Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong lịch sử văn học của Việt Nam, Phạm Ngũ Lão chỉ để lại vỏn vẹn có hai bài thơ nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn được sánh ngang những tác giả như danh tiếng nhất của văn học thời Trần – dòng văn học yêu nước. Bài thơ Tỏ lòng là một minh chứng tiêu biểu cho quy luật sống còn của văn chương nghệ thuật xưa nay: “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quý tinh túy, không có nhiều).
Hai câu thơ đầu đã thể hiện suất sắc vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao và kỳ vĩ:
“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu
Tam quân ti hổ khí thôn ngưu”
Dịch:
“Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nút trôi trâu.”
Hai chữ “múa giáo” trong lời dịch chưa thực sự thể hiện được xuất sắc hai từ “hoành sóc” của câu thơ chữ hán. Câu thơ nguyên tác đã dựng lên hình ảnh một con người cầm ngang ngọn giáo mà từ đó trấn giữ đất nước. Cây trường giáo ấy dường như có thể đo được chiều dài của non sông. Con người suất hiện với một tư thế vô cùng hiên ngang, mang tầm vóc lớn lao, sánh ngang với vũ trụ. Con người kỳ vĩ ấy thậm chí còn như áp cả không gian bao la. Hành động phi thường giữa khoảng trời đất: “khí mạnh nuốt trôi trâu”, không hề mệt mỏi: “trải mấy thu” tính cho hình ảnh của con người vốn đã kỳ vĩ này lại càng kỳ vĩ hơn nữa. Không gian được mở ra theo chiều rộng của núi sông, mở lên theo chiều cao đến tận ngưu sao ngưu thăm thẳm.
Trong câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng một hình ảnh vô cùng quen thuộc của văn chương cổ đại nhưng đã chắt lọc và kết tinh thành những áng thơ tuyệt cú. Sau này, trong bản dịch của Chinh phụ ngâm, ta thấy sự xuất hiện hình ảnh người chinh phụ: “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Nhưng, so với hình ảnh của người tráng sĩ cầm ngọn giáo trấn giữ non sông, đất nước thì người chinh phụ lại không có được cái vẻ đẹp của vũ trụ, cái hào khí ôm trùm cả đất trời ấy.
Hình ảnh ba quân là hình ảnh nói về quân đội nhà trần nhưng cũng là hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh mạnh mẽ của dân tộc. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hóa sức mạnh của ba quân vừa hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần mang hào khí Đông A của dân tộc ta. Câu thơ khiến cho người đọc ấn tượng mạnh với sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan giữa hiện thực và lãng mạn đến bất ngờ.
Hai câu thơ sau lại là dùng để thể hiện nỗi lòng của người tráng sĩ. Nỗi lòng đó là cái chí, cái tâm của người anh hùng:
“ Nam nhi vị liệu công danh trái,
Tu thính nhân gian Thuyết vũ hầu.”
Ở đây, chí làm trai mang tinh thần, tư tưởng tích cực của nho giáo là lập công, lập danh, lập nghiệp. Quan niệm lập công danh đã trở thành một quan niệm lý tưởng để đánh giá nam nhi thời phong kiến xưa. Công danh được coi là món nợ đời mà kẻ làm trai phải trả. Trả xong nợ công danh tức là có nghĩa đã hoàn thành nhiệm vụ đối với đời, với dân, với nước. Chí làm trai thời bây giờ khiến cho con người có thể từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỷ để thay vào đó là sự hy sinh, chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao, cứu nước và giữ nước.
Điều đáng chú ý hơn nữa đó là bên cạnh cái chí của người anh hùng thì cái tâm còn sáng tỏ hơn nữa. Cái tâm ấy thể hiện qua nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão. Ông thẹn khi mình chưa có tài mưu lược lớn như Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Hán để giúp cho Hán Vũ Đế cứu nước, cứu dân. Một cái nỗi thẹn nhưng không khiến cho người thẹn bị hạ thấp danh phẩm mà nó lại khiến cho ta càng trân trọng yêu thương phẩm giả tuyệt vời của thi nhân. Nỗi thẹn đặc biệt ấy vừa có giá trị nhân cách vừa cao cả, lớn lao.
Tỏ lòng vừa là nỗi lòng riêng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão vừa là xu thế chung tất yếu của thời đại: sức mạnh, tinh thần quyết chiến, quyết thắng để giải cứu dân tộc, giải cứu nhân dân chất kẻ thù xâm lược tàn ác.
Với bút pháp nghệ thuật hoành tráng, bài thơ đã thể hiện được suất sắc hào khí của thời đại Đông A – một trong những thời đại hào hùng nhất, vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Phạm Ngũ Lão là một danh tướng rất giỏi của thời nhà Trần, tuy nhiên ông không những là một vị tướng giỏi giết hàng trăm kẻ giặc bảo vệ cho đất nước, giúp cho vua Trần thắng trận trở về mà ông còn là một nhà thơ nữa. Tuy là tướng võ nhưng Phạm Ngũ Lão lại rất thích đọc sách ngâm thơ chính vì thế mà ông có làm thơ tuy ít nhưng chất lượng. Tiêu biểu nhất đó chính là bài thơ thuật hoài của ông.
Thuật hoài là nỗi lòng của nhà thơ về những chí khí của một người anh hùng sống trên đời, không những thế nó còn là những lời để cho nhà thơ thể hiện sự yêu mến và cho người đọc thấy được những khí phách của quân đội nhà Trần. Chúng ta như cảm thấy một anh hùng lớn ở đây, chính ông đã mang đến một bài thơ hay cho chúng ta. Đồng thời qua bài thơ đó ta thấy Phạm Ngũ Lão là một bậc danh tướng trung quân ái quốc có lí tưởng lớn lao.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cho nên chúng ta đi phân tích hai câu thơ đầu trước:
“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu. ”
Hai câu thơ như vẽ lên những hình ảnh của những người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất không những hiên ngang mà còn bất khuất kiên cường. Trước tiên thì đó là vẻ đẹp của người anh hùng với cây giáo trong tay mình. Dường như Phạm Ngũ lão đang thể hiện chính quan niệm anh hùng của mình qua hình ảnh cây giáo ấy. Ở đây tác giả như nói về một người con trai, một vị danh tướng đã sống trên đời thì phải biết cầm ngọn giáo trên tay mà đánh giặc bảo vệ đất nước muôn đời bình yên thịnh vượng. Hai chữ “hoành sóc” như thể hiện sự hiên ngang ấy, thế nhưng ở bản dịch lại làm giảm đi ý nghĩa của hai chữ hoành sóc ấy. Bản dịch là “múa giáo”, thử cảm nhận mà xem so với hai chữ hoành sóc thì múa giáo thật sự thể hiện sự yếu ớt chứ không hề dũng mạnh một chút nào.
(Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu. )
Có thể thấy được sự thể hiện rất rõ của hai chữ “hoành sóc”. Không những thế mà hình ảnh người anh hùng hiên ngang ấy lại còn cầm ngọn giáo ấy trong tay trải qua biết bao nhiêu thời gian để đánh giặc. Ngọn giáo ấy được đo bằng không gian non sông đất nước và chiều dài của lịch sử. Hình như giáo cũng có không gian sinh thành và có tuổi đời như chúng ta vậy.
Không chỉ thể hiện vẻ đẹp cá nhân mà chúng ta còn thấy được những vẻ đẹp của quân đội nhà Trần qua câu thơ thứ hai:
“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
ở đây có hai cách hiểu một là khí mạnh của ba quân có thể nuốt trôi một con trâu lớn. Khí phách ấy giống như một con hổ lớn có thể nuốt hết tất cả những tên giặc kia nếu chúng không chịu rút quân về nước. Binh tốt không những phải giỏi mà còn phải có một tinh thần tốt thì mới chiến thắng được.
Cách hiểu thứ hai là khí chí của quân đội nhà trần khiến át đi cả sao Ngưu Vương. Dù hiểu theo cách nào đi nữa thì chúng ta đều biết được khí phách của quân đội nhà Trân là rất lớn.
Sang hai câu thơ tiếp theo nhà thơ như thể hiện lên những tâm sự riêng tư của mình:
“Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. ”
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)
Nói về công danh Nguyễn Công Trứ thường có câu:
“Đã có tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Chính vì thế qua đây ta thấy quan niệm trên không chỉ của riêng Phạm Ngũ Lão mà nó chỉ chung cho tất cả những người anh hùng, trượng phu lúc bấy giờ. Đối với nhà thơ mà nói những gì ông làm cho đất nước chưa thấm thoát gì vì thế cho nên công danh nam tử còn đang vương nợ. Đó là cái nợ cho đất nước, là cái nợ với vua. Thế nên khi nghe thuyết kể về Vũ Hầu một người quân thần tài giỏi thì tác giả hãy còn e thẹn.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm sự cùng những trăn trở về công danh của người tướng danh tài ba Phạm Ngũ Lão. Ông đã xây dựng được một hình ảnh những con người nhà trần khỏe mạnh hết lòng vì tổ quốc vì nhân dân. Đồng thời tác phẩm thể hiện rõ hào khí Đông A.
Sách là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Từ xưa, cha ông ta đã lưu lại những hiểu biết phong phú về mọi mặt đời sống xã hội và muôn hình vạn trạng trạng thái vận động của tự nhiên. Và như vậy, sách cung cấp cho ta những tri thức về hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Nhờ đó, khi tiếp xúc với sách, con người có cơ hội tiếp xúc với toàn bộ kho tàng văn hoá của văn minh nhân loại. Đọc sách, ta biết về những gì đã xảy ra trong lịch sử loài người. Có xuất phát điểm từ loài vượn thông minh, con người dần gây dựng được những nền văn minh rực rỡ: văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai Cập, văn minh Hi Lạp – La Mã,… và từ đó trải qua bao hình thái kinh tế xã hội phức tạp mới có xã hội văn minh, hiện đại như ngày nay. Đọc sách, ta còn biết về những phát minh có ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến bộ xã hội: đèn điện, máy bay, điện thoại,… Đặc biệt, nhờ có sách mà ngày nay, ta ngồi trong nhà mà có thể biết về mọi nơi trên thế giới, giống với đi du lịch vậy! Đọc sách quả là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống.
![]()
+Ai cũng biết sách chứa đựng rất nhiều kiến thức trong cuộc sống, giúp chúng ta tư duy, nhận thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và tích lũy được vốn từ ngữ phong phú. Vậy thì vì sao chúng ta không thể không duy trì một thói quen đọc sách thường ngày hay mỗi khi có thể như một sự thưởng thức cuộc sống, đó chẳng khác gì một sự trải nghiệm phong phú đủ mọi cung bậc trên từng trang sách.
+Ý nghĩa của việc đọc sách đem lại sự thư giãn và cảm thấy vui, là nguồn gốc tuyệt vời của sự hưởng thụ, mọi nguồn cảm hứng, chỉ cho chúng ta mọi con đường đi với những kiến thức tuyệt vời, nó giúp ta trở thành một người thành công trong cuộc sống này.
+Khi đọc sách, mọi người sẽ không chỉ cảm thấy không còn đơn độc mà họ còn cảm thấy vô cùng tĩnh tâm. Nó có thể cung cấp cho chúng ta những ý nghĩ cao thượng, những ý tưởng để làm việc trong nhiều lĩnh vực và hiểu biết sâu rộng. Những cuốn sách thú vị và bổ ích giống như người bạn tốt, nhất là với những người say mê đọc nó.
có thể là nhẫn cưới chăng, bạn ghi tập và tên chương hộ mình với nha
mk mượn của bn và đọc lâu rồi nên ko nhớ tập, tên chương thì hình như là: Chiếc huy hiệu màu đỏ j j đó thì phải!
Câu thơ:
Tác dụng của phép đối
Phép đối được sử dụng rất chặt chẽ cả hình thức lẫn ý nghĩa:
→ Hai vế song song, cân xứng, tạo cấu trúc hài hòa.
👉 Kết luận:
Phép đối giúp câu thơ vừa cân xứng, giàu nhạc điệu, vừa khắc họa sâu sắc cảnh tĩnh lặng và tâm trạng buồn sầu, cô đơn của nhân vật trữ tình.