Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Sự ra đời, phát triển của nén sản xuất mới - TBCN : mâu thuẫn giữa chế độ phong kiến với tư sản và các tầng lớp nhân dân ngày càng gay gắt dẫn tới các cuộc cách mạng tư sản.
— Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên :
+ Cách mạng Hà Lan thế kỉ XVI là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới lật đổ ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, mở đường cho CNTB phát triển.
+ Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII giành được thắng lợi, đưa nước Anh phát triển theo con đường TBCN. Đây là cuộc cách mạng tư sản không triệt để vì vẫn còn ngôi vua và cách mạng chỉ đáp ứng quyền lợi cho giai cấp tư sản và quý tộc mới, còn nhân dân không được hưởng chút quyền lợi gì.
+ Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ về thực chất là cuộc cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị của thực dân và mở đường cho CNTB phát triển, nhưng chỉ có giai cấp tư sản và chủ nô được hưởng quyền lợi, còn nhân dân lao động không được hưởng chút quyền lợi gì.
+ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất có ảnh hưởng lớn đến lịch sử châu Âu, đã đánh đổ chế độ phong kiến, thiết lập nền cộng hoà chuyên chính dân chủ cách mạng, giải quyết quyền lợi cho nhân dân, đặc biệt về ruộng đất.
+ Nhiều cuộc cách mạng tư sản diễn ra dưới các hình thức khác nhau ờ nhiều nước làm cho chủ nghĩa tư bản thắng lợi trên phạm vi thế giới, một số nước phát triển kinh tế chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
+ Các nuớc tư bản thực dân phương Tây đẩy mạnh xâm lược các nước phương Đông.
+ Công nhân ở các nước tư bản Anh, Pháp, Mĩ. Nhật Bản đấu tranh ngày càng mạnh mẽ. Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời. Các tổ chức quốc tế của công nhân được thành lập.
+ Văn học, nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật phát triển (nhiều máy chế tạo công cụ ra đời, nhiều nguồn nhiên liệu mới được sử dụng, nhiều phát minh mới về vật lí, hoá học, sinh học, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhạc sĩ. họa sĩ nổi tiếng xuất hiện).
+ Nguyên nhân, tính chất, diễn biến và kết cục của Chiến tranh thế giới thứ nhất.
NHỮNG NỘI DUNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
- Thời kì bùng nổ, thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản trên phạm vi thế giới.
- Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, dán chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
- Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội là tư sản và vô sản ngày càng sâu sắc. Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản phát triển từ tự phát đến tự giác. Học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời trang bị cho giai cấp vô sản một hệ thống lí luận cách mạng đúng đắn trong cuộc đấu tranh xoá bỏ áp bức, bóc lột.
- Thời kì diễn ra những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa của các nước tư bản ở châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ Latinh. Việc chiếm hữu thuộc địa không đồng đều giữa các nước tư bản là nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến tranh tranh giành thuộc địa giữa các nước tư bản lớn, tiêu biểu là Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Nền kinh tế Mĩ trong thập kỉ 20 của thế kỉ XX : Phát triển phồn vinh nhưng vẫn tồn tại những hạn chế.
Sự phồn vinh của kinh tế Mĩ được thể hiện ở mức tăng trưởng cao của các ngành kinh tế. Chỉ trong vòng 6 năm (1923-1929), sản lượng công nghiệp tăng 69%. Năm 1929, Mĩ chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới, vượt qua sản lượng công nghiệp của 5 cường quốc công nghiệp là Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản cộng lại. Mĩ đứng đầu thế giới về các ngành công nghiệp sản xuất ô tô, thép, dầu mỏ… Đặc biệt, sự bùng nổ của ngành sản xuất ô tô đã tác động mạnh đến các ngành công nghiệp khác. Năm 1919, nước Mĩ sản xuất được 7 triệu ô tô, đến năm 1924 đạt 24 triệu chiếc.
Về tài chính, từ chỗ phải vay nợ châu Âu 6 tỉ đô la trước chiến tranh, Mĩ đã trở thành chủ nợ của thế giới (riêng Anh và Pháp nợ Mĩ 10 tỉ đô la). Năm 1929, Mĩ nắm 60% số vàng dự trữ của thế giới.
Mặc dù đạt mức tăng trưởng cao, nhưng ngay cả trong thời kì phồn vinh này, nhiều ngành công nghiệp của Mĩ chỉ sử dụng 60-80% công suất. Sự phát triển kinh tế chạy theo lợi nhuận, theo chủ nghĩa tự do thái quá đã đưa đến sự phát triển không đồng bộ giữa các ngành công nghiệp, giữa công nghiệp với nông nghiệp, và không có kế hoạch dài hạn cho sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Kinh tế Mĩ phát triển mạnh trong thập kỉ 20 của thế kỉ XX vì :
- Mĩ thu được nguồn vốn lớn do buôn bán vũ khí và cho các nước khác vay trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.
- Do Mĩ liên tục cải tiến công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất.
- Các lợi thế khác của nước Mĩ.
-Ưu điểm:
+Về lĩnh vực Vật lý,sự ra đời của lí thuyết nguyên tử hiện đại,đặc biệt là lí thuyết tương đối của nhà bác học Albert Einstein đã để lại dấu ấn sâu sắc cho khoa học hiện đại khi xét lại các khái niệm vật lí về không thời gian.Mặt khác,các phát minh lớn về Vật lý học của thế kỉ XX,từ năng lượng nguyên tử đến lade,bán dẫn,...đều có liên quan tới lí thuyết này.
+Về các lĩnh vực khác như Hóa học,Sinh học,các khoa học về Trái Đất (Hải dương học,Khí tượng học,...) đều đạt những thành tựu to lớn.
+Nhiều phát minh khoa học cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX đã đưa vào sử dụng như vô tuyến,điện tín,điện thoại,rađa,hàng không,điện ảnh,phim có tiếng nói hoặc phim màu,...
→Giúp cuộc sống vật chất và tinh thần của con người tốt đẹp hơn.
-Nhược điểm:
+Là phương tiện chính gián tiếp gây ra chiến tranh đầy thảm họa cho nhân loại qua hai cuộc chiến tranh thế giới.
2.Chủ nghĩa đế quốc Anh được gọi là "chủ nghĩa đế quốc thực dân” vì : Cho đến cuối thế kỉ XIX, cả hai đảng Tự do và Bảo thủ cầm quyền ở Anh đều thực hiện chính sách tích cực mở rộng hệ thống thuộc địa, đặc biệt ở châu Á và châu Phi. Đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, thuộc địa của Anh đã rải khắp Địa cầu, chiếm 1/4 diện tích lục địa (33 triệu km2) và 1/4 dân số thế giới (400 triệu người). Giai cấp tư sản Anh đã tự hào là "Mặt Trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ Anh", Anh đã trở thành cường quốc thực dân hạng nhất. Khác với Pháp, Đức, phần lớn tư bản xuất cảng của Anh đều nằm ngoài châu Âu, chủ yếu là đầu tư sang các thuộc địa. Các công ti lũng đoạn thuộc địa của Anh đã dùng nhiều thủ đoạn bóc lột tinh vi, tàn nhẫn, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, thu vẻ những khoản lợi nhuận kếch xù.
Câu 4: Trả lời:
Ngắn gọn, xúc tích nha!
Cuộc Duy Tân là cuộc cải cách làm cho các sĩ phu yêu nước của nhiều được cũng lãnh đạo nhân dân nổi dậy đấu tranh. Lấy cải cách Duy Tân Minh Trị là gương để thực hiện tốt hơn.
lmvc
Câu a:
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến quan trọng, tuy vẫn bị ảnh hưởng bởi tình trạng chiến tranh và chia cắt. Về nông nghiệp, ở Đàng Ngoài và Đàng Trong vẫn được coi trọng. Nhân dân tiếp tục khai hoang, mở rộng ruộng đất, phát triển trồng lúa và hoa màu. Đặc biệt ở Đàng Trong, nhờ công cuộc khai phá phương Nam, diện tích canh tác tăng lên rõ rệt, nông nghiệp phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, ở Đàng Ngoài do chiến tranh Trịnh – Nguyễn và sự bóc lột của chính quyền, nông nghiệp nhiều nơi bị sa sút, đời sống nông dân gặp khó khăn.
- Về thủ công nghiệp, các nghề thủ công truyền thống phát triển khá mạnh. Nhiều làng nghề nổi tiếng được mở rộng như dệt vải, làm gốm, đúc đồng, làm giấy… Bên cạnh đó, nhà nước cũng lập một số xưởng thủ công để sản xuất vũ khí, đóng thuyền và các sản phẩm phục vụ triều đình.
- Về thương nghiệp, hoạt động buôn bán trong nước và ngoài nước diễn ra sôi động. Các chợ, thị tứ, bến cảng phát triển, nhiều đô thị và thương cảng hình thành hoặc phồn thịnh như Thăng Long, Phố Hiến, Hội An. Việc buôn bán với thương nhân nước ngoài (Trung Quốc, Nhật Bản, phương Tây…) ngày càng mở rộng, đặc biệt ở Đàng Trong. Nhìn chung, từ thế kỉ XVI đến XVIII, kinh tế nước ta có bước phát triển khá, trong đó thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển rõ rệt, dù nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do chiến tranh và chế độ phong kiến.
Câu b:
Trong các thế kỉ XVI – XVIII, do đất nước bị chia cắt, kinh tế ở Đàng Ngoài và Đàng Trong có những điểm giống và khác nhau rõ rệt.
Trước hết, cả hai vùng đều dựa chủ yếu vào nông nghiệp trồng lúa nước, có phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp. Tuy nhiên, mức độ phát triển giữa hai vùng không giống nhau. Ở Đàng Ngoài, nông nghiệp nhiều nơi bị sa sút do chiến tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài, ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, chính quyền bóc lột nặng nề làm đời sống nông dân khó khăn. Thủ công nghiệp và buôn bán ở Đàng Ngoài vẫn tồn tại, có một số nghề thủ công và đô thị như Thăng Long, Phố Hiến, nhưng nhìn chung phát triển chậm và bị hạn chế bởi chính sách phong kiến.
Ngược lại, ở Đàng Trong, nhờ quá trình khai hoang mở rộng về phía Nam, đất đai rộng, dân cư tăng, nông nghiệp phát triển mạnh hơn. Thủ công nghiệp cũng khá phát triển, đặc biệt là đóng thuyền, làm đường, dệt vải. Thương nghiệp ở Đàng Trong sôi động hơn, nhất là buôn bán với nước ngoài, trong đó thương cảng Hội An trở thành trung tâm giao thương lớn và nhộn nhịp.
Như vậy, nếu Đàng Ngoài phát triển kinh tế chậm và chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, bóc lột, thì Đàng Trong phát triển năng động hơn, nổi bật ở khai hoang mở rộng ruộng đất và buôn bán, giao thương quốc tế.
Câu c:
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, văn hoá nước ta có nhiều thành tựu quan trọng, nhiều giá trị đến nay vẫn được bảo tồn và phát triển. Trước hết, về tôn giáo – tín ngưỡng, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo vẫn có ảnh hưởng trong đời sống, đồng thời Thiên Chúa giáo bắt đầu truyền vào nước ta. Nhiều đình, chùa, miếu, đền được xây dựng hoặc trùng tu trong giai đoạn này và đến nay vẫn còn tồn tại như chùa Keo (Thái Bình), nhiều đình làng cổ ở Bắc Bộ… Đây vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, vừa là di sản kiến trúc có giá trị.
Bên cạnh đó, văn học và nghệ thuật dân gian phát triển mạnh, đặc biệt là văn học chữ Nôm, truyện thơ Nôm, ca dao tục ngữ, truyện dân gian… Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống hình thành và phát triển như chèo, tuồng, múa rối nước, dân ca… cho đến ngày nay vẫn được biểu diễn trong lễ hội và trên sân khấu. Ngoài ra, lễ hội truyền thống ở làng xã cũng rất phong phú, gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thờ tổ tiên, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, và nhiều lễ hội vẫn được duy trì như lễ hội đền Hùng, lễ hội chùa Hương, hội làng…
Những thành tựu và hoạt động văn hoá này có vai trò rất quan trọng đối với đời sống nhân dân hiện nay. Chúng góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc, giúp thế hệ sau hiểu về lịch sử, truyền thống của cha ông. Đồng thời, văn hoá truyền thống còn làm phong phú đời sống tinh thần, gắn kết cộng đồng, giáo dục đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Ngoài ra, nhiều di sản văn hoá còn có giá trị lớn trong phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương. Vì vậy, các thành tựu văn hoá thế kỉ XVI–XVIII không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn tiếp tục sống động và đóng góp tích cực vào đời sống xã hội Việt Nam ngày nay.
a. Sự phát triển kinh tế Việt Nam từ thế kỉ XVI–XVIII
b. So sánh kinh tế Đàng Trong và Đàng Ngoài
c. Thành tựu văn hóa thế kỉ XVI–XVIII còn tồn tại đến nay và vai trò