K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]

VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

[…]

ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]

VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]

VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. 

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?

16
14 tháng 11 2025

cáhch học giỏi

14 tháng 11 2025
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì? Sự việc chính trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm [1]. Trong cuộc nói chuyện, Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô nên sử dụng tài năng của mình để xây Cửu Trùng Đài, bất chấp bối cảnh vua chúa hôn quân và sự khổ nhục mà ông đã trải qua [1]. Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng.
  • Chỉ dẫn sân khấu: Các cụm từ được đặt trong ngoặc đơn, in nghiêng (nếu có), ví dụ: (Chàng rơm rớm nước mắt.) và các từ đặt trước lời thoại để chỉ nhân vật đang nói, ví dụ: VŨ NHƯ TÔĐAN THIỀM [1].
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc hình dung được hành động, thái độ, và cảm xúc của nhân vật trong lúc nói chuyện, làm cho nội dung kịch trở nên sinh động và dễ hiểu hơn [1, 2].
    • Xác định rõ ràng người đang nói trong đoạn đối thoại, tránh nhầm lẫn [1].
    • Thể hiện rõ bối cảnh, trạng thái của nhân vật, ví dụ như Vũ Như Tô đang tiều tụy, đau khổ (Chàng rơm rớm nước mắt.), từ đó làm nổi bật bi kịch của người tài bị đối xử bất công [1].

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm? Từ “đồng bệnh” ở đây cho thấy Đan Thiềm và Vũ Như Tô có một sự tương đồng sâu sắc trong cảnh ngộ [1]. Ý nghĩa của nó là:
  • Sự đồng cảm và thấu hiểu: Đan Thiềm, với nhan sắc của mình, cũng bị mắc kẹt trong chốn cung đình, bị giam cầm và lãng phí tuổi xuân. Nàng hiểu được nỗi đau khổ của người có tài năng bị chèn ép, không được "thi thố", giống như Vũ Như Tô [1].
  • Điểm tựa tinh thần: Sự thấu hiểu này giúp Đan Thiềm trở thành tri kỷ của Vũ Như Tô, là người duy nhất thực sự hiểu và chia sẻ nỗi đau với ông trong bối cảnh xung quanh toàn là kẻ thù và sự nghi kị [1].

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.
  • Xung đột: Xung đột chính trong văn bản là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai nhân vật, mà cụ thể là xung đột giữa quan điểm của Vũ Như Tô và Đan Thiềm về việc sử dụng tài năng [1].
  • Ý nghĩa:
    • Vũ Như Tô: Ban đầu, ông từ chối xây đài vì không muốn tài năng của mình phục vụ cho một "bạo chúa" và trở thành "bia miệng cho người đời" [1].
    • Đan Thiềm: Nàng thuyết phục Vũ Như Tô phải "lợi dụng cơ hội" để xây nên một công trình vĩ đại, vì "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Ý nghĩa của xung đột: Xung đột này làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ trong một xã hội không trọng tài năng, phải đứng trước sự lựa chọn giữa việc giữ gìn phẩm giá (không xây đài) và việc hiện thực hóa khát vọng nghệ thuật (xây đài) [1].

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?
  • Quyết định ban đầu: Ban đầu, Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài và thà chịu chết [1]. Ông cho rằng việc phục vụ "hôn quân", "bạo chúa" là một việc làm "ô uế" [1]. Ông cũng muốn "trả lại tài cho trời đất" vì cảm thấy tài năng không được trọng dụng [1].
  • Lí do thay đổi quyết định: Sau khi nghe Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô thay đổi vì:
    • Cái đẹp vĩnh hằng: Đan Thiềm đã giúp ông nhìn ra rằng những việc làm của hôn quân, cung nữ chỉ là "tiểu tiết" và rồi sẽ "mất đi" [1]. Còn "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Khát vọng nghệ thuật: Lời khuyên của Đan Thiềm đã đánh thức khát vọng lớn lao nhất của một người nghệ sĩ: để lại một công trình kiến trúc vĩ đại cho hậu thế, làm cho "đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian" [1].
    • Tìm thấy tri âm: Đan Thiềm là người đầu tiên thực sự hiểu và trân trọng tài năng của Vũ Như Tô. Lời khuyên của nàng đã "khai" cho "cái óc u mê" của ông, giúp ông tìm thấy một lối thoát cho khát vọng nghệ thuật của mình [1].

23 tháng 12 2025


Câu 1.

Sự việc chính là cuộc trò chuyện giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô khi Vũ Như Tô bị bắt vào cung. Đan Thiềm đã thấu hiểu nỗi khổ, trân trọng tài năng của Vũ Như Tô và khuyên ông nên lợi dụng cơ hội này để xây Cửu Trùng Đài, biến ước mơ kiến trúc vĩ đại của mình thành hiện thực thay vì chấp nhận cái chết vô ích.

Câu 2.

* Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.), [Lược một đoạn], [...]

* Tác dụng: * Giúp người đọc/người xem hình dung được ngoại hình, cử chỉ và cảm xúc nhân vật (sự xúc động, đau xót của Vũ Như Tô).

* Giúp điều hướng dòng chảy của kịch bản, cho biết các phần lược trích để tập trung vào mâu thuẫn chính.

* Hỗ trợ diễn viên trong việc biểu đạt tâm lý nhân vật đúng với ý đồ của tác giả.

Câu 3.

* Ý nghĩa: "Đồng bệnh" ở đây không phải là cùng mắc một căn bệnh thể xác, mà là cùng chung một nỗi khổ, một số phận bi kịch.

* Khắc họa chân dung Đan Thiềm: * Cho thấy Đan Thiềm là một người có tâm hồn đồng điệu, biết trân trọng cái đẹp và tài năng (bi kịch của bà là phí hoài tuổi xuân trong cung, còn Vũ Như Tô là phí hoài tài năng trong cảnh tù đày).

* Khắc họa bà là người phụ nữ có con mắt tinh đời, biết "liên tài" (thương người có tài), vượt qua những ích kỷ cá nhân để lo cho sự nghiệp chung của đất nước.

Câu 4.

* Xung đột: Diễn ra giữa quan điểm của Vũ Như Tô (người nghệ sĩ thuần túy, trọng khí tiết, không muốn phục vụ bạo chúa) và quan điểm của Đan Thiềm (người thực tế, muốn lợi dụng quyền lực để tạo ra kiệt tác bền vững).

* Rộng hơn: Đây là tiền đề cho xung đột kịch lớn hơn giữa khát vọng nghệ thuật thuần túy và thực tế đời sống nhân dân cực khổ.

* Ý nghĩa: Xung đột này làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ: Làm thế nào để vừa giữ được thiên lương, vừa thực hiện được khát vọng sáng tạo vĩ đại khi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo.

Câu 5.

-Quyết định ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết từ chối. Ông coi việc xây đài cho vua Lê Tương Dực là nhục nhã, là phục vụ cho "tên bạo chúa", "lũ gái dâm ô" và sẽ bị người đời phỉ nhổ ("làm bia miệng cho người đời").

- Lý do thay đổi: * Vì Đan Thiềm đã đánh đúng vào khát vọng lớn nhất của người nghệ sĩ: xây dựng một tòa đài "cao cả", "tranh tinh xảo với hóa công", để lại công trình cho muôn đời sau.

- Đan Thiềm thuyết phục rằng: Vua có thể mất, cung nữ có thể đi, nhưng sự nghiệp của ông sẽ còn lại vĩnh viễn, giúp dân ta hãnh diện với nước ngoài.

-Vũ Như Tô nhận ra đây là cơ hội duy nhất để thực thi "cái mộng lớn" của đời mình, dùng tiền của vua để làm đẹp cho non sông.



23 tháng 12 2025

C2: chàng rơm rớm nước mắt

25 tháng 12 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì? Sự việc chính là cuộc gặp gỡ đầy định mệnh giữa Đan Thiềm (một cung nữ) và Vũ Như Tô (một kiến trúc sư tài ba đang bị bắt giam). Tại đây, Đan Thiềm đã bày tỏ sự ngưỡng mộ tài năng của Vũ Như Tô, đồng cảm với nỗi khổ của người nghệ sĩ và khuyên ông nên tận dụng tài năng để xây dựng một công trình vĩ đại cho đất nước thay vì chấp nhận cái chết vô ích. Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.) Tác dụng: * Giúp người đọc/người xem hình nhận biết được tâm trạng, cảm xúc đau đớn, nghẹn ngào của nhân vật Vũ Như Tô khi nhớ về người mẹ và những cực hình mình đã trải qua. Hỗ trợ diễn viên trong việc định hướng diễn xuất hình thể và biểu cảm gương mặt. Làm cho văn bản kịch trở nên sinh động, giàu sức biểu cảm hơn. Câu 3. Từ "đồng bệnh" có ý nghĩa gì trong việc khắc họa chân dung Đan Thiềm? Từ "đồng bệnh" (cùng chung nỗi đau, cùng cảnh ngộ) cho thấy: Sự đồng cảm sâu sắc: Đan Thiềm không nhìn Vũ Như Tô như một tù nhân mà như một "tri kỷ" cùng mang nỗi khổ của những người có tài nhưng không được trọng dụng, bị vùi dập trong xã hội phong kiến. Vẻ đẹp tâm hồn: Khắc họa Đan Thiềm là người phụ nữ có tấm lòng liên tài (trân trọng người tài), biết vượt lên trên thân phận thấp kém của mình để thấu hiểu và bảo vệ cái đẹp, cái tài. Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Ý nghĩa của xung đột đó? Xung đột: Giữa khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ tài hoa (Vũ Như Tô) với hiện thực xã hội phong kiến thối nát, bạo ngược (đại diện qua lời kể về vua Lê Tương Dực và sự mục nát của triều đình). Ngoài ra còn có sự giằng xé nội tâm của Vũ Như Tô: nên chết để giữ khí tiết hay sống để cống hiến tài năng. Ý nghĩa: * Phản ánh bi kịch của người nghệ sĩ trong xã hội cũ: có tài mà không có đất dụng võ, bị coi rẻ và hành hạ. Đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật thuần túy và thực tế đời sống chính trị/nhân dân. Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực. Ông thà chịu chết, chịu gông cùm chứ không muốn phục vụ một tên vua xa hoa, trụy lạc và tàn ác. Vì sao thay đổi: Sau khi nghe Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi vì: Ông nhận ra nếu chết đi, tài năng của mình sẽ trở nên vô ích ("Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất"). Đan Thiềm đã nhen nhóm trong ông khát vọng: xây dựng một công trình "vĩnh cửu", một tòa đài có thể sánh ngang với các công trình của Trung Quốc hay Chiêm Thành để làm rạng danh đất nước. Nói cách khác: Vũ Như Tô đồng ý xây Cửu Trùng Đài không phải vì trung thành với vua, mà vì khát vọng nghệ thuật tột độ của một người nghệ sĩ muốn để lại kiệt tác cho đời. Hy vọng những gợi ý này giúp bạn hoàn thành bài tập tốt hơn. Bạn có muốn mình phân tích thêm về diễn biến tâm lý của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích này không?

27 tháng 12 2025

Câu 1.

Đan Thiềm gặp Vũ Như Tô trong ngục để thuyết phục ông nhận xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực.


Câu 2.

Chỉ dẫn sân khấu: “(Chàng rơm rớm nước mắt.)” – Tác dụng: hướng dẫn diễn xuất, thể hiện cảm xúc nhân vật.


Câu 3.

“Đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm cũng là người tài hoa bị xã hội phong kiến vùi dập, từ đó bà đồng cảm và thúc đẩy Vũ Như Tô dùng tài năng.


Câu 4.

Xung đột giữa Vũ Như Tô (từ chối vì lương tâm) và Đan Thiềm (thuyết phục vì nghệ thuật trường tồn). Ý nghĩa: làm nổi bật bi kịch giữa nghệ thuật và đạo đức, thúc đẩy kịch tính.


Câu 5.

Ban đầu: từ chối. Sau đó thay đổi vì Đan Thiềm thuyết phục rằng nghệ thuật sẽ sống mãi, còn bạo chúa chỉ là nhất thời; bà khơi dậy khát vọng để lại sự nghiệp lớn cho hậu thế.

5 tháng 1

Câu 1Sự việc trong văn bản: Đan Thiềm khuyên giải Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực. Câu 2Giúp người đọc có thể dễ dàng hình dung các cử chỉ, cảm xúc của Vũ Như Tô một cách chân thực hơn; từ đó giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nội dung của văn bản

Câu 3Từ “đồng bệnh” nghĩa đen là có cùng bệnh, nghĩa bóng là người cùng hoàn cảnh. Và vì thế người “đồng bệnh” sẽ thấu hiểu, dễ thương cảm cho nhau hơn. Tác dụng: Trong ngữ cảnh của trích đoạn, từ “đồng bệnh” trong lời nói của Vũ Như Tô có tác dụng nhấn mạnh, khẳng định hoàn cảnh của nhân vật Đan Thiềm – một người phụ nữ nhỏ bé, đáng thương, bị chôn vùi tuổi xuân nơi cung cấm.

Câu 4 Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Cụ thể: + Vũ Như Tô không hề muốn cống hiến tài hoa của mình cho một hồn quân. Đây là quan niệm nghệ thuật thuần túy, thanh cao. + Lê Tương Dực muốn Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc với các cung nữ. Đây là một mong muốn rất đỗi tầm thường và thậm chí còn có phần ô trọc. - Ý nghĩa: Chính mâu thuẫn giữa lí tưởng, khát vọng của Vũ Như Tô với mong muốn, quyền lực của hôn quân Lê Tương Dực đã góp phần làm nổi bật được chân dung nhân vật Vũ Như Tô – một người nghệ sĩ tài hoa, cương trực, quyết không chịu khuất phục trước quyền lực.

Câu5Ban đầu Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây dựng Cửu Trùng Đài là vì chàng muốn giữ vững quan điểm nghệ thuật của mình, quyết không chịu cúi mình trước quyền lực, xây dựng Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực.
























Câu 1.



Văn bản kể lại cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong cung, qua đó Đan Thiềm bày tỏ sự cảm thông, thấu hiểu nỗi đau của người tài và thuyết phục Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài, dùng tài năng để thực hiện hoài bão lớn cho đất nước.





Câu 2.



  • Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.)
  • Tác dụng:
    • Thể hiện trạng thái cảm xúc đau đớn, bi thương tột cùng của Vũ Như Tô.
    • Làm cho nhân vật hiện lên chân thực, sinh động.
    • Góp phần khắc sâu bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội phong kiến tàn bạo.






Câu 3



Từ “đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người cùng cảnh ngộ với Vũ Như Tô: đều là những con người có giá trị nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập. Qua đó khắc hoạ Đan Thiềm là người thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với người tài, có tấm lòng tri âm, tri kỉ và trân trọng tài năng.





Câu 4.



  • Xung đột:
    • Giữa Vũ Như Tô – người nghệ sĩ tài hoa, có lý tưởng nghệ thuật với chế độ phong kiến tàn bạo (đại diện là vua Hồng Thuận).
    • Đồng thời là xung đột trong chính nội tâm Vũ Như Tô: giữa việc giữ gìn nhân cách và khát vọng sáng tạo nghệ thuật lớn.
  • Ý nghĩa:
    • Làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ trong xã hội cũ.
    • Thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc của tác giả về số phận hiền tài.






Câu 5



  • Ban đầu, Vũ Như Tô quyết không xây Cửu Trùng Đài, thà chết chứ không dùng tài năng phục vụ bạo chúa.
  • Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi vì:
    • Nhận ra tài năng không chỉ thuộc về cá nhân mà còn thuộc về non sông.
    • Hiểu rằng có thể mượn tay vua để thực hiện lý tưởng nghệ thuật lớn, để lại giá trị lâu dài cho dân tộc.
    • Được Đan Thiềm “khai sáng” nhận thức, đánh thức khát vọng cống hiến.
















5 tháng 1

Câu 1. Sự việc trong văn bản

Văn bản kể lại cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm trước khi Vũ Như Tô vào chầu vua Lê Tương Dực. Qua cuộc trò chuyện, Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô nên tận dụng cơ hội để đem tài năng ra xây dựng Cửu Trùng Đài, còn Vũ Như Tô bộc lộ nỗi đau của người nghệ sĩ có tài nhưng bị xã hội chà đạp, giằng xé giữa lý tưởng nghệ thuật và hiện thực tàn khốc.

Câu 2. Chỉ dẫn sân khấu và tác dụng

  • Chỉ dẫn sân khấu:
    Ví dụ: (Chàng rơm rớm nước mắt).
  • Tác dụng:
    → Giúp người đọc hình dung rõ tâm trạng, cảm xúc nhân vật; làm nổi bật nỗi đau, sự u uất của Vũ Như Tô; tăng tính sinh động, kịch tính cho vở kịch.

Câu 3. Ý nghĩa từ “đồng bệnh”

Từ “đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người có cùng cảnh ngộ với Vũ Như Tô: đều là người có tài, có tâm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập. Qua đó, tác giả khắc họa Đan Thiềm là người thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của người tài, có sự đồng cảm chân thành và ý thức bảo vệ, nâng đỡ tài năng.

Câu 4. Xung đột trong văn bản và ý nghĩa

  • Xung đột:
    Giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp của Vũ Như Tô với hiện thực xã hội tàn bạo, giữa khát vọng sáng tạo vì cái đẹp vĩnh cửu với đời sống nhân dân lầm than.
  • Ý nghĩa:
    Xung đột này thể hiện bi kịch của người nghệ sĩ: tài năng lớn nhưng đặt nhầm chỗ, nhầm thời; đồng thời đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống

Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và nguyên nhân thay đổi

  • Ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết không xây Cửu Trùng Đài vì cho rằng đó là công trình phục vụ bạo chúa, gây khổ cho dân.
  • Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ: Ông thay đổi vì nhận ra đây là cơ hội duy nhất để thực hiện lý tưởng nghệ thuật, để tài năng không bị mai một, dù vẫn mang trong mình sự giằng xé, đau đớn.

Câu 1 Đoạn văn ~200 chữ phân tích nhân vật Đan Thiềm

Đan Thiềm là một nhân vật đặc biệt trong trích đoạn Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng. Bà là người cung nữ từng trải, thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của những con người tài hoa nhưng bất hạnh. Qua lời nói và hành động, Đan Thiềm hiện lên là người có tấm lòng trân trọng tài năng, luôn day dứt trước cảnh nhân tài bị chà đạp trong xã hội phong kiến. Bà đồng cảm với Vũ Như Tô không chỉ vì cùng cảnh ngộ mà còn vì cùng chung một niềm tin: tài năng không thể bị chôn vùi. Chính Đan Thiềm là người đã thức tỉnh Vũ Như Tô, khuyên ông tận dụng cơ hội để thực hiện hoài bão lớn, dù biết con đường ấy đầy nguy hiểm. Nhân vật Đan Thiềm vì thế trở thành biểu tượng cho tiếng nói bảo vệ cái đẹp, bảo vệ tài năng và cho bi kịch của những con người sống vì lý tưởng cao cả nhưng không gặp thời.

Câu 2 Bài nghị luận ~600 chữ

Bàn luận mối quan hệ giữa hiện tại và sự nghiệp quốc gia

Từ bi kịch của Vũ Như Tô trong vở kịch cùng tên, có thể nhận ra một vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc: mối quan hệ giữa hiện tại và sự nghiệp quốc gia. Một quốc gia không thể phát triển nếu chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà bỏ quên những giá trị lâu dài, nhưng cũng không thể hi sinh hiện tại của nhân dân cho những lý tưởng xa vời.

Trong tác phẩm, Vũ Như Tô mang khát vọng xây dựng một công trình vĩ đại để lưu danh muôn thuở cho đất nước. Đó là khát vọng chính đáng của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, lý tưởng ấy lại được thực hiện trong hoàn cảnh xã hội đầy áp bức, khi nhân dân lầm than, đói khổ. Việc xây Cửu Trùng Đài vì thế trở thành nguyên nhân trực tiếp gây thêm đau khổ cho con người. Bi kịch của Vũ Như Tô chính là bài học sâu sắc về việc tách rời lý tưởng lâu dài khỏi thực tiễn hiện tại.

Trong thực tế hôm nay, sự nghiệp quốc gia đòi hỏi tầm nhìn chiến lược lâu dài, nhưng mọi chiến lược đều phải xuất phát từ đời sống hiện tại của nhân dân. Phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa là điều cần thiết, song không thể đánh đổi bằng sự hi sinh quyền lợi, hạnh phúc con người. Một đất nước bền vững là đất nước biết hài hòa giữa hiện tại và tương lai, giữa phát triển và nhân văn.

Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, mỗi cá nhân cũng cần ý thức rõ trách nhiệm của mình: cống hiến cho đất nước không chỉ bằng ước mơ lớn, mà còn bằng sự tỉnh táo, nhân ái và gắn bó với đời sống thực tế. Chỉ khi hiện tại được tôn trọng, sự nghiệp quốc gia mới có thể phát triển bền vững và lâu dài.



Câu 1.

Sự việc trong văn bản là: Vũ Như Tô bày tỏ khát vọng xây dựng Cửu Trùng Đài trở thành công trình vĩ đại, đồng thời chịu ảnh hưởng và được Dan Thiềm khích lệ, thuyết phục tiếp tục theo đuổi lý tưởng nghệ thuật ấy.

Câu 2

Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản thể hiện qua giọng điệu, cách nói và trạng thái tâm lí của nhân vật, có tác dụng giúp người đọc hình dung rõ diễn biến trên sân khấu, làm nổi bật cảm xúc, tính cách nhân vật và tăng tính kịch cho tác phẩm.

Câu 3

Từ “đồng bệnh” cho thấy Dan Thiềm là người có chung khát vọng và niềm say mê cực đoan đối với nghệ thuật như Vũ Như Tô, qua đó khắc họa bà là tri âm, tri kỉ, sẵn sàng hi sinh lợi ích khác để bảo vệ và tôn vinh cái đẹp.

Câu 4

Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô – Dan Thiềm với nhân dân và thực tế xã hội, qua đó làm nổi bật mâu thuẫn giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống con người, đồng thời bộc lộ bi kịch của người nghệ sĩ khi theo đuổi cái đẹp nhưng xa rời cuộc sống.

Câu 5

Ban đầu, Vũ Như Tô còn do dự, không muốn tiếp tục xây dựng Cửu Trùng Đài vì lo cho đời sống nhân dân, nhưng sau khi được Dan Thiềm khích lệ và thuyết phục, ông thay đổi quyết định do khát vọng sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt và niềm tin vào sứ mệnh tạo ra một công trình bất hủ cho đời.



5 tháng 1

Câu 1:

bi kịch sụp đổ của người nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tô và sự kết thúc bi thảm của công trình nghệ thuật Cửu Trùng Đài trước sự phản kháng dữ dội của nhân dân, thể hiện mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp và hiện thực đời sống, giữa cái đẹp và cái xấu, giữa người nghệ sĩ và quần chúng.

Câu 2:

Trong văn bản kịch "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài", các chỉ dẫn sân khấu (như lời thoại, hành động, không gian, âm thanh) làm nổi bật bi kịch, khắc họa tâm trạng nhân vật (Vũ Như Tô, Đan Thiềm), tạo không khí căng thẳng, bi tráng, bộc lộ xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật cao đẹp và thực tại tàn khốc, qua đó thể hiện sâu sắc chủ đề tư tưởng tác phẩm về bi kịch người nghệ sĩ và xã hội phong kiến, nhấn mạnh giá trị nghệ thuật vĩnh cửu đối lập với sự tàn phá của bạo tàn.

Câu 3:

Từ "đồng bệnh" trong câu nói của Đan Thiềm ("như một người đồng bệnh") có ý nghĩa sâu sắc, khắc họa Đan Thiềm là người có tài, có tâm, thấu hiểu sâu sắc nỗi niềm tài hoa bị kìm hãm và bi kịch của Vũ Như Tô, đồng cảm với khát vọng nghệ thuật cao thượng nhưng bị thời cuộc xô đẩy, từ đó bà trở thành tri kỷ, người động viên, nâng đỡ lý tưởng nghệ sĩ chân chính, làm nổi bật bi kịch "nghệ thuật vị nghệ thuật" và mối quan hệ giữa tài năng với quần chúng.

Câu 4:

Trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, xung đột chính là giữa Vũ Như Tô (nghệ sĩ) và nhân dân lao động, hay rộng hơn là giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu của cá nhân với lợi ích thiết thực và sự căm phẫn của quần chúng, làm nổi bật bi kịch người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội loạn lạc, khiến ông bị giết và công trình vĩ đại bị phá hủy, qua đó ca ngợi khát vọng sáng tạo nhưng cũng phê phán sự xa rời thực tế và bi kịch của người tài trong lịch

Câu 5:

Ban đầu, Vũ Như Tô cương quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài vì sợ làm trái ý dân và không muốn tài năng phục vụ kẻ bạo chúa. Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi quyết định, lao vào xây dựng vì tin rằng nghệ thuật cao siêu (Cửu Trùng Đài) sẽ "tô điểm đất nước" vĩnh viễn, phục vụ lý tưởng nghệ thuật vị đại nghiệp, bất chấp sự đau khổ của nhân dân, khiến ông trở thành kẻ tội đồ và bị nhân dân nổi dậy lật đổ.


5 tháng 1

Câu 1. Sự việc trong văn bản

Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô tại kinh thành. Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô từ bỏ ý định trốn chạy hoặc cái chết để ở lại xây dựng Cửu Trùng Đài – một công trình nghệ thuật để đời.

Câu 2. Chỉ dẫn sân khấu và tác dụng

Chỉ dẫn: (Chàng rơm rớm nước mắt.)

Tác dụng: Khắc họa nỗi đau khổ, uất ức tột cùng của Vũ Như Tô trước cảnh gia đình tan nát và bi kịch của một tài năng bị vùi dập; đồng thời làm tăng tính biểu cảm cho kịch bản.

Câu 3. Ý nghĩa từ "đồng bệnh" đối với nhân vật Đan Thiềm

• Khắc họa Đan Thiềm là người tri kỷ, liên tài, thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của người có tài trong xã hội cũ.

• Cho thấy sự tương đồng về tâm hồn: Đan Thiềm cũng mang bi kịch của người có sắc, có tâm bị giam hãm trong cung cấm.

Câu 4. Xung đột giữa các nhân vật và ý nghĩa

Xung đột: Giữa tư tưởng chính trực, trọng khí tiết (Vũ Như Tô không muốn phục vụ bạo chúa) và khát vọng hiện thực hóa cái đẹp bằng mọi giá (Đan Thiềm).

Ý nghĩa: Phản ánh mâu thuẫn giữa nghệ thuật cao siêu và thực tại chính trị nghiệt ngã; tạo bước ngoặt quan trọng dẫn đến bi kịch xây Cửu Trùng Đài.

Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và lý do thay đổi

Ban đầu: Kiên quyết từ chối xây đài vì không muốn phục vụ lũ "hôn quân, dâm ô" và sợ mang danh ác với dân.

Lý do thay đổi: * Bị thuyết phục bởi lý tưởng của Đan Thiềm: Xây đài để làm đẹp cho đất nước, để lại di sản nghìn thu cho hậu thế.

• Khao khát nghệ thuật chiến thắng nỗi sợ hãi: Ông chấp nhận "mượn tay vua" để thực hiện mộng lớn của đời mình.


Câu 1

  Sự việc trong văn bản là việc Vũ Như Tô bị vua bắt xây Cửu Trùng Đài và những diễn biến tâm trạng, quyết định của ông cùng Đan Thiềm. Câu 2.

  Chỉ dẫn sân khấu là những phần chữ trong ngoặc đơn hoặc chữ nghiêng (nếu có) mô tả hành động, cử chỉ, giọng điệu, bối cảnh

  Tác dụng của chúng là giúp người đọc hoặc diễn viên hình dung rõ hơn về bối cảnh, hành động và tâm trạng của nhân vật, từ đó hiểu sâu sắc hơn nội dung và ý nghĩa của vở kịch. Câu 3.

Từ “đồng bệnh” có ý nghĩa Đan Thiềm cũng là một người nghệ sĩ tài hoa nhưng không được trọng dụng đúng mức trong xã hội phong kiến, hoặc cũng là người có chung một nỗi niềm trăn trở, một lý tưởng nghệ thuật lớn lao nhưng đầy bi kịch như Vũ Như Tô. Điều này khắc họa Đan Thiềm là người có sự đồng cảm sâu sắc, hiểu thấu tâm can của Vũ Như Tô, không chỉ là một cung nữ bình thường mà còn là một tri kỉ về nghệ thuật. Câu 4.

Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô và bọn quan lại, hoặc giữa phe vua chúa (đại diện cho quyền lực) và phe nhân dân (đại diện cho sự phản kháng). Ý nghĩa của xung đột này là làm nổi bật mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu, vĩnh cửu của người nghệ sĩ với thực tế cuộc sống khắc nghiệt, đầy rẫy bất công và sự lầm than của nhân dân, dẫn đến bi kịch không thể dung hòa. Câu 5. Ban đầu, Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài vì cho đó là việc làm xa xỉ, tốn kém, khiến nhân dân lầm than. Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô thay đổi quyết định vì Đan Thiềm đã đánh thức khát vọng nghệ thuật mãnh liệt trong ông, thuyết phục ông rằng Cửu Trùng Đài có thể là một công trình vĩ đại, lưu danh muôn đời, thỏa mãn tài năng và lý tưởng nghệ thuật của ông, vượt lên trên những toan tính đời thường.

Câu 1.

→ Cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm khi Vũ Như Tô bị bắt, xoay quanh số phận người tài, bi kịch của nghệ sĩ và vấn đề xây dựng Cửu Trùng Đài.



Câu 2.

Chỉ dẫn sân khấu: (Chàng rơm rớm nước mắt.)

Tác dụng: Khắc họa trạng thái cảm xúc đau đớn, bi phẫn của Vũ Như Tô; giúp người đọc/người xem hiểu sâu hơn tâm trạng nhân vật, tăng tính kịch và sức biểu cảm.



Câu 3.

→ “Đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người đồng cảm sâu sắc, thấu hiểu nỗi đau của Vũ Như Tô; bà cũng là người có lý tưởng, trân trọng và bảo vệ tài năng nghệ thuật.



Câu 4.

Xung đột giữa:

Vũ Như Tô ↔ thực tế xã hội / triều đình bạo ngược / lợi ích nhân dân

Gián tiếp là xung đột giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống con người

Làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ có tài và lý tưởng lớn nhưng đặt sai thời điểm, sai đối tượng, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.




Câu 5.

Ban đầu: Vũ Như Tô từ chối xây Cửu Trùng Đài, coi đó là việc ô uế, phục vụ bạo chúa.

Sau đó thay đổi vì:

Được Đan Thiềm khơi dậy khát vọng cống hiến tài năng cho non sông

Tin rằng nghệ thuật lớn có thể vượt lên trên thời cuộc, để lại giá trị muôn đời cho dân tộc.

6 tháng 1


Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?



Sự việc chính trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm xoay quanh việc xây dựng hay phá bỏ Cửu Trùng Đài, qua đó thể hiện mâu thuẫn gay gắt giữa lý tưởng nghệ thuật và đời sống nhân dân.





Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng



Chỉ dẫn sân khấu (tiêu biểu):


  • Hành động, cử chỉ, giọng nói của nhân vật
  • Cách nhân vật xuất hiện, nói năng, thái độ



Tác dụng:


  • Giúp người đọc hình dung rõ cảnh diễn
  • Khắc họa tâm trạng, tính cách nhân vật
  • Tăng tính sinh động và kịch tính cho vở kịch






Câu 3. Ý nghĩa từ “đồng bệnh” trong việc khắc họa nhân vật Đan Thiềm



Từ “đồng bệnh” cho thấy:


  • Đan Thiềm đồng cảm sâu sắc với Vũ Như Tô
  • Bà cũng say mê, trân trọng cái đẹp và nghệ thuật
  • Thể hiện Đan Thiềm là người tri âm, tri kỉ, sẵn sàng bảo vệ lý tưởng nghệ thuật



→ Qua đó khắc họa Đan Thiềm là nhân vật tinh tế, có chiều sâu tâm hồn.





Câu 4. Xung đột trong văn bản và ý nghĩa



Xung đột giữa:


  • Vũ Như Tô (nghệ thuật, lý tưởng cao cả)
  • Nhân dân – hiện thực đời sống khổ cực



Ý nghĩa:


  • Làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ
  • Thể hiện mâu thuẫn giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và quyền lợi nhân dân
  • Gửi gắm tư tưởng nhân đạo của tác giả






Câu 5. Quyết định của Vũ Như Tô và lí do thay đổi



  • Ban đầu: Vũ Như Tô kiên quyết không xây Cửu Trùng Đài
  • Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ: Ông đồng ý xây vì:
    • Tin rằng đó là công trình nghệ thuật vĩ đại
    • Muốn lưu danh cho đất nước
    • Bị cuốn theo lý tưởng nghệ thuật cao cả



→ Thể hiện bi kịch nhận thức của Vũ Như Tô.


8 tháng 1

Câu 1

Sự việc trong văn bản là: cuộc đối thoại, tranh luận gay gắt giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm xoay quanh việc xây dựng Cửu Trùng Đài, khi triều đình rối ren, nhân dân oán thán.

Câu2

  • Chỉ dẫn sân khấu: các lời miêu tả hành động, cử chỉ, giọng nói, nét mặt nhân vật (ví dụ: nói trong hoảng hốt, im lặng, run rẩy…).
  • Tác dụng: giúp người đọc hình dung rõ không khí căng thẳng, khắc họa tâm lí nhân vật và làm xung đột kịch thêm sinh động, chân thực.
  • Câu3
  • Từ “đồng bệnh” cho thấy Đan Thiềm là người đồng cảm sâu sắc với Vũ Như Tô, cùng chung lý tưởng nghệ thuật. Qua đó, khắc họa Đan Thiềm là người thấu hiểu, say mê cái đẹp nhưng cũng đầy ám ảnh, gần như mê muội vì lý tưởng giống Vũ Như Tô.
  • Câu4
  • Xung đột: giữa Vũ Như Tô – Đan Thiềm với nhân dân và thực tế xã hội (quyền lợi nhân dân ↔ lý tưởng nghệ thuật thuần túy).
  • Ý nghĩa: làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ: khát vọng sáng tạo cái
  • Câu5
  • Ban đầu, Vũ Như Tô:
    → Quyết tâm bảo vệ và hoàn thành Cửu Trùng Đài, coi đó là công trình nghệ thuật vĩ đại cho muôn đời sau.
  • Sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, ông thay đổi vì:
    → Nhận ra công trình ấy được xây dựng trên xương máu, nước mắt của nhân dân,
    → Bi kịch vỡ mộng: nghệ thuật tách rời cuộc sống thì không thể tồn tại → dẫn đến sự sụp đổ cả về lí tưởng lẫn số phận.
(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

15
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

29
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.            Nghe lời khuyên nhủ thong dong,    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.           Rạng ra gửi đến xuân đường,    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.           Tiễn đưa một chén quan hà,    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.           Sông Tần một dải xanh xanh,    Loi thoi bờ liễu mấy cành...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

           Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
    Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
           Rạng ra gửi đến xuân đường,
    Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
           Tiễn đưa một chén quan hà,
    Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
           Sông Tần một dải xanh xanh,
    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
           Cầm tay dài ngắn thở than,
    Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
           Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
           Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, 
    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
          Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
    Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
          Dù khi sóng gió bất bình,
    Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
          Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
    Lại mang những tiếng tày trời đến sau.
          Thương nhau xin nhớ lời nhau,
    Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
          Chén đưa nhớ bữa hôm nay, 
    Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
          Dặm hồng bụi cuốn chinh an, 
    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
          Người về chiếc bóng năm canh,
    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
          Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

                                   (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

        Người về chiếc bóng năm canh,
   Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản trên là gì?

Câu 5. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do. 

8
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.


Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?

Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.


Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ

Hai câu:

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

  • Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
  • Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản

Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.


Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do

Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.

  • Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
24 tháng 12 2025

Câu 1.

-Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.

Câu 3.

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”

-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.

Câu 4.

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.

Câu 5.

-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”

Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.



I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM) Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:             Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3.0 ĐIỂM)

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

            Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó.

            Thế là khi ông ta sở hữu ngôi nhà đẹp, người hàng xóm liền có cả dinh thự lộng lẫy. Ông ta ước mình giàu có, người hàng xóm có hẳn một mỏ vàng. Không chịu được sự “bất công” đó, người đàn ông may mắn liền ước mình bị mù một mắt để người hàng xóm bị mù cả hai…

            Chính lòng đố kị đã tạo nên sự nhỏ nhen, biến thành cảm giác hận thù và suy nghĩ mù quáng cho ông ta: thà kém may mắn hơn một chút để người khác đau khổ hơn mình thay vì chọn điều ngược lại.

            Lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục. Con người cần phải có lòng cao thượng, rộng rãi, biết vui với thành công của người khác. Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ.

(Trích Về những câu chuyện ngụ ngôn, nguồn Internet)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên. (0.5 điểm)

Câu 2: Tại sao tác giả ngụ ngôn lại cho rằng: mọi ước mơ được toại nguyện phải đi kèm với những điều kiện nào đó. (0.5 điểm)

Câu 3: Theo anh/chị, vì sao lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục? (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/ chị rút ra thông điệp gì tâm đắc nhất từ đoạn ngữ liệu trên? Vì sao? (1.0 điểm)

8
20 tháng 5 2021

hhj