh tế, chính trị, nô lệ là tài sản của vua.

3 tháng 5 2021

 Cố gắng học tập tốt , mai sau giúp ích cho Tổ quốc . Cho nước nhà ngày càng giàu đẹp .

3 tháng 5 2021

camon bạn nha :>

Câu 1 : Trong cuốn “ Việt Nam thi văn hợp tuyển ” của Dương Quảng Hàm ghi lại bài ca dao về 36 phố phường Hà Nội có câu như sau :Câu 2: Nêu tên những thắng lợi tiêu biểu của lực lượng vũ trang thủ đô từ khi thành lập đến nay. Cảm nhận của em về một trong những thắng lợi đó. Hãy kể một câu chuyện (nhân vật hoặc sự kiện) em biết liên quan đến lịch sử.Câu 3: Bằng những kiến...
Đọc tiếp

Câu 1 : Trong cuốn “ Việt Nam thi văn hợp tuyển ” của Dương Quảng Hàm ghi lại bài ca dao về 36 phố phường Hà Nội có câu như sau :

Câu 2: Nêu tên những thắng lợi tiêu biểu của lực lượng vũ trang thủ đô từ khi thành lập đến nay. Cảm nhận của em về một trong những thắng lợi đó. Hãy kể một câu chuyện (nhân vật hoặc sự kiện) em biết liên quan đến lịch sử.

Câu 3: Bằng những kiến thức lịch sử chọn lọc, hãy khẳng định quá trình xác lập và thực thi chủ quyền một cách liên tục của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Em cần làm gì để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc?
 Mong giúp mình nhanh mình vội lắm mai lộp rồi giúp với đọc nhiều trên mạng rồi nhưng giống nhau quá ai giúp mình làm khác đc ko
4
5 tháng 10 2016
* Ngày 19/8/1945, các đội tiền thân của Lực lượng vũ trang Thủ đô (LLVT Thủ đô) đã làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân ở Hà Nội.
* Ngày 19/10/1946, Chiến khu XI - Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ đô Hà Nội được thành lập trên cơ sở Khu đặc biệt Hà Nội.
* Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Chiến khu XI với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" đã nổ súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến và từ đó kiên cường chiến đấu giam chân địch trong Thành phố suốt 60 ngày đêm (vượt gấp đôi chỉ tiêu Trung ương giao), tiêu hao, tiêu diệt lớn sinh lực địch, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, bảo vệ tuyệt đối an toàn Trung ương Đảng, Chính phủ, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài.
* Làm nòng cốt cho nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh vũ trang góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Một số chiến công tiêu biểu:
- Trận đánh sân bay Bạch Mai: Diễn ra vào đêm ngày 17 và rạng sáng ngày 18/01/1950. Trong trận đánh này, ta tổ chức lực lượng tập kích vào sân bay của địch, lực lượng gồm 32 chiến sỹ được lựa chọn từ Tiểu đoàn 108. Kết quả, ta phá hủy 25 máy bay các loại, 60 vạn lít xăng dầu, 32 tấn vũ khí và nhiều trang bị của địch. Đây là một trận đánh điển hình về việc dùng lực lượng nhỏ nhưng tinh nhuệ để đánh các mục tiêu lớn của địch. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm và thiết thực góp phần vào việc hình thành lối đánh đặc công của quân đội ta sau này.
- Trận đánh ở Khu Cháy (Ứng Hòa): Diễn ra vào hai ngày 18 và 19/6/1951. Lực lượng của ta gồm 2 Đại đội của Tỉnh đội Hà Đông phối hợp với lực lượng chủ lực của Tiểu đoàn 122/Đại đoàn 320 và lực lượng du kích của địa phương. Lực lượng của địch khoảng 10 Tiểu đoàn với nhiều xe cơ giới và súng các loại. Sau 2 ngày chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt gần 3 Đại đội địch, bắt 200 tên và thu nhiều vũ khí. Với chiến công ở Khu Cháy, quân và dân Hà Đông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi, động viên.
- Trận đánh sân bay Gia Lâm: Sân bay Gia Lâm là một sân bay lớn của miền Bắc Đông Dương, từ sân bay này, nhiều loại máy bay của địch đi ném bom bắn phá hậu phương của ta và tiếp tế cho các mặt trận của chúng. Sân bay được bảo vệ với lực lượng lên đến 2.000 tên cùng hệ thống đồn bốt, hàng rào thép gai, bãi mìn dày đặc xung quanh. Lực lượng ta tham gia trận đánh gồm 16 đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu được tuyển chọn từ Đại đội 8. Trận đánh diễn ra vào đêm ngày 3 và rạng sáng ngày 4/3/1954, với chiến thuật tập kích sau đó nhanh chóng rút lui an toàn, ta đã phá hủy 18 máy bay địch, đốt phá một kho xăng, một nhà sửa chữa máy bay và tiêu diệt 16 tên. Trận đánh sân bay Gia Lâm là trận đánh tiêu biểu dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, với lối đánh táo bạo, bất ngờ thọc sâu, đánh hiểm, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Trận đánh cũng đã góp phần gây nhiều khó khăn cho địch trong việc tiếp tế, ứng cứu cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
* Ngày 10/10/1954, LLVT Thủ đô đã góp phần tích cực cùng với bộ đội chủ lực tiến hành tiếp quản Thủ đô bảo đảm tuyệt đối an toàn, nhanh chóng tiếp quản toàn bộ Thành phố Hà Nội, bao gồm hàng loạt các căn cứ quân sự cùng 129 công sở, xí nghiệp, bệnh viện, trường học được giữ nguyên vẹn.
* LLVT Thủ đô phối hợp với các lực lượng đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm, từ 18/12/1972 – 30/12/1972. Trong chiến dịch này, đế quốc Mỹ đã huy động tối đa sức mạnh không lực Hoa Kỳ đánh phá hủy diệt Hà Nội. Chúng sử dụng 444 lần chiếc B52, hơn 1.000 lần chiếc máy bay chiến thuật, trong đó có hàng trăm lần chiếc F111, ném khoảng 10.000 tấn bom đạn xuống 4 thị trấn, 39 phố, 67 xã và 4 khu vực đông dân.
Không khuất phục, quân dân Hà Nội phối hợp chặt chẽ với lực lượng Phòng không, Không quân quốc gia kiên cường, dũng cảm chiến đấu bắn rơi 32 máy bay, trong đó có 25 chiếc máy bay B52, 2 F111 và 5 máy bay chiến thuật. Chiến thắng của quân dân Hà Nội đã làm nên một "Điện Biên Phủ trên không", làm tiêu tan huyền thoại sức mạnh không lực Hoa Kỳ. Hà Nội không trở về "thời kỳ đồ đá" mà trở thành "Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người", buộc đế quốc Mỹ ký kết Hiệp định Pa-ri "Về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam", cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam, tạo nên thời cơ chiến lược cho cách mạng Việt Nam tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
* Ngày 05/3/1979, Bộ Chính trị ra Quyết định số 35/QĐ-TW, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Sắc lệnh số 28/LCT thành lập Quân khu Thủ đô Hà Nội (trên cơ sở Bộ Tư lệnh Thủ đô).
* Ngày 18/8/1999, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1285/QĐ-QP chuyển giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây từ Quân khu III về trực thuộc Quân khu Thủ đô.
* Trong tiến trình thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 về mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, ngày 16/7/2008, Chủ tịch nước ký Lệnh số 16/2008/L-CTN về tổ chức lại Quân khu Thủ đô Hà Nội thành Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 2194/QĐ-BQP ngày 25/7/2008 hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội thuộc Quân khu Thủ đô Hà Nội vào Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Quyết định số 2192/QĐ-BQP hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây thuộc Quân khu Thủ đô Hà Nội vào Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Quyết định số 2196/QĐ-BQP sáp nhập Ban chỉ huy quân sự huyện Mê Linh thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Phúc - Quân khu 2 vào Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
Từ những đội tiền thân ra đời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, lực lượng nhỏ, lẻ, trình độ học vấn thấp, chưa được trang bị kiến thức quân sự, vũ khí thô sơ, nhưng với lòng yêu nước, quyết tâm đi theo Đảng Cộng sản, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, LLVT Thủ đô Hà Nội qua đấu tranh cách mạng đã nhanh chóng phát triển về mọi mặt: Tổ chức, quân số, trang bị vũ khí kỹ thuật, trình độ kỹ, chiến thuật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong từng thời kỳ lịch sử.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, LLVT Thủ đô Hà Nội cùng các tầng lớp nhân dân mưu trí, ngoan cường, kiên quyết đấu tranh đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của tập đoàn đế quốc và các thế lực thù địch, phản cách mạng trong và ngoài nước, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam thoát khỏi tình thế "Ngàn cân treo sợi tóc", vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, oanh liệt và vẻ vang.
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, ngày 19 tháng 10 năm 1946, Chiến khu XI – tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ đô Hà Nội được thành lập. Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Ngày 25 tháng 7 năm 1947, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương quyết định mở rộng địa bàn hoạt động của Chiến khu XI bao gồm: Hà Nội, Hà Đông và Sơn Tây. Từ kết qủa phân tích, đánh giá khách quan, khoa học sự ra đời, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, sự phát triển, trưởng thành,chiến đấu, chiến thắng của Chiến khu XI, qua các cuộc Hội thảo khoa học, ngày 31 tháng 5 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1850/QĐ-QP công nhận ngày 19 tháng 10 năm 1946 là Ngày truyền thống của Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội.
Suốt chặng đường 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT Thủ đô Hà Nội đã kiên trì trụ vững, bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, dựa vào dân chiến đấu và lập nên bao chiến công hiển hách, vẻ vang. Nhiều trận đánh tiêu biểu, hiệu quả, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng, để lại kinh nghiệm quý về chiến tranh nhân dân, làm phong phú nghệ thuật quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, LLVT Thủ đô Hà Nội vừa sản xuất, vừa tăng cường chi viện cho các chiến trường, đồng thời dũng cảm kiên cường, mưu trí, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Phòng không - Không quân quốc gia đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, đỉnh cao là Chiến dịch phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội – Kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, để Hà Nội trở thành "Thủ đô lương tri và phẩm giá con người". Thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, LLVT Thủ đô Hà Nội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt mọi khó khăn, vừa tăng cường chi viện cho các mặt trận bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là lực lượng nòng cốt góp phần cùng các tầng lớp nhân dân Thủ đô làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạnlật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quá cách mạng, tham gia xây dựng kiến thiết Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại.
Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành LLVT Thủ đô Hà Nội được Đảng, Nhà nước 3 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, 1 Huân chương Sao vàng, 3 Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Chiến công, 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, 2.361 bà mẹ đượcphong tặng và truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng, 231 đơn vị và 63 cá nhân thuộc LLVT Thủ đô Hà Nội được phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân…
Hà Nội - Thứ 6, ngày 09/09/2016 20:54:46
Ra đời trong sự đấu tranh cách mạng, lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ của thành phố Hà Nội trong các thời kỳ năm 1945 đến nay của tỉnh Hà Đông, tỉnh sơn Tây thuộc chiến khu 11 (XI) về Mặt trận Hà Nội thời kỳ k...
5 tháng 10 2016

CAU 2 NHA

9 tháng 7 2019

Chúng ta cần phải học lịch sử để biết được cội nguồn dân tộc, biết được loài người chúng ta đã đầu tranh để sinh tồn và phát triển như thế nào. Chúng ta biết được những gì đã xảy ra trong quá khứ của tổ tiên, của cha ông và cả nhân loại để bản thân mình vừa kế thừa, phát huy những gì đã có, góp phần nhỏ bé của mình trong việc bảo vệ phát triển vì sự tiến bộ của đất nước, của nhân loại.

9 tháng 7 2019

Chúng ta cần học lịch sử vì :

Mỗi con người cần phải biết tổ tiên, ông bà mình là ai, mình thuộc dân tộc nào, con người phải làm gì để có được như ngày hôm nay,... Hiểu vì sao phải quý trọng, biết ơn những người đã làm nên cuộc sống hôm nay và chúng ta phải học tập, lao động để góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn nữa.

hihi

21 tháng 6 2016

bạn ơi

Bạn chỉ được gửi mỗi câu hỏi là một bài thôi nhé

21 tháng 6 2016

ừm 

5 tháng 1 2021

Công lao của các vua Hùng là :

- Sáng lập ra nước Văn Lang

- Sáng lập ra nhà nước quân chủ đầu tiên ở nước ta

- Dạy dân cách trồng lúa nước

- Đánh giặc Ân bảo vệ tổ quốc

- Mở mang bờ cõi

Học Tốt !

5 tháng 1 2021

chắc đúng

Chúng ta có cần học Lịch Sử vì học Lịch Sử để biết được cội nguồn của tổ tiên, quê hương, đất nước; hiểu được ông cha ta đã phải lao động, sáng tạo, đấu tranh như thế nào để có được đất nước ngày nay. Học Lịch Sử còn để đúc kết những bài học kinh nghiệm của quá khứ nhằm khắc phục vụ cho hiện tại và tương lại. 

29 tháng 4 2022

Mình nghĩ là có. Vì khi chúng ta học lịch sử thì mới biết được cội nguồn của đất nước, những vị anh hùng tiêu biểu trong các cuộc chiến tranh giành độc lập cho dân tộc. Tuy bây giờ đã là thời đại công nghiệp đại hóa, nhưng không phải thứ gì cũng có thể tìm được trên internet. Khi bạn học lịch sử thì vừa bổ xung kiến thức cho bản thân, cũng như biết được lịch sử hình thành và phát triển của đất nước mình.

1 tháng 12 2016

sơ đồ phản ánh lên bộ máy chính quyền của cư dân Văn Lang: Tuy sơ khai nhưng là tổ chức chính quyền đièu hành cả đất nước, đánh dấu thời đầu dựng nước của đân ta

2 tháng 12 2016

Sơ đồ nhằm giải thích các cấp cao trong thời kì Văn Lang . Chia ra các cấp cao thấp để điều hành các cấp dưới .

31 tháng 3 2017

Nếu tổng hợp câu trả lời của 2 em sẽ tạo nên một câu trả lời đúng...

Khi trả lời về âm lịch thì chúng ta hãy liên hệ với những gì thiết thực nhất trong đời sống của chúng ta nhé.

Chúc các em học tốt!

28 tháng 9 2016

Trên tờ lịch của chúng ta có ghi thêm ngày, tháng, năm âm lịch là bởi vì đây là cơ sở để tính âm lịch dựa vào sự di chuyển Mặt Trăng quanh Trái Đất và cách tính này có liên quan chặt chẽ đến thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Vậy nên, lịch ghi cả ngày, tháng âm lịch để nông dân thực hiện sản xuất theo đúng thời vụ.

Ngày 19/5 là ngày sinh của Bác Hồ