Tình mẹ, một tình cảm thiêng liêng, cao quý luôn hiện hữu trong mỗi người con dành cho đấng sinh thành của mình. "Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!". Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta, không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi, ở đâu thì đúng thật, không ai tốt, chăm sóc, lo lắng cho chúng ta bằng chính cha mẹ...
Cô học trò nhỏ, con gái của độc giả Trần Thị Sương, đang học lớp 10 chuyên Hóa Trường THPT chuyên Lê Quí Đôn (Đà Nẵng) đã gửi gắm những tình cảm thiêng liêng dành cho mẹ vào trong chính bài văn của mình. Mời độc giả cùng theo dõi:
Mọi người chúng ta ai cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền. Vẫn biết bên mình có biêt bao nhiêu người thân yêu - đến trường ta có bạn bè thân thương, có ngôi trường thương mến, có thầy cô kính yêu hằng ngày vỗ về, dạy dỗ ... nhưng chắc chẵn có ai không cảm nhận được tình yêu thương đầy ắp, nồng ấm của người mẹ hiền đi theo ta đến suốt cuộc đời là cao cả nhất.
Tình yêu đó cứ lớn dần theo năm tháng, đến bây giờ khi bước chân vào trường trung học phổ thông ta mới phần nào hiểu được tình yêu thiêng liêng của mẹ.
Một sớm mai thức dậy, ta đã cảm nhận được bàn tay mẹ hiền ôm ấp đêm qua, giờ đây lại chuẩn bị nắm cơm buổi sáng trước lúc ta đến trường. Khi ta vào lớp, bàn tay mẹ lại tần tảo nắng mưa ngoài nương rẫy lo cho ta buổi cơm thường nhật, từng mãnh áo ấm trong những tiết trời lập đông. Cứ thế, tình mẫu tử luôn hiện hữu, cứ mãi chở che, mơn trớn, vỗ về, yêu thương, trìu mến trên mỗi nẻo đường con đến lớp.
Tình mẹ tràn đầy, trinh trắng như mặt nước hồ thu buổi sớm mà vẫn chân chất, mộc mạc, gần gũi tinh tươm tựa trang giấy học trò. Có lẽ khi con người còn chưa biết mặt chữ thì tình mẫu tử đã thể hiện đủ đầy, lung linh như ánh trăng rằm trong những câu ca dân gian xưa. Nay trên tất cả các phương tiện trao đổi thông tin, nghệ thuật, hình ảnh người mẹ lại càng được tôn vinh hơn nhưng chắc vẫn chưa bao giờ đủ để nói lên sự hy sinh và tình yêu người mẹ dành cho ta.
Từ tấm bé, khi biết cảm nhận cuộc đời, tình mẹ luôn dần lớn lên bên con theo năm tháng...
“ Ầu ơ ... ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi, Khó đi mẹ dắt con đi...”
Câu hát ru con bất ngờ của nhà ai hàng xóm trong đêm sâu quạnh quẽ của miền quê có lẽ cũng đủ đưa ta theo nguồn yêu thương của tình mẹ bao la! Tình mẹ thể hiện mọi nơi trên trái đất nầy với bất kỳ không gian nào. Một sớm mai trong bài giảng của Thầy ở lớp, vẫn còn nhớ như in câu hò đầm ấm, du dương mà mênh mông tình mẫu tử:
“Hò ơ! Mẹ già như chuối chín cây, Gió lay mẹ rụng... gió lay mẹ rụng ... con phải mồ côi!”
Buổi chiều về, đem cảm xúc nầy thổ lộ với Ba, con lại nghe Ba sụt sùi tiếc thương đã một lần lầm lỡ khi vô tình để mẹ buồn lúc tuổi thời cắp sách. Ba rất sợ mồ côi chăng? Có lẽ thế! Mồ côi với tình yêu thiêng liêng bất tận! mồ côi bàn tay chăm bẵm tự buổi sơ sinh! Mồ côi sự chở che từ tấm bé! Mồ côi ngay cả lúc đã là người lớn như Ba! Mồ côi sự nuông chiều trong thời thơ dại! Mồ côi cả trong buổi xế chiều!... Ba chỉ ngậm ngùi đọc câu ca dao xưa cũ:
“Công cha như núi Thái sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Ta chợt rùng mình sợ hãi thật sự nếu trên đời nầy, ta hay bất kỳ ai lỡ thiếu vắng đi một tình yêu thương của mẹ hiền!
Một đêm sốt xoàng thôi ta đủ biết mẹ chẳng bao giờ yên giấc, bàn tay mẹ nhẹ nhàng sờ trán thăm khám nhiệt độ, đắp chăn, tất tả lo thuốc men, rồi mẹ nấu lá xông mà khi nhỏ ta cứ ngỡ nồi lá xông là thuốc thần để con hết bệnh!
“Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.
Cơn sốt của con đã là cơn lửa đốt lòng mẹ! Cơn ho của con chắc đã làm khuôn mặt mẹ thêm hằn những vết chân chim!
Hình ảnh người mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, chở che! Cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? khi lỡ ngã đau, ai lên tiếng xít xoa? Cảm nhận được nổi đau lúc nầy là ai ngoài mẹ? Ai mừng vui nhất khi ta cất tiếng nói bi bô? Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt dõi theo đầy lo lắng của mẹ hiền! Và có ai tả được ánh mắt mừng vui của mẹ mỗi khi ta được điểm mười ?
Giờ đây, khi ngồi trên ghế nhà trường với những trang sách mới thơm tho như còn phảng phất mùi hương lúa mới đồng quê và những giọt mồ hôi tảo tần của mẹ, với bộ trang phục màu xanh hôm nay đây chắc không thiếu đi niềm hy vọng cho con nên người tự miền quê xa lắc! Khi phố lên đèn ta chắc mẹ mới rời công việc đồng áng, thoăn thoắt bước chân về nhà dưới làn sương đêm mà mẹ chưa một lần ta thán!
Còn nhớ như in những lúc học bài khuya, mẹ vẫn thức cùng con và ngồi bên may vá, khâu lại từng chiếc khuy, đắp bạ từng mãnh vai áo đã sờn. Ngồi bên con, chắc mẹ sợ con thức khuya không đủ sức mai dậy sớm đến trường, mẹ lại tất tả lo cho con từng ly nước cam ngọt lịm tình yêu thương. Đến khi con chim nhạn lạc bầy kêu sương đâu đó giữa không gian miên mang của đêm miền quê xứ Quảng, con lại lo rằng để mẹ cùng thức quá khuya làm sao ngày mai mẹ tiếp tục ra đồng dưới nắng?
Cũng đã có nhiều lần phạm lỗi, sau cái nhìn nghiêm khắc của mẹ, ta vẫn nhận được sự vỗ về bằng những lời khuyên mộc mạc, chân tình nhưng lắng sâu nỗi bao dung. Mỗi lần như vậy, con như lớn thêm lên, cứng cáp hơn lên và tự hứa với lòng sẽ không bao giờ phạm lỗi. Ta có biết đâu tuổi thơ vẫn cứ êm đềm trôi đi trong lúc lưng mẹ ngày thêm còng xuống theo dấu ấn ngiệt ngã của tháng năm, lỗi lầm xưa con e rằng chưa có dịp nào chuộc lại, tóc mẹ lại trắng thêm khi ta chưa kịp nên người!
Ngày tựu trường phổ thông trung học chuyên, hai mẹ con rụt rè trên phố như không khí “ngày tựu trường đầu tiên” của Thanh Tịnh. Trong trang phục của quê nghèo lạ lẩm tại góc phố phồn hoa nhưng con vẫn cảm nhận được sự rắn rỏi, cứng cáp của mẹ để con vững tin mà tiếp xúc môi trường mới mẽ. Có ai đó thì thầm xót xa, ái ngại nhưng có gì đâu? Người ta có thể có nhiều thứ hơn nhưng con vẫn tin rằng con đã có một gia sản quí nhất trên đời chưa chắc ai sánh kịp đó là tình mẹ của con!
Hôm nay trên chiếc xe đạp mẹ mua cho con vẫn còn thơm mùi sơn mới, con đến trường trong niềm hân hoan như đang trong vòng tay mẹ, con đã tiếp cận môi trường mới, Thầy cô mới, bạn bè mới trong veo tuổi thơ học trò, con chắc vẫn không bao giờ thiếu sự lo lắng, nhớ thương của người mẹ hiền tần tảo.
Cuộc đời mẹ là cả một đời mãi hy sinh cho con, tình yêu của mẹ dành cho con mênh mông như trời biển vẫn như câu ca dao xưa đó thôi: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, và nước trong nguồn vẫn luôn chảy mãi như để tình mẹ luôn tồn tại vĩnh hằng!
Giờ đây, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tưởng như báo đáp công ơn trời biển của mẹ bằng cả sự quyết tâm học hành của con! Con hứa với mẹ con sẽ giữ mãi màu xanh đồng phục của con bên cạnh bạn bè con, của trường con luôn trong sáng như niềm tự hào của chính con, như niềm hy vọng ngọt ngào vô tư của mẹ hiền dành cho con.
Mẹ ơi! Tình mẹ thật bao la! Con chỉ là đứa bé thích luôn được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân con nên người, góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình./.
So sánh, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật hai đoạn trích kí
Nhật kí thời chiến là nơi lưu giữ chân thực nhất vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Đoạn trích ngày 2.10.1971 trong Nhật kí tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc và đoạn trích ngày 8.11.1968 trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm đều thể hiện sâu sắc lý tưởng sống cao đẹp và tình cảm thiêng liêng của những con người cách mạng.
Về giá trị nội dung, đoạn trích của Nguyễn Văn Thạc khắc họa niềm vui sướng, tự hào của người thanh niên khi khoác lên mình bộ quân phục. Hình ảnh màu xanh áo lính và ngôi sao trên mũ trở thành biểu tượng cho lý tưởng, ước mơ và sự sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Đó là vẻ đẹp lãng mạn, trong sáng nhưng cũng thấm đẫm tinh thần chiến đấu. Trong khi đó, đoạn trích của Đặng Thùy Trâm lại tập trung thể hiện tình đồng chí, đồng đội sâu nặng. Nỗi lo lắng, xót xa trước hiểm nguy của người em đã làm nổi bật tình thương mênh mông, trong trẻo – sức mạnh tinh thần lớn lao của những người cách mạng giữa chiến tranh ác liệt.
Về giá trị nghệ thuật, đoạn trích trong Nhật kí tuổi hai mươi giàu chất trữ tình, sử dụng hình ảnh biểu tượng và liên tưởng phong phú, giọng văn lãng mạn, sâu lắng. Đoạn trích trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm lại gây xúc động bởi giọng văn chân thành, tha thiết; điệp ngữ và so sánh được dùng liên tiếp để nhấn mạnh cường độ cảm xúc.
Có thể thấy, dù khác nhau về cảm hứng thể hiện, cả hai đoạn trích đều gặp nhau ở vẻ đẹp chung: lý tưởng cao đẹp và tình người sâu sắc của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh, góp phần làm nên giá trị nhân văn bền vững cho hai tác phẩm.
Các bạn định viết văn à
Hai đoạn trích trong “Nhật ký tuổi hai mươi” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đều được viết trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ghi lại tâm hồn, suy nghĩ và cảm xúc chân thật của thế hệ trẻ Việt Nam. So sánh hai đoạn trích, ta thấy hiện lên những điểm gặp gỡ đẹp đẽ trong lí tưởng sống, đồng thời mỗi tác phẩm lại mang một sắc thái riêng của tâm hồn người lính.
Trước hết, cả hai đoạn trích đều thể hiện bước chuyển mình mang tính thời đại của tuổi trẻ trí thức, từ đời sống bình yên sang nhiệm vụ chiến đấu với một ý thức sâu sắc. Nguyễn Văn Thạc viết trong khoảnh khắc cá nhân đón nhận nhiệm vụ mới, anh "trút bỏ không thương tiếc" quá khứ sinh viên với màu áo trắng, màu xanh da trời để "trìu mến khoác lên mình màu xanh" của người lính. Đó là sự lựa chọn tự nguyện, dứt khoát. Tương tự, Đặng Thùy Trâm, trong vai trò một nữ bác sĩ nơi chiến trường, cũng thể hiện sự thấu hiểu về sứ mệnh khi cô tự hỏi: “Tại sao những người cách mạng lại có thể thương nhau đến mức ấy nhỉ?”. Câu hỏi ấy cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức về một thứ tình cảm lớn lao, vượt lên trên cá nhân, được nung đúc trong lửa đạn chiến tranh. → Cả hai đều cho thấy sự giác ngộ lý tưởng một cách tự nhiên, sâu sắc, biến vận mệnh cá nhân thành một phần của vận mệnh dân tộc.
Bên cạnh đó, hai tác giả còn gặp nhau ở khả năng biến những biểu tượng cụ thể, giản dị thành những biểu tượng giàu sức khái quát về lý tưởng và tình cảm cách mạng. Nguyễn Văn Thạc nhìn "màu xanh" của bộ quân phục không còn là màu vải thông thường, mà trở thành "màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ và hy vọng", thậm chí là "màu xanh bất diệt của sự sống". Anh nhìn "ngôi sao" trên mũ không chỉ là phù hiệu, mà còn chứa đựng "ánh lửa cầu vồng của trận công đồn". Còn Đặng Thùy Trâm thì khái quát hóa "tình thương" giữa những người đồng chí thành một thực thể hùng vĩ, vô hạn: "Một tình thương sâu thẳm và mênh mông như biển cả. Một tình thương trào dâng như những đợt sóng bạc đầu..." Những liên tưởng ấy cho thấy một tâm hồn lãng mạn, giàu chất thơ, luôn biết nâng những điều bình dị lên tầm vóc cao cả.
Tuy nhiên, hai đoạn trích vẫn mang những sắc thái khác nhau, tạo nên giá trị riêng của mỗi cuốn nhật ký. Ở Nguyễn Văn Thạc, giọng văn mang tính khải huyền, hào sảng và đầy chất triết lý. Khoảnh khắc nhập ngũ được miêu tả như một lễ thức thiêng liêng của đời người với các cung bậc cảm xúc rõ rệt: "Vui sướng, tự hào, cảm động". Sự đối lập giữa ký ức "sao Hôm yêu dấu" và viễn cảnh "màu đỏ của lửa, của máu" trong cùng một ngôi sao cho thấy tầm nhìn sắc sảo, ý thức đầy đủ về hi sinh và một tinh thần sẵn sàng lao vào thử thách. Chất "thép" trong tư tưởng được biểu đạt bằng một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu dồn dập.
Ngược lại, đoạn trích của Đặng Thùy Trâm mang giọng điệu tâm tình, sâu lắng, xoáy vào những cảm xúc riêng tư nhất nơi chiến trường. Là một người chị, một đồng đội, chị viết từ nỗi "xót xa vô cùng" khi nghĩ đến sự mong manh của người em gái, từ cái nắm tay "ấm nóng" cụ thể. Tình thương cách mạng không được nâng lên tầm vũ trụ ngay từ đầu, mà khởi nguồn từ những cử chỉ nhỏ bé, chân thành ấy. Văn của chị là dòng chảy cảm xúc liên tục, với những câu văn dài, nhiều tầng bậc, giàu nhạc điệu như một lời thì thầm, sẻ chia. Chất "trữ tình" đằm thắm, nữ tính và đầy trắc ẩn này tạo nên sức ám ảnh riêng.
Từ sự so sánh trên, có thể khẳng định: dù giọng điệu và điểm nhìn khác nhau, cả Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm đều góp phần làm phong phú thêm chân dung tinh thần thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh. Những trang nhật ký của họ không chỉ là lời tự vấn cá nhân mà còn là bản anh hùng ca thầm lặng về lý tưởng, sự trưởng thành và tình yêu thương đồng chí. Đó là những di sản văn học bằng máu và nước mắt, mãi mãi rực sáng như những ngôi sao trên mũ người lính và ấm áp như những bàn tay nắm chặt nơi tuyến lửa.
#LTrNgAnhhh