Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”
Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”
Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.
Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.
Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.
Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.
câu 1
Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.
câu 2
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.
Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.
Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.
Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.
Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.
Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.
Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.
Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.
Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?
Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ
Hai câu:
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
- Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
- Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.
Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản
Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.
Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do
Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
Câu 1.
-Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3.
-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”
-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.
Câu 4.
Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.
Câu 5.
-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”
Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.
cáhch học giỏi
(Chàng rơm rớm nước mắt.)và các từ đặt trước lời thoại để chỉ nhân vật đang nói, ví dụ:VŨ NHƯ TÔ,ĐAN THIỀM[1].(Chàng rơm rớm nước mắt.), từ đó làm nổi bật bi kịch của người tài bị đối xử bất công [1].Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm? Từ “đồng bệnh” ở đây cho thấy Đan Thiềm và Vũ Như Tô có một sự tương đồng sâu sắc trong cảnh ngộ [1]. Ý nghĩa của nó là:
Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.
Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?
Câu 1.
Sự việc chính là cuộc trò chuyện giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô khi Vũ Như Tô bị bắt vào cung. Đan Thiềm đã thấu hiểu nỗi khổ, trân trọng tài năng của Vũ Như Tô và khuyên ông nên lợi dụng cơ hội này để xây Cửu Trùng Đài, biến ước mơ kiến trúc vĩ đại của mình thành hiện thực thay vì chấp nhận cái chết vô ích.
Câu 2.
* Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.), [Lược một đoạn], [...]
* Tác dụng: * Giúp người đọc/người xem hình dung được ngoại hình, cử chỉ và cảm xúc nhân vật (sự xúc động, đau xót của Vũ Như Tô).
* Giúp điều hướng dòng chảy của kịch bản, cho biết các phần lược trích để tập trung vào mâu thuẫn chính.
* Hỗ trợ diễn viên trong việc biểu đạt tâm lý nhân vật đúng với ý đồ của tác giả.
Câu 3.
* Ý nghĩa: "Đồng bệnh" ở đây không phải là cùng mắc một căn bệnh thể xác, mà là cùng chung một nỗi khổ, một số phận bi kịch.
* Khắc họa chân dung Đan Thiềm: * Cho thấy Đan Thiềm là một người có tâm hồn đồng điệu, biết trân trọng cái đẹp và tài năng (bi kịch của bà là phí hoài tuổi xuân trong cung, còn Vũ Như Tô là phí hoài tài năng trong cảnh tù đày).
* Khắc họa bà là người phụ nữ có con mắt tinh đời, biết "liên tài" (thương người có tài), vượt qua những ích kỷ cá nhân để lo cho sự nghiệp chung của đất nước.
Câu 4.
* Xung đột: Diễn ra giữa quan điểm của Vũ Như Tô (người nghệ sĩ thuần túy, trọng khí tiết, không muốn phục vụ bạo chúa) và quan điểm của Đan Thiềm (người thực tế, muốn lợi dụng quyền lực để tạo ra kiệt tác bền vững).
* Rộng hơn: Đây là tiền đề cho xung đột kịch lớn hơn giữa khát vọng nghệ thuật thuần túy và thực tế đời sống nhân dân cực khổ.
* Ý nghĩa: Xung đột này làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ: Làm thế nào để vừa giữ được thiên lương, vừa thực hiện được khát vọng sáng tạo vĩ đại khi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo.
Câu 5.
-Quyết định ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết từ chối. Ông coi việc xây đài cho vua Lê Tương Dực là nhục nhã, là phục vụ cho "tên bạo chúa", "lũ gái dâm ô" và sẽ bị người đời phỉ nhổ ("làm bia miệng cho người đời").
- Lý do thay đổi: * Vì Đan Thiềm đã đánh đúng vào khát vọng lớn nhất của người nghệ sĩ: xây dựng một tòa đài "cao cả", "tranh tinh xảo với hóa công", để lại công trình cho muôn đời sau.
- Đan Thiềm thuyết phục rằng: Vua có thể mất, cung nữ có thể đi, nhưng sự nghiệp của ông sẽ còn lại vĩnh viễn, giúp dân ta hãnh diện với nước ngoài.
-Vũ Như Tô nhận ra đây là cơ hội duy nhất để thực thi "cái mộng lớn" của đời mình, dùng tiền của vua để làm đẹp cho non sông.
C2: chàng rơm rớm nước mắt
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì? Sự việc chính là cuộc gặp gỡ đầy định mệnh giữa Đan Thiềm (một cung nữ) và Vũ Như Tô (một kiến trúc sư tài ba đang bị bắt giam). Tại đây, Đan Thiềm đã bày tỏ sự ngưỡng mộ tài năng của Vũ Như Tô, đồng cảm với nỗi khổ của người nghệ sĩ và khuyên ông nên tận dụng tài năng để xây dựng một công trình vĩ đại cho đất nước thay vì chấp nhận cái chết vô ích. Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.) Tác dụng: * Giúp người đọc/người xem hình nhận biết được tâm trạng, cảm xúc đau đớn, nghẹn ngào của nhân vật Vũ Như Tô khi nhớ về người mẹ và những cực hình mình đã trải qua. Hỗ trợ diễn viên trong việc định hướng diễn xuất hình thể và biểu cảm gương mặt. Làm cho văn bản kịch trở nên sinh động, giàu sức biểu cảm hơn. Câu 3. Từ "đồng bệnh" có ý nghĩa gì trong việc khắc họa chân dung Đan Thiềm? Từ "đồng bệnh" (cùng chung nỗi đau, cùng cảnh ngộ) cho thấy: Sự đồng cảm sâu sắc: Đan Thiềm không nhìn Vũ Như Tô như một tù nhân mà như một "tri kỷ" cùng mang nỗi khổ của những người có tài nhưng không được trọng dụng, bị vùi dập trong xã hội phong kiến. Vẻ đẹp tâm hồn: Khắc họa Đan Thiềm là người phụ nữ có tấm lòng liên tài (trân trọng người tài), biết vượt lên trên thân phận thấp kém của mình để thấu hiểu và bảo vệ cái đẹp, cái tài. Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Ý nghĩa của xung đột đó? Xung đột: Giữa khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ tài hoa (Vũ Như Tô) với hiện thực xã hội phong kiến thối nát, bạo ngược (đại diện qua lời kể về vua Lê Tương Dực và sự mục nát của triều đình). Ngoài ra còn có sự giằng xé nội tâm của Vũ Như Tô: nên chết để giữ khí tiết hay sống để cống hiến tài năng. Ý nghĩa: * Phản ánh bi kịch của người nghệ sĩ trong xã hội cũ: có tài mà không có đất dụng võ, bị coi rẻ và hành hạ. Đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật thuần túy và thực tế đời sống chính trị/nhân dân. Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực. Ông thà chịu chết, chịu gông cùm chứ không muốn phục vụ một tên vua xa hoa, trụy lạc và tàn ác. Vì sao thay đổi: Sau khi nghe Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi vì: Ông nhận ra nếu chết đi, tài năng của mình sẽ trở nên vô ích ("Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất"). Đan Thiềm đã nhen nhóm trong ông khát vọng: xây dựng một công trình "vĩnh cửu", một tòa đài có thể sánh ngang với các công trình của Trung Quốc hay Chiêm Thành để làm rạng danh đất nước. Nói cách khác: Vũ Như Tô đồng ý xây Cửu Trùng Đài không phải vì trung thành với vua, mà vì khát vọng nghệ thuật tột độ của một người nghệ sĩ muốn để lại kiệt tác cho đời. Hy vọng những gợi ý này giúp bạn hoàn thành bài tập tốt hơn. Bạn có muốn mình phân tích thêm về diễn biến tâm lý của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích này không?
Câu 1.
Đan Thiềm gặp Vũ Như Tô trong ngục để thuyết phục ông nhận xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực.
Câu 2.
Chỉ dẫn sân khấu: “(Chàng rơm rớm nước mắt.)” – Tác dụng: hướng dẫn diễn xuất, thể hiện cảm xúc nhân vật.
Câu 3.
“Đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm cũng là người tài hoa bị xã hội phong kiến vùi dập, từ đó bà đồng cảm và thúc đẩy Vũ Như Tô dùng tài năng.
Câu 4.
Xung đột giữa Vũ Như Tô (từ chối vì lương tâm) và Đan Thiềm (thuyết phục vì nghệ thuật trường tồn). Ý nghĩa: làm nổi bật bi kịch giữa nghệ thuật và đạo đức, thúc đẩy kịch tính.
Câu 5.
Ban đầu: từ chối. Sau đó thay đổi vì Đan Thiềm thuyết phục rằng nghệ thuật sẽ sống mãi, còn bạo chúa chỉ là nhất thời; bà khơi dậy khát vọng để lại sự nghiệp lớn cho hậu thế.
Câu 1Sự việc trong văn bản: Đan Thiềm khuyên giải Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực. Câu 2Giúp người đọc có thể dễ dàng hình dung các cử chỉ, cảm xúc của Vũ Như Tô một cách chân thực hơn; từ đó giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nội dung của văn bản
Câu 3Từ “đồng bệnh” nghĩa đen là có cùng bệnh, nghĩa bóng là người cùng hoàn cảnh. Và vì thế người “đồng bệnh” sẽ thấu hiểu, dễ thương cảm cho nhau hơn. Tác dụng: Trong ngữ cảnh của trích đoạn, từ “đồng bệnh” trong lời nói của Vũ Như Tô có tác dụng nhấn mạnh, khẳng định hoàn cảnh của nhân vật Đan Thiềm – một người phụ nữ nhỏ bé, đáng thương, bị chôn vùi tuổi xuân nơi cung cấm.
Câu 4 Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Cụ thể: + Vũ Như Tô không hề muốn cống hiến tài hoa của mình cho một hồn quân. Đây là quan niệm nghệ thuật thuần túy, thanh cao. + Lê Tương Dực muốn Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc với các cung nữ. Đây là một mong muốn rất đỗi tầm thường và thậm chí còn có phần ô trọc. - Ý nghĩa: Chính mâu thuẫn giữa lí tưởng, khát vọng của Vũ Như Tô với mong muốn, quyền lực của hôn quân Lê Tương Dực đã góp phần làm nổi bật được chân dung nhân vật Vũ Như Tô – một người nghệ sĩ tài hoa, cương trực, quyết không chịu khuất phục trước quyền lực.
Câu5Ban đầu Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây dựng Cửu Trùng Đài là vì chàng muốn giữ vững quan điểm nghệ thuật của mình, quyết không chịu cúi mình trước quyền lực, xây dựng Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực.
Câu 1.
Văn bản kể lại cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong cung, qua đó Đan Thiềm bày tỏ sự cảm thông, thấu hiểu nỗi đau của người tài và thuyết phục Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài, dùng tài năng để thực hiện hoài bão lớn cho đất nước.
Câu 2.
Câu 3
Từ “đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người cùng cảnh ngộ với Vũ Như Tô: đều là những con người có giá trị nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập. Qua đó khắc hoạ Đan Thiềm là người thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với người tài, có tấm lòng tri âm, tri kỉ và trân trọng tài năng.
Câu 4.
Câu 5
Câu 1. Sự việc trong văn bản
Văn bản kể lại cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm trước khi Vũ Như Tô vào chầu vua Lê Tương Dực. Qua cuộc trò chuyện, Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô nên tận dụng cơ hội để đem tài năng ra xây dựng Cửu Trùng Đài, còn Vũ Như Tô bộc lộ nỗi đau của người nghệ sĩ có tài nhưng bị xã hội chà đạp, giằng xé giữa lý tưởng nghệ thuật và hiện thực tàn khốc.
Câu 2. Chỉ dẫn sân khấu và tác dụng
Ví dụ: (Chàng rơm rớm nước mắt).
→ Giúp người đọc hình dung rõ tâm trạng, cảm xúc nhân vật; làm nổi bật nỗi đau, sự u uất của Vũ Như Tô; tăng tính sinh động, kịch tính cho vở kịch.
Câu 3. Ý nghĩa từ “đồng bệnh”
Từ “đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người có cùng cảnh ngộ với Vũ Như Tô: đều là người có tài, có tâm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập. Qua đó, tác giả khắc họa Đan Thiềm là người thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của người tài, có sự đồng cảm chân thành và ý thức bảo vệ, nâng đỡ tài năng.
Câu 4. Xung đột trong văn bản và ý nghĩa
Giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp của Vũ Như Tô với hiện thực xã hội tàn bạo, giữa khát vọng sáng tạo vì cái đẹp vĩnh cửu với đời sống nhân dân lầm than.
Xung đột này thể hiện bi kịch của người nghệ sĩ: tài năng lớn nhưng đặt nhầm chỗ, nhầm thời; đồng thời đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống
Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và nguyên nhân thay đổi
Câu 1 Đoạn văn ~200 chữ phân tích nhân vật Đan Thiềm
Đan Thiềm là một nhân vật đặc biệt trong trích đoạn Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng. Bà là người cung nữ từng trải, thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của những con người tài hoa nhưng bất hạnh. Qua lời nói và hành động, Đan Thiềm hiện lên là người có tấm lòng trân trọng tài năng, luôn day dứt trước cảnh nhân tài bị chà đạp trong xã hội phong kiến. Bà đồng cảm với Vũ Như Tô không chỉ vì cùng cảnh ngộ mà còn vì cùng chung một niềm tin: tài năng không thể bị chôn vùi. Chính Đan Thiềm là người đã thức tỉnh Vũ Như Tô, khuyên ông tận dụng cơ hội để thực hiện hoài bão lớn, dù biết con đường ấy đầy nguy hiểm. Nhân vật Đan Thiềm vì thế trở thành biểu tượng cho tiếng nói bảo vệ cái đẹp, bảo vệ tài năng và cho bi kịch của những con người sống vì lý tưởng cao cả nhưng không gặp thời.
Câu 2 Bài nghị luận ~600 chữ
Bàn luận mối quan hệ giữa hiện tại và sự nghiệp quốc gia
Từ bi kịch của Vũ Như Tô trong vở kịch cùng tên, có thể nhận ra một vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc: mối quan hệ giữa hiện tại và sự nghiệp quốc gia. Một quốc gia không thể phát triển nếu chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà bỏ quên những giá trị lâu dài, nhưng cũng không thể hi sinh hiện tại của nhân dân cho những lý tưởng xa vời.
Trong tác phẩm, Vũ Như Tô mang khát vọng xây dựng một công trình vĩ đại để lưu danh muôn thuở cho đất nước. Đó là khát vọng chính đáng của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, lý tưởng ấy lại được thực hiện trong hoàn cảnh xã hội đầy áp bức, khi nhân dân lầm than, đói khổ. Việc xây Cửu Trùng Đài vì thế trở thành nguyên nhân trực tiếp gây thêm đau khổ cho con người. Bi kịch của Vũ Như Tô chính là bài học sâu sắc về việc tách rời lý tưởng lâu dài khỏi thực tiễn hiện tại.
Trong thực tế hôm nay, sự nghiệp quốc gia đòi hỏi tầm nhìn chiến lược lâu dài, nhưng mọi chiến lược đều phải xuất phát từ đời sống hiện tại của nhân dân. Phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa là điều cần thiết, song không thể đánh đổi bằng sự hi sinh quyền lợi, hạnh phúc con người. Một đất nước bền vững là đất nước biết hài hòa giữa hiện tại và tương lai, giữa phát triển và nhân văn.
Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, mỗi cá nhân cũng cần ý thức rõ trách nhiệm của mình: cống hiến cho đất nước không chỉ bằng ước mơ lớn, mà còn bằng sự tỉnh táo, nhân ái và gắn bó với đời sống thực tế. Chỉ khi hiện tại được tôn trọng, sự nghiệp quốc gia mới có thể phát triển bền vững và lâu dài.
Câu 1.
Sự việc trong văn bản là: Vũ Như Tô bày tỏ khát vọng xây dựng Cửu Trùng Đài trở thành công trình vĩ đại, đồng thời chịu ảnh hưởng và được Dan Thiềm khích lệ, thuyết phục tiếp tục theo đuổi lý tưởng nghệ thuật ấy.
Câu 2
Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản thể hiện qua giọng điệu, cách nói và trạng thái tâm lí của nhân vật, có tác dụng giúp người đọc hình dung rõ diễn biến trên sân khấu, làm nổi bật cảm xúc, tính cách nhân vật và tăng tính kịch cho tác phẩm.
Câu 3
Từ “đồng bệnh” cho thấy Dan Thiềm là người có chung khát vọng và niềm say mê cực đoan đối với nghệ thuật như Vũ Như Tô, qua đó khắc họa bà là tri âm, tri kỉ, sẵn sàng hi sinh lợi ích khác để bảo vệ và tôn vinh cái đẹp.
Câu 4
Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô – Dan Thiềm với nhân dân và thực tế xã hội, qua đó làm nổi bật mâu thuẫn giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống con người, đồng thời bộc lộ bi kịch của người nghệ sĩ khi theo đuổi cái đẹp nhưng xa rời cuộc sống.
Câu 5
Ban đầu, Vũ Như Tô còn do dự, không muốn tiếp tục xây dựng Cửu Trùng Đài vì lo cho đời sống nhân dân, nhưng sau khi được Dan Thiềm khích lệ và thuyết phục, ông thay đổi quyết định do khát vọng sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt và niềm tin vào sứ mệnh tạo ra một công trình bất hủ cho đời.
Câu 1:
bi kịch sụp đổ của người nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tô và sự kết thúc bi thảm của công trình nghệ thuật Cửu Trùng Đài trước sự phản kháng dữ dội của nhân dân, thể hiện mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp và hiện thực đời sống, giữa cái đẹp và cái xấu, giữa người nghệ sĩ và quần chúng.
Câu 2:
Trong văn bản kịch "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài", các chỉ dẫn sân khấu (như lời thoại, hành động, không gian, âm thanh) làm nổi bật bi kịch, khắc họa tâm trạng nhân vật (Vũ Như Tô, Đan Thiềm), tạo không khí căng thẳng, bi tráng, bộc lộ xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp và thực tại tàn khốc, qua đó thể hiện sâu sắc chủ đề tư tưởng tác phẩm về bi kịch người nghệ sĩ và xã hội phong kiến, nhấn mạnh giá trị nghệ thuật vĩnh cửu đối lập với sự tàn phá của bạo tàn.
Câu 3:
Từ "đồng bệnh" trong câu nói của Đan Thiềm ("như một người đồng bệnh") có ý nghĩa sâu sắc, khắc họa Đan Thiềm là người có tài, có tâm, thấu hiểu sâu sắc nỗi niềm tài hoa bị kìm hãm và bi kịch của Vũ Như Tô, đồng cảm với khát vọng nghệ thuật cao thượng nhưng bị thời cuộc xô đẩy, từ đó bà trở thành tri kỷ, người động viên, nâng đỡ lý tưởng nghệ sĩ chân chính, làm nổi bật bi kịch "nghệ thuật vị nghệ thuật" và mối quan hệ giữa tài năng với quần chúng.
Câu 4:
Trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, xung đột chính là giữa Vũ Như Tô (nghệ sĩ) và nhân dân lao động, hay rộng hơn là giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu của cá nhân với lợi ích thiết thực và sự căm phẫn của quần chúng, làm nổi bật bi kịch người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội loạn lạc, khiến ông bị giết và công trình vĩ đại bị phá hủy, qua đó ca ngợi khát vọng sáng tạo nhưng cũng phê phán sự xa rời thực tế và bi kịch của người tài trong lịch
Câu 5:
Ban đầu, Vũ Như Tô cương quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài vì sợ làm trái ý dân và không muốn tài năng phục vụ kẻ bạo chúa. Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi quyết định, lao vào xây dựng vì tin rằng nghệ thuật cao siêu (Cửu Trùng Đài) sẽ "tô điểm đất nước" vĩnh viễn, phục vụ lý tưởng nghệ thuật vị đại nghiệp, bất chấp sự đau khổ của nhân dân, khiến ông trở thành kẻ tội đồ và bị nhân dân nổi dậy lật đổ.
Câu 1. Sự việc trong văn bản
Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô tại kinh thành. Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô từ bỏ ý định trốn chạy hoặc cái chết để ở lại xây dựng Cửu Trùng Đài – một công trình nghệ thuật để đời.
Câu 2. Chỉ dẫn sân khấu và tác dụng
• Chỉ dẫn: (Chàng rơm rớm nước mắt.)
• Tác dụng: Khắc họa nỗi đau khổ, uất ức tột cùng của Vũ Như Tô trước cảnh gia đình tan nát và bi kịch của một tài năng bị vùi dập; đồng thời làm tăng tính biểu cảm cho kịch bản.
Câu 3. Ý nghĩa từ "đồng bệnh" đối với nhân vật Đan Thiềm
• Khắc họa Đan Thiềm là người tri kỷ, liên tài, thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của người có tài trong xã hội cũ.
• Cho thấy sự tương đồng về tâm hồn: Đan Thiềm cũng mang bi kịch của người có sắc, có tâm bị giam hãm trong cung cấm.
Câu 4. Xung đột giữa các nhân vật và ý nghĩa
• Xung đột: Giữa tư tưởng chính trực, trọng khí tiết (Vũ Như Tô không muốn phục vụ bạo chúa) và khát vọng hiện thực hóa cái đẹp bằng mọi giá (Đan Thiềm).
• Ý nghĩa: Phản ánh mâu thuẫn giữa nghệ thuật cao siêu và thực tại chính trị nghiệt ngã; tạo bước ngoặt quan trọng dẫn đến bi kịch xây Cửu Trùng Đài.
Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và lý do thay đổi
• Ban đầu: Kiên quyết từ chối xây đài vì không muốn phục vụ lũ "hôn quân, dâm ô" và sợ mang danh ác với dân.
• Lý do thay đổi: * Bị thuyết phục bởi lý tưởng của Đan Thiềm: Xây đài để làm đẹp cho đất nước, để lại di sản nghìn thu cho hậu thế.
• Khao khát nghệ thuật chiến thắng nỗi sợ hãi: Ông chấp nhận "mượn tay vua" để thực hiện mộng lớn của đời mình.
Câu 1
Sự việc trong văn bản là việc Vũ Như Tô bị vua bắt xây Cửu Trùng Đài và những diễn biến tâm trạng, quyết định của ông cùng Đan Thiềm. Câu 2.
Chỉ dẫn sân khấu là những phần chữ trong ngoặc đơn hoặc chữ nghiêng (nếu có) mô tả hành động, cử chỉ, giọng điệu, bối cảnh
Tác dụng của chúng là giúp người đọc hoặc diễn viên hình dung rõ hơn về bối cảnh, hành động và tâm trạng của nhân vật, từ đó hiểu sâu sắc hơn nội dung và ý nghĩa của vở kịch. Câu 3.
Từ “đồng bệnh” có ý nghĩa Đan Thiềm cũng là một người nghệ sĩ tài hoa nhưng không được trọng dụng đúng mức trong xã hội phong kiến, hoặc cũng là người có chung một nỗi niềm trăn trở, một lý tưởng nghệ thuật lớn lao nhưng đầy bi kịch như Vũ Như Tô. Điều này khắc họa Đan Thiềm là người có sự đồng cảm sâu sắc, hiểu thấu tâm can của Vũ Như Tô, không chỉ là một cung nữ bình thường mà còn là một tri kỉ về nghệ thuật. Câu 4.
Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô và bọn quan lại, hoặc giữa phe vua chúa (đại diện cho quyền lực) và phe nhân dân (đại diện cho sự phản kháng). Ý nghĩa của xung đột này là làm nổi bật mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu, vĩnh cửu của người nghệ sĩ với thực tế cuộc sống khắc nghiệt, đầy rẫy bất công và sự lầm than của nhân dân, dẫn đến bi kịch không thể dung hòa. Câu 5. Ban đầu, Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài vì cho đó là việc làm xa xỉ, tốn kém, khiến nhân dân lầm than. Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô thay đổi quyết định vì Đan Thiềm đã đánh thức khát vọng nghệ thuật mãnh liệt trong ông, thuyết phục ông rằng Cửu Trùng Đài có thể là một công trình vĩ đại, lưu danh muôn đời, thỏa mãn tài năng và lý tưởng nghệ thuật của ông, vượt lên trên những toan tính đời thường.
Câu 1.
→ Cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm khi Vũ Như Tô bị bắt, xoay quanh số phận người tài, bi kịch của nghệ sĩ và vấn đề xây dựng Cửu Trùng Đài.
⸻
Câu 2.
• Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.)
• Tác dụng: Khắc họa trạng thái cảm xúc đau đớn, bi phẫn của Vũ Như Tô; giúp người đọc/người xem hiểu sâu hơn tâm trạng nhân vật, tăng tính kịch và sức biểu cảm.
⸻
Câu 3.
→ “Đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người đồng cảm sâu sắc, thấu hiểu nỗi đau của Vũ Như Tô; bà cũng là người có lý tưởng, trân trọng và bảo vệ tài năng nghệ thuật.
⸻
Câu 4.
Xung đột giữa:
Vũ Như Tô ↔ thực tế xã hội / triều đình bạo ngược / lợi ích nhân dân
Gián tiếp là xung đột giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống con người
Làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ có tài và lý tưởng lớn nhưng đặt sai thời điểm, sai đối tượng, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.
Câu 5.
Ban đầu: Vũ Như Tô từ chối xây Cửu Trùng Đài, coi đó là việc ô uế, phục vụ bạo chúa.
Sau đó thay đổi vì:
Được Đan Thiềm khơi dậy khát vọng cống hiến tài năng cho non sông
Tin rằng nghệ thuật lớn có thể vượt lên trên thời cuộc, để lại giá trị muôn đời cho dân tộc.
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?
Sự việc chính trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm xoay quanh việc xây dựng hay phá bỏ Cửu Trùng Đài, qua đó thể hiện mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật và đời sống nhân dân.
Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng
Chỉ dẫn sân khấu (tiêu biểu):
Tác dụng:
Câu 3. Ý nghĩa từ “đồng bệnh” trong việc khắc họa nhân vật Đan Thiềm
Từ “đồng bệnh” cho thấy:
→ Qua đó khắc họa Đan Thiềm là nhân vật tinh tế, có chiều sâu tâm hồn.
Câu 4. Xung đột trong văn bản và ý nghĩa
Xung đột giữa:
Ý nghĩa:
Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và lí do thay đổi
→ Thể hiện bi kịch nhận thức của Vũ Như Tô.
Câu 1
Sự việc trong văn bản là: cuộc đối thoại, tranh luận gay gắt giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm xoay quanh việc xây dựng Cửu Trùng Đài, khi triều đình rối ren, nhân dân oán thán.
Câu2
→ Quyết tâm bảo vệ và hoàn thành Cửu Trùng Đài, coi đó là công trình nghệ thuật vĩ đại cho muôn đời sau.
→ Nhận ra công trình ấy được xây dựng trên xương máu, nước mắt của nhân dân,
→ Bi kịch vỡ mộng: nghệ thuật tách rời cuộc sống thì không thể tồn tại → dẫn đến sự sụp đổ cả về lí tưởng lẫn số phận.