So sánh cách lí giải về nguồn gốc dân tộc của truyện " Sự tích các dân tộc " và truyện " Con Rồng cháu Tiên "
*Truyện sự tích các dân tộc:
Văn bản
Ngày xửa ngày xưa , tất cả mọi người đều sống chung trong cùng một buôn làng . Một hôm , bầu trời bỗng nhiên tối sầm , sấm chớp , mưa gió nổi lên dữ dội . Buôn làng chìm ngập trong nước , mọi người và muôn vật đều bị cuốn trôi hết ; duy chỉ có hai anh em Khốt và Kho kịp trốn vào trong quả bầu khô là còn sống sót.
Dòng nước hung dữ đưa quả bầu khô cùng hai anh em Khốt và Kho trôi dạt khắp nơi . Rồi đến một ngày , hai anh em thấy quả bầu nằm yên , không dập dềnh nữa liền mở nắp bầu ra xem . Họ thấy quả bầu nằm trên mặt đất , nước lụt đã rút hết . Hai anh em vô cùng vui sướng , họ chui ra khỏi quả bầu rồi tìm một cái hang gần đó làm nơi ở tạm.
Hôm sau hai anh em tìm thấy trong quả bầu một hạt bầu , một hạt thóc và một hạt bắp . Họ quyết định đem ba hạt giống quý báu ấy gieo xuống một bãi đất rộng . Chỉ một ngày sau , hai anh em vô cùng ngạc nhiên khi thấy trước mắt họ là một rẫy lúa chín vàng , một rẫy bắp trĩu quả và một rẫy bầu xanh tốt . Thế là hai anh em Khốt và Kho không lo bị đói nữa ,họ đã có lúa , bắp để ăn . Nhưng còn rẫy bầu thì rất lạ , cả một cái rẫy xanh um , lá mọc phủ kín mặt đất nhưng chỉ đậu được có một quả .Qủa bầu lúc đầu chỉ nhỏ bằng nắm tay nhưng sau bảy lần mặt trời ngủ dậy , nó đã to bằng trái núi . Hai anh em hè nhau khiêng quả bầu về nhưng không tài nào nhấc nổi . Họ lấy đá đập vào nhưng quả bầu vẫn trơ trơ . Cuối cùng họ dùng lửa để đốt . Ngon lửa bốc cao suốt bảy ngày bảy đêm . Khi lửa tắt , bỗng có môt tiếng nổ dữ dội rung chuyển cả đất trời làm vỏ bầu nứt toác . Một lúc sau ,hai anh em thấy có một đôi nam nữ từ trong quả bầu chui ra , rồi tiếp một đôi nữa , một đôi nữa , cứ thế mãi ... tất cả là sáu mươi đôi ; đôi nào chui ra cũng gọi Khốt , Kho là cha mẹ.
Khốt và Kho vui sướng nói với các con :
- Ơi , các con yêu quý ! Vừa qua Yang giận dữ đã cho nước dâng lên cuốn hết tổ tiên chúng ta . Nay các con lại được Yang sinh ra , các con hãy chia nhau ra đi khắp nơi mà sinh cơ lập nghiệp .
- Chúng con xin vâng lời cha mẹ . - Cả sáu mươi đôi cùng đồng thanh trả lời .
Đôi ra đầu tiên đi về phía mặt trời mọc , nơi ấy có đồng bằng và biển cả . Họ là tổ tiên của người Kinh bây giờ.
Những đôi ra tiếp sau đi về vùng núi phía Bắc trùng điệp . Họ là tổ tiên các dân tộc Mường , Tày , Thái , ... ngày nay.
Những đôi ra sau cùng ở lại với vùng núi phía Nam bao la . Họ là tổ tiên của các dân tộc Tây Nguyên bây giờ.
*Truyện Con Rồng cháu Tiên
Văn bản:
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh - những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, thần thường về thủy cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu nhau rồi trở thành vợ chồng, cùng chung sống trên cạn ở cung điện Long Trang.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng; trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần.
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung. Âu cơ ở lại một mình nuôi con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở :
- Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?
Lạc Long Quân nói :
- Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.
Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi chia tay nhau lên đường.
Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương; khi cha chết thì ngôi được truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta - con cháu vua Hùng - khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên.
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản. Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất, xưng "chúng tôi". Người kể chuyện là người trực tiếp tham gia và chứng kiến các sự kiện lịch sử được kể lại.
Câu 2. Theo văn bản, cuộc Nam tiến lần này của nhân dân ta có gì khác biệt?
Theo văn bản, cuộc Nam tiến lần này có sự khác biệt rõ rệt so với trước:
- Trước đây: Chỉ là "vài trung đội hoặc mấy chục người đi lén lút trong rừng sâu, giữa đêm khuya". ( quy mô nhỏ, bí mật)
- Lần này: Là "những đoàn tàu dài dằng dặc, chật ních những chiến sĩ, đi giữa tiếng hoan hô và hàng vạn cánh tay vẫy chào của đồng bào". (quy mô lớn, công khai, được nhân dân cổ vũ nồng nhiệt)
Câu 3. Tính xác thực được thể hiện như thế nào trong văn bản?
Tính xác thực của văn bản được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Thời gian cụ thể: "Ngày 26 tháng 8", "Đến 30 tháng 8", "Ngày mồng 2 tháng 9".
- Địa điểm rõ ràng: "Thủ đô", "Tân Trào", "Hà Nội", "làng Phú Thượng", "quảng trường Ba Đình", "Vĩnh Yên", "Sài Gòn", "Nam Bộ".
- Nhân vật lịch sử có thật: "Bác" (Chủ tịch Hồ Chí Minh), "Nguyễn Hải Thần".
- Sự kiện lịch sử có thật: Đội Giải phóng quân tiến vào Hà Nội, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, quân Tưởng và quân Pháp xâm lược trở lại, cuộc kháng chiến Nam Bộ bùng nổ, phong trào Nam tiến.
- Ngôi kể thứ nhất: Tác giả (Võ Nguyên Giáp) là người trực tiếp tham gia, chứng kiến.
Câu 4. Em có nhận xét gì về tình cảm, cảm xúc của tác giả được thể hiện trong văn bản?
Qua văn bản, có thể thấy tác giả thể hiện những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt và sâu sắc:
- Niềm tự hào, phấn khởi về khí thế chiến thắng của đoàn quân Giải phóng và niềm tin của nhân dân.
- Sự kính trọng, yêu mến Bác Hồ qua cách miêu tả giản dị và gần gũi.
- Sự gắn bó máu thịt với vận mệnh dân tộc, thể hiện qua lời khẳng định "Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam" và sự đồng cảm sâu sắc khi "tình cảm thiêng liêng" của dân tộc bị xúc phạm.
- Niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân và ý chí quyết tâm chiến đấu cho sự nghiệp chung.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em có suy nghĩ gì về tinh thần và chí khí của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc trước mọi kẻ thù?
Nội dung văn bản cho thấy một tinh thần và chí khí phi thường của nhân dân ta:
- Ý thức bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ sâu sắc, biến thành hành động mạnh mẽ khi Tổ quốc bị xâm phạm.
- Tinh thần đoàn kết vĩ đại, cả nước chung một ý chí, "quyết không thể ngồi yên", sẵn sàng "Nam tiến" chi viện cho đồng bào miền Nam.
- Sự hy sinh cao cả, sẵn sàng gác lại cuộc sống riêng để "nô nức tòng quân", đặt lợi ích của đất nước lên trên hết.
- Ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm "Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng" để tiêu diệt bọn xâm lược, bảo vệ nền độc lập.
Cudgdhxxh
H
Borbrhdsrjdjjrjj kg
Xhdgchgjgjgjfifjfjfjgjgjgyuah₫5;?.?,):/cúud.7
1 ngôi kể thứ nhất xưng chúng tôi
Tiếng việt tất nhiên là quan trọng hơn toán rồi vì không có tiếng việt thì viết sao được
c Âu 1 xưng ngôi thứ
Câu 1:
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất . Ngôi kể xưng chúng tôi
Câu 2:
Theo em văn bản trên cuộc Nam tiến làm này của nhân dân ta đã khác hẳn trước đây vì cuộc Nam tiến gắn liền với những đoàn tàu dài dằng dặc chật ních những chiến sĩ đi giữa tiếng hoan hô và hàng vạn cánh tay vẫy chào của đồng bào
Câu 3:
Tính xác thực của hồi kí được thể hiện qua những yếu tố như: có địa danh, địa điểm cụ thể như Tân Trào,Phú Thưỡng, Vĩnh Yên , quảng trường Ba Đình,…Gắn với các hốc thời gian cụ thể và các sự kiện lịch sử như ngày 26 tháng 8 chi đội giải phóng quân đầu tiên tiến vào Thủ Đô, ngày mùng 2 tháng 9, Bác ra mắt trước mấy chục vạn đồng bào Thủ Đô tại quảng trường Ba Đình với bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” lịch sử . Nêu ra các lực lượng liên quẩn đến quân đội như chi đội giải phóng quân , chiến sĩ cứu quốc quân . Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ du kích của phong trào cách mạng
Câu 4:
Tác giả đã bộc lộ Đan xen nhiều tình cảm,cảm xúc trong văn bản: tình cảm tự hào , xúc động khi nhớ lại những ngày lịch sử trọng đại . Gắn bó sâu nặng với nhân dân, coi nhân dân là nguồn sức mạnh . Khí thế sục sôi , quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập . Cảm xúc vừa hào hứng ,mạnh mẽ .
Câu 5:
Văn bản cho thấy tinh thần và chí khí của nhân dân ta trong cuộc tráng chiến trường kì của dân tộc trước mọi kẻ thù.Đó là sự quật cường,bất khuất,đoàn kết ,đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.Nông dân đã gác tay cày,học sinh đã gác sách vở để tòng quân,chiến đấu một lòng vì độc lập dân tộc.Nhân dân ta đã xem việc bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng chính tinh thần ấy,chí khí ấy làm nên sức mạnh.
1ngoi kể thứ ba
ngôi kể thứ nhất
Ngôi kể là ngôi thứ nhất
Văn bản nghị luận