Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Gừng
Gừng là một trong những vị thuốc tự nhiên chữa bệnh tốt nhất. Gừng chứa các thành phần kháng viêm cũng như có tác dụng chống oxy hóa. Sử dụng một lát gừng tươi sẽ giúp bạn dễ chịu hơn khi bị đau hay co thắt dạ dày.
Cách sử dụng:
- Thêm một vài lát gừng thái nhỏ vào tách trà buổi sáng hoặc buổi tối, đặc biệt là trà xanh sẽ hạn chế được cơn đau dạ dày trong vòng 2-3 ngày.
- Ngoài ra, bạn cũng có thể thêm một thìa nước cốt gừng tươi và một thìa nước chanh vào cốc nước lọc sau đó nguấy đều. Tiếp theo thêm một thìa mật ong vào hỗn hợp trên và uống đều đặn vào buổi sáng hàng ngày.
Nước muối ấm
Nước muối ấm không chỉ là bài thuốc chữa viêm họng tại nhà hiệu quả mà còn có tác dụng chữa đau dạ dày rất tốt.
Cách sử dụng:
- Thêm một thìa muối vào nước ấm, nguấy đều cho muối tan hết. Hãy uống nước muối ấm ngay lập tức để chấm dứt tình trạng đau, co thắt và rối loạn chức năng dạ dày.
Giấm táo
Giấm táo có tác dụng khử trùng và rửa ruột rất tốt. Nó giúp dạ dày hấp thu các chất dinh dưỡng và ngăn ngừa chứng khó tiêu, đồng thời có tác dụng chữa đau dạ dày hiệu quả.
Cách sử dụng:
- Cho hai hoặc ba thìa giấm táo vào một cốc nước ấm hoặc lạnh, nguấy đều. Uống trước khi ăn sẽ giúp bạn ngăn ngừa bệnh đau dạ dày.
Nước ép bạc hà
Lá bạc hà có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và được sử dụng để chữa trị chứng đau và co thắt dạ dày.
Cách sử dụng:
- Nhai một hoặc hai lá bạc hà tươi 2-3 lần trong vài ngày sẽ dịu bớt cơn đau dạ dày của bạn.
- Cho một vài nhánh bạc hà vào một cốc trà nóng. Uống 2-3 lần trong ngày.
- Trà bạc hà sẽ giúp bạn dứt hẳn những cơn đau dạ dày.
Nước chanh
Chanh là loại hoa quả rất dễ kiếm. Nếu trong nhà không có gừng và bạc hà, bạn có thể uống thật nhiều nước chanh để làm giảm những cơn đau dạ dày.
Cách sử dụng:
- Cho 2-3 thìa đường nước chanh tươi vào nước ấm. Nguấy đều.
- Uống 2-3 cốc nước chanh mỗi ngày để làm dịu hẳn cơn đau dạ dày.
Trà hoa cúc
Trà hoa cúc giúp bạn giảm căng thẳng lo âu và có tác dụng chữa đau dạ dày rất tốt.
Cách sử dụng:
- Thêm một lát chanh khi uống trà hoa cúc sẽ giúp bạn làm dịu cơn đau dạ dày hiệu quả.
Lô hội
Nước lô hội có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Bạn có thể uống nước lô hội khi bị mắc các bệnh về đường ruột.
Cách sử dụng:
- Thêm một thìa nước lô hội vào một cốc nước ấm. Thêm nước chanh vào hỗn hợp này và ngoáy đều.
- Uống hai lần/ngày sẽ giúp dạ dày bạn dịu hẳn chứng co thắt, khó tiêu, đầy hơi và tiêu chảy.
Hạt cây thì là
Hạt cây thì là chứa các thành phần có tác dụng chữa trướng bụng và ngăn ngừa đau dạ dày.
Cách sử dụng:
- Cho một thìa hạt thì là vào cốc nước đun sôi. Nguấy đều và gạn hạt cây thì là ra.
- Cho một thìa cà phê nước cốt chanh vào nước và uống trước khi ăn để ngăn ngừa chứng khó tiêu và đau dạ dày.
Chữa đau dạ dày bằng nhiệt độ
Đặt túi chườm nóng hoặc một chai nước nóng lên dạ dày khi bạn cảm thấy đau. Ấn vào chỗ đau và giữ cố định trong vài phút. Bỏ túi chườm ra và tiếp tục đặt nó lần hai vào chỗ đau trong 2 phút.
Lặp lại quy trình này 4-5 lần trong ngày để làm dịu bớt cơn đau dạ dày.
Đồ ăn nhạt
Ăn đồ nhạt giúp bạn dễ tiêu hóa khi bị đau dạ dày.
Một vài lưu ý:
- Tránh sử dụng các loại đồ ăn bơ sữa trong một vài ngày bởi trong đó có các vi sinh vật không có lợi cho dạ dày.
- Tránh đồ ăn cay, có mỡ hoặc đồ ăn ngọt. Thay vào đó ăn nhiều rau, củ, quả để làm dịu cơn đau.
Xong rùi đó!!!!!
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác phẩm và nhân vật sẽ phân tích.
- Nêu khái quát vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm.
- Dẫn dắt vào vấn đề: Nhân vật mang những đặc điểm nổi bật nào?
Ví dụ:
Trong truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao, nhân vật lão Hạc hiện lên như một người nông dân nghèo khổ, giàu tình yêu thương và đầy lòng tự trọng. Qua đó, Nam Cao đã gửi gắm nhiều thông điệp nhân văn sâu sắc.
II. THÂN BÀI
1. Hoàn cảnh sống của nhân vật
- Xuất thân, vị trí trong xã hội, môi trường sống.
- Tình cảnh riêng (nghèo đói, chiến tranh, mồ côi, áp bức,...).
- Hoàn cảnh có ảnh hưởng gì đến tâm lý, hành động, tính cách của nhân vật?
2. Đặc điểm tính cách, phẩm chất
Tùy vào từng nhân vật cụ thể mà phân tích những nét sau:
- Lòng nhân hậu, yêu thương (ví dụ: thương con, thương người khác...)
- Lòng tự trọng, nhân cách cao đẹp
- Ý chí, nghị lực sống mạnh mẽ
- Tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc
- Khát vọng sống, ước mơ, hoài bão
- Sự đấu tranh nội tâm, mâu thuẫn tâm lý
- Tính cách phức tạp, đa chiều
→ Dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm (lời nói, hành động, suy nghĩ của nhân vật)
3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Cách nhà văn khắc họa nhân vật (miêu tả nội tâm, ngoại hình, đối thoại...).
- Ngôn ngữ, giọng điệu phù hợp tính cách.
- Nhân vật có tính điển hình không?
4. Ý nghĩa của nhân vật
- Góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
- Phản ánh hiện thực xã hội.
- Gợi mở những giá trị nhân văn sâu sắc.
III. KẾT BÀI
- Khái quát lại những đặc điểm nổi bật của nhân vật.
- Nêu cảm nhận, ấn tượng cá nhân về nhân vật.
- Liên hệ: thông điệp cuộc sống rút ra từ nhân vật đó.
1. Mở bài
Giới thiệu tác phẩm, tác giả.
Giới thiệu nhân vật sẽ phân tích (tên, vị trí trong tác phẩm, vai trò chính hay phụ).
Nêu khái quát đặc điểm nổi bật của nhân vật (tính cách, phẩm chất, vai trò trong câu chuyện).
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh, vị trí của nhân vật
Xuất thân, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống.
Bối cảnh lịch sử – xã hội mà nhân vật tồn tại.
Hoàn cảnh riêng tác động đến tính cách, hành động của nhân vật.
b. Ngoại hình
Miêu tả ngắn gọn các chi tiết ngoại hình tiêu biểu (dựa vào miêu tả trong tác phẩm).
Nêu ý nghĩa của những chi tiết đó (ví dụ: ngoại hình phản ánh tính cách, số phận).
c. Tính cách và phẩm chất
Phân tích các nét tính cách nổi bật của nhân vật (dũng cảm, hiền lành, mưu trí, ích kỉ, ác độc…).
Lấy dẫn chứng từ tác phẩm (lời nói, hành động, suy nghĩ) để chứng minh.
Nếu nhân vật có nhiều nét tính cách (cả tốt lẫn xấu) thì cần phân tích đầy đủ và rõ ràng.
d. Hành động và vai trò
Nêu những hành động tiêu biểu của nhân vật trong tác phẩm.
Vai trò của nhân vật đối với diễn biến câu chuyện và các nhân vật khác.
Ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
3. Kết bài
Khái quát lại đặc điểm nổi bật của nhân vật.
Nêu cảm nghĩ, ấn tượng cá nhân về nhân vật.
Nếu cần, liên hệ thực tế hoặc so sánh với nhân vật khác để làm nổi bật ý nghĩa.
đúng á chị ấy chắc chắn sau này sẽ chở thành nhà văn, nhà thơ giỏi cho mà xem, em mê cách sáng tác thơ của chị lắm lun ý.
Học tập là mục tiêu suốt đời của mỗi người. Chúng ta hiện nay đang phấn đấu xây dựng một xã hội học tập, nhằm phát huy tối đa khả năng cũng như quyền được được học tập của mỗi người. Có một câu ngạn ngữ của người Gruzia “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc”.
Thật vậy! Kiến thức không phải tự nhiên mà có. Đó là tích lũy hiểu biết của nhân loại, của cộng đồng, của nhiều thế hệ thông qua quá trình học tập mà thành. Học tập chính là quá trình tích lũy kiến thức! Câu ngạn ngữ trên đã có một ví von rất hay khi đưa ra hình ảnh “hạt giống” để nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập. Hạt giống sẽ nảy nở phát triển thành cây. Quá trình học tập cũng như gieo hạt giống cho trí não và tâm hồn. Kiến thức nhiều cũng là kết quả tích lũy hạt giống để hứa hẹn một mùa bội thu. Kiến thức tốt, đầy đủ, phong phú sẽ gieo những hạt giống cho tương lai của mỗi con người. Tuy nhiên cần phải hiểu thấu đáo hơn câu ngạn ngữ này ở nghĩa bao quát của nó. Hạt giống chuẩn bị không tốt, cây sẽ phát triển èo uột, kiến thức nông cạn ít ỏi khiến chúng ta gặp vô vàn khó khăn, lúng túng và bế tắc trong công việc. Và một người học tập được điều hay lẽ phải thì cũng chính là tích lũy hạt giống tốt, còn kiến thức lệcj lạc, sai lầm thì như hạt giống xấu làm hủy hoại tư duy và tâm hồn, sẽ không tránh khỏi gây tác hại cho đời sống. Cũng như vậy, chỉ trên nền tảng một kiến thức đầy đủ mới có tương lai hạnh phúc. Bởi vậy, trong đời sống, ta gặp không ít những tấm gương đổi đời nhờ kiến thức.
Tuy nhiên mối quan hệ học tập – kiến thức – hạnh phúc không chỉ được hiểu đơn giản một chiều mà cần phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng nhân quả của nó. Ông bà ta cũng thường nói “gieo nhân nào, gặt quả ấy” như một cảnh tỉnh. Xét mối quan hệ trong ba yếu tố học tập – kiến thức – hạnh phúc cũng cần được nhìn nhận từ nhiều phía. Học tập đúng đắn, có phương pháp, có chọn lọc thì mới có kiến thức tốt, đa dạng, phong phú. Kiến thức tốt cần gắn với thức đem kiến thức ấy phục vụ cho xã hội và cho bản thân, không chỉ là những kiến thức thu lượm được theo kiểu thực dụng ích kỷ, vì nếu hạnh phúc của ta lại đem bất hạnh cho người khác thì cũng là chứng tỏ ta đã tích lũy hạt giống xấu cho chính ta, gieo mầm bất hạnh cho kẻ khác.
Vì vậy. mỗi chúng ta phải xác định động cơ học tập đúng đắn, thu lượm kiến thức bổ ích, hướng tới hạnh phúc của cộng đồng hài hòa với hạnh phúc cá nhân. Có như vậy mới thật sự trở thành con người có ích cho xã hội.
Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng : “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu : “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc : “Bất học bất tri lí” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).
Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.
Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lí. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.
Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.
Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức (chất xám) của con người là tiền đề vô cùng quan trọng. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp. Có nắm vững lí thuyết, chúng ta mới làm được những công việc phức tạp. Lí thuyết khoa học có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho kĩ năng thực hành, con người sẽ rút ngắn được thời gian mò mẫm, tìm hiểu thực tiễn, do đó sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc.
Học không chỉ là quá trình rèn luyện tri thức mà còn là quá trình rèn luyện tình cảm và đạo đức. Con người ngoài cái trí còn cần có cái tâm. Học là để thấu hiểu những lẽ huyền bí của cuộc đời, của vũ trụ chứa đựng trong những công thức toán đơn giản hoặc trong những quy luật thịnh suy của một xã hội. Không hòa cái tâm của mình vào trong cuộc đời, vào vũ trụ để lắng tìm và cảm nhận thì làm sao có được những tín hiệu mách bảo cho trí tuệ con đường đi tới những lẽ huyền diệu và bí ẩn kia ?. Như vậy là có biết bao kién thức mới, nhận thức mới về cuộc đời, về thế giới mà chúng ta tìm kiếm được không chỉ bằng lí trí mà còn bằng cả tâm hồn.
Học cần có cái trí và cũng có cần có cái tâm là vì thế. Học cũng là để sáng thêm cái trí, lành thêm cái tâm và để đóng góp tài đức của mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước mạnh giàu.
Điều quan trọng là đã học thì phải học đều các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Văn, Sử là những môn học cần thiết, nếu không nói là đặc biệt quan trọng để tạo nên nhân cách. Nếu chúng ta không coi trọng các môn này thì tâm hồn sẽ khô cứng, vô cảm trước con người và cuộc đời mà dẫn đến thái độ dửng dưng trước vẻ đẹp phong phú và sự giàu có của lịch sử văn hóa dân tộc.
Sẽ không ai trách chúng ta khi chỉ thích học Tin học, Kinh tế, Ngoại ngữ… Nhưng nếu chỉ giỏi chữ số mà quên chữ viết, giỏi kĩ thuật mà kém văn hóa thì sẽ là thiệt thòi lớn cho mỗi con người.
Việc học hành quan trọng như vậy, do đó chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của việc học hành. Đúng là : “Nếu không có học hành đến nơi đến chốn thì lớn lên, chúng ta sẽ chẳng làm được việc gì có ích”.
Hiện nay, một số bạn trẻ không nhận thức được tầm quan trọng của việc học đối với sự thành công hay thất bại của đời người. Nhận thức lệch lạc thường dẫn đến hành động sai lầm. Bỏ học đi chơi, giao du với những thành phần bất hảo để rồi bị rủ rê, sa ngã vào con đường cờ bạc, chơi bời, hút chích… dần dần những người đó sẽ đánh mất nhân cách, mất khả năng làm việc và trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Một cuộc sống như thế không đáng gọi là cuộc sống của một con người chân chính. Đến lúc nào đó tỉnh ngộ, dẫu có ăn năn, hối hận thì cũng đã muộn màng.
Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở và cuộc đời nếu đem áp dụng vào thực tiễn sẽ mang lại nhiều thành quả tinh thần, vật chất cho cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội.
Tri thức loài người mênh mông như biển cả (“Bể học vô bờ”). Dẫu chúng ta có miệt mài học suốt cuộc đời thì cũng chỉ là tiếp thu được một phần rất nhỏ. Bác Hồ dạy : “Học ở trường, học trong sách vở; học lẫn nhau và học ở dân”. Lenin cũng từng khuyên thanh niên : “Học ! Học nữa ! Học mãi !”. Đó là những lời khuyên chí lí, có giá trị đối với mọi thời đại. Nếu không coi trọng việc họ thì chúng ta sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đất nước trong giai đoạn mới.
ko
ko
Cs
có
có
ko biết
helo
có ai nhắn tin đc ko
chỉ cho tôi vs