K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau.

BUỔI HỌC CUỐI CÙNG: TIẾNG NÓI DÂN TỘC LÀ HIỆN THÂN QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Tình huống truyện đặc biệt trong Buổi học cuối cùng

Không sở hữu tình huống truyện gay cấn với những chi tiết giật gân, Buổi học cuối cùng in dấu trong trái tim độc giả bởi một tình huống hết sức cảm động và có phần đau đớn. Từ nhan đề truyện, độc giả dễ dàng đoán được cốt truyện sẽ xoay quanh buổi học cuối cùng tại ngôi trường nào đó tại nước Pháp. Thế nhưng, lý do khiến buổi học này là cuối cùng vẫn có thể xem như một ẩn số cần giải mã. Lần theo ngòi bút tài hoa của An-phông-xơ Đô-đê, ẩn số kia dần được hé mở. Chính sự thua trận của quân Pháp nơi chiến trường khiến cư dân vùng An-dát và Lo-ren buộc phải học tiếng Đức, từ bỏ ngôn ngữ mẹ đẻ thân thương. Tình huống truyện độc đáo như thế đã phần nào phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh. Nó không chỉ là cõi tử thần buộc con người rời xa gia đình và quê hương, nó còn bắt họ từ bỏ dòng máu đang chảy trong lồng ngực và cả tiếng nói dân tộc mình. Cũng thông qua tình huống truyện, tính cách các nhân vật đã hiện lên một cách rõ ràng và chân thực hơn, ngay cả những nhân vật không được đặt tên. [...]

Người thầy vĩ đại trong tác phẩm

Thầy Ha-men là người thầy nghiêm khắc với học sinh, nghiêm túc với nghề giáo. Thầy trân trọng công việc cao quý của mình, luôn muốn đem đến những giờ học chất lượng nhất đến học trò nơi quê hương. Thế nhưng trong không khí ngày hôm ấy, người giáo viên vĩ đại phải chua xót thông báo rằng đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng, cũng là ngày cuối thầy được đứng trên bục giảng. Yêu ngôn ngữ dân tộc, thầy đã phê bình mọi người lẫn chính mình về sự xao nhãng trong việc học và dạy tiếng Pháp. Dù vậy, thầy Ha-men sau đó lại nói về tiếng Pháp với tất cả sự tôn kính, say mê của một người con dân tộc. [...] Thầy xem tiếng Pháp là vũ khí, là chìa khoá nơi chốn lao tù tăm tối và căn dặn học trò không bao giờ được lãng quên. Bởi lẽ, một khi dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ còn giữ vững tiếng nói thì chừng ấy, bản sắc dân tộc vẫn còn được bảo tồn. [...] Thầy Ha-men đại diện cho những người Pháp yêu nước, có ý thức gìn giữ và bảo tồn tiếng nói dân tộc. Thầy là người vĩ đại, cả về cốt cách lẫn bài học truyền tải cho học trò về lòng yêu quê hương.

Bài học về ngôn ngữ dân tộc trong Buổi học cuối cùng

Tình yêu quê hương bắt đầu từ những tình cảm giản đơn nhất của con người. Đó là tình thân, tình làng xóm, sự cảm thông với đồng bào nhưng trên tất cả, nó phải bắt nguồn từ tình yêu tiếng nói dân tộc. Thông qua nhân vật thầy Ha-men và tác phẩm Buổi học cuối cùng, An-phông-xơ Đô-đê đã mang đến cho độc giả bài học mới về tinh thần yêu nước cũng như thái độ nên có với tiếng nói dân tộc. Tiếng nói đại diện cho bản sắc dân tộc, thể hiện sự văn minh và tiến bộ của một đất nước. Đó chính là lý do mà thầy Ha-men căn dặn mọi người không được lãng quên, phải biết gìn giữ ngôn ngữ dân tộc. Không một quốc gia nào có thể tồn tại vững mạnh mà không sở hữu tiếng nói riêng. [...]

Ngôn ngữ dân tộc được ví như chiếc chìa khoá chốn lao tù khi giúp phá bỏ xiềng xích và ách thống trị. Nó là cội nguồn sức mạnh, thắp sáng hi vọng cho những kẻ phải chịu tình cảnh nô lệ tối tăm. "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc." – Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về tầm quan trọng của tiếng nói dân tộc.

Với truyện ngắn Buổi học cuối cùng, An-phông-xơ Đô-đê khẳng định rằng tiếng nói gắn liền với tự do và vận mệnh của đất nước. Đồng thời, ông đánh thức và gieo vào trái trái tim người đọc ý thức gìn giữ ngôn ngữ dân tộc, cũng là hạt giống của lòng yêu nước.

(Theo Hạ Miên)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Nhân vật nào trong truyện Buổi học cuối cùng được người viết xem là hiện thân cho tình yêu tiếng nói dân tộc?

Câu 3. Văn bản "Buổi học cuối cùng: Tiếng nói dân tộc là hiện thân quê hương" bàn luận về vấn đề gì? Nhan đề của văn bản có liên quan như thế nào đến vấn đề ấy?

Câu 4. Chỉ ra 2 bằng chứng được người viết sử dụng trong văn bản để làm rõ cho vấn đề và phân tích tác dụng của những bằng chứng đó.

Câu 5. Theo em, bài học về ngôn ngữ dân tộc mà tác giả An-phông-xơ Đô-đê muốn gửi gắm qua "Buổi học cuối cùng" là gì? Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về bài học đó. (Trình bày ngắn gọn khoảng 6 − 8 dòng)

1
12 tháng 11 2025

Câu 1.

  • Phương thức biểu đạt chính: nghị luận (bàn về tình yêu tiếng nói dân tộc qua truyện "Buổi học cuối cùng").

Câu 2.

  • Nhân vật thầy Ha-men được xem là hiện thân cho tình yêu tiếng nói dân tộc.

Câu 3.

  • Vấn đề bàn luận: tầm quan trọng của ngôn ngữ dân tộc và tinh thần yêu nước.
  • Nhan đề liên quan: “Tiếng nói dân tộc là hiện thân quê hương” nhấn mạnh rằng tiếng nói gắn liền với bản sắc, với quê hương và vận mệnh của dân tộc.

Câu 4.

  • Bằng chứng 1: Thầy Ha-men căn dặn học trò không được lãng quên tiếng Pháp → thể hiện tiếng nói là chìa khóa bảo tồn bản sắc dân tộc.
  • Bằng chứng 2: “Ngôn ngữ dân tộc được ví như chiếc chìa khoá chốn lao tù” → cho thấy tiếng nói là sức mạnh, là phương tiện đấu tranh cho tự do.
  • Tác dụng: Hai bằng chứng giúp khẳng định tiếng nói gắn liền với tự do, bản sắc dân tộc, lòng yêu nước, làm rõ vấn đề nghị luận.

Câu 5.

  • Bài học: phải trân trọng và gìn giữ tiếng nói dân tộc, vì nó thể hiện bản sắc dân tộc, gắn liền với tự do và quê hương.
  • Suy nghĩ cá nhân: Giữ gìn tiếng nói dân tộc giúp mỗi người ý thức về nguồn cội, tự hào về văn hóa dân tộc và biết trân trọng giá trị của đất nước. Tiếng nói còn là phương tiện truyền tải tri thức, kinh nghiệm và tình cảm của dân tộc cho các thế hệ sau.
7 tháng 10 2025

lớp mấy z mom

7 tháng 10 2025

7 ạ


(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:    CHIỀU ĐỒNG NỘI Những giọt thu trong veo Rắc ngang qua đồng nội Cánh chim bay xuống chiều Nâng nắng lên kẻo mỏi Buổi chiều thu mướt xanh Cỏ thơm cùng hoa dại Cánh cò trôi nhanh nhanh Đàn trâu về chậm rãi Cánh đồng chiều thật êm Nhấp nhô đều sóng lúa Mùa thu như tay mềm Chạm lên từng thảm lụa Buổi chiều thu đồng nội Hương thơm từng dấu...
Đọc tiếp

(6.0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau:

    CHIỀU ĐỒNG NỘI

Những giọt thu trong veo
Rắc ngang qua đồng nội
Cánh chim bay xuống chiều
Nâng nắng lên kẻo mỏi

Buổi chiều thu mướt xanh
Cỏ thơm cùng hoa dại
Cánh cò trôi nhanh nhanh
Đàn trâu về chậm rãi

Cánh đồng chiều thật êm
Nhấp nhô đều sóng lúa
Mùa thu như tay mềm
Chạm lên từng thảm lụa

Buổi chiều thu đồng nội
Hương thơm từng dấu chân
Bếp nhà ai toả khói
Gọi trăng thu xuống gần.

(Nguyễn Lãm Thắng, in trong tập Giấc mơ buổi sáng, 2017)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại ít nhất 03 chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ.

Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra 01 từ láy trong hai khổ thơ cuối. Nêu tác dụng của từ láy đó trong việc thể hiện nội dung.

Câu 4 (1,0 điểm) Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa nào? Nhận xét về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ.   

Câu 5. (1,5 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

Bếp nhà ai toả khói

Gọi trăng thu xuống gần.

Câu 6. (1,5 điểm) Khi đọc bài thơ, em nhớ về kỉ niệm nào với quê hương. Kỉ niệm đó đã giúp em hiểu thêm điều gì về thông điệp tác giả muốn truyền tải? (Trình bày khoảng 05 – 07 dòng)

6
30 tháng 9 2025

Câu 1.

Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.


Câu 2.

Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:


“Cánh chim bay xuống chiều”


“Buổi chiều thu mướt xanh”


“Nhấp nhô đều sóng lúa”


Câu 3.


Từ láy: chậm rãi


Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.


Câu 4.


Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.


Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.


Câu 5.


Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)


Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.


Câu 6.

Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.

24 tháng 12 2025

Caau1

Văn bản được viết theo thể thơ 5 chứ

2 tháng 9 2025

Câu 1:

  • Thể thơ: Thơ lục bát.
  • Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Câu 2: Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu thương, kính trọng, nhớ thương và lòng biết ơn tha thiết của người con đối với mẹ. Tác giả bày tỏ nỗi xót xa khi không còn mẹ bên đời, đồng thời khẳng định dù trưởng thành hay già đi thì vẫn luôn cần có mẹ.

Câu 3: (Đoạn văn 3-5 câu)
Thông điệp em tâm đắc nhất là: Dù ở bất cứ lứa tuổi nào, con người vẫn luôn cần có mẹ. Bởi mẹ là điểm tựa tinh thần vững chắc, là nguồn yêu thương vô điều kiện nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Khi đọc đoạn thơ, em càng thêm trân trọng công lao, tình yêu thương của mẹ và tự nhắc nhở bản thân phải biết yêu thương, hiếu kính với mẹ khi còn có thể.

Câu 1: Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính

  • Thể thơ: Đoạn trích được viết theo thể thơ bốn câu (tứ tuyệt), mỗi câu 7 chữ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
  • Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, thể hiện tình cảm sâu sắc của người con đối với mẹ.

Câu 2: Tình cảm của tác giả đối với mẹ được thể hiện như thế nào?

  • Tác giả thể hiện tình cảm thương yêu, nhớ nhung và sự cô đơn khi mẹ vắng mặt.
  • Có cảm giác nuối tiếc, đau xót khi mẹ đã “xa” (mất đi), câu thơ “lỏng chỏng giữa nhà mồ côi” gợi lên sự trống trải, cô đơn.
  • Dù đã lớn tuổi, tác giả vẫn khẳng định “Con vẫn cần mẹ như thời trẻ thơ” – tình cảm gắn bó và tôn trọng mẹ suốt cuộc đời.

Câu 3: Thông điệp em tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do chọn thông điệp đó.

Đoạn văn mẫu:
Thông điệp mà em tâm đắc nhất là tình mẫu tử thiêng liêng và sự cần thiết của mẹ trong cuộc đời mỗi người. Dù con người có lớn lên, trưởng thành hay trải qua bao nhiêu khó khăn, thì sự hiện diện và tình yêu thương của mẹ vẫn luôn là điều không thể thiếu. Em chọn thông điệp này vì nó giúp em hiểu rõ hơn về giá trị của gia đình và lòng biết ơn đối với công lao của mẹ.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘCHỡi ơi !Súng giặc đất rền;Lòng dân trời tỏ.Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.Nhớ linh xưaCui cút làm ăn;Toan lo nghèo khó,Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;Tập khiên, tập...
Đọc tiếp

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Hỡi ơi !
Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa
Cui cút làm ăn;
Toan lo nghèo khó,
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này nguyện ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi,
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chỉ nài sắm dao tu, nón gõ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Ôi!

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ.

Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mộ.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vì binh đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui hào lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

Một trận khói tan,
Nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đức đó.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,thương vì hai chữ thiên dân;
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi, thương thay!
Có linh xin hưởng.

9

Tui yêu Việt Nam!!!💗💗💗💗

đúng là có việt nam thật nhưng đề bài câu hỏi là j ak :))

🤨🤨🤨🤨🤨🤨🤨

V
👑V.M.H👑
CTVHS VIP
9 tháng 9 2025

Bạn ơi chỉ mình cách làm 2 cái cột đó được không ?

M.n giải giúp mình 3 tình huống này của môn GDCD 76. Tình huống: Cứ đến ngày rằm và mồng một hàng tháng là bà ngoại của T lại thắp hương khấn vái trước bàn thờ tổ tiên. Hơn thế nữa, bà ngoại T rủ một số bạn bè cùng tín ngưỡng đi lễ chùa để cầu nguyện. T cho rằng việc làm của bà là mê tín dị đoan vì việc làm ấy không mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống.a. Em có đồng ý với ý...
Đọc tiếp

M.n giải giúp mình 3 tình huống này của môn GDCD 7

6. Tình huống: Cứ đến ngày rằm và mồng một hàng tháng là bà ngoại của T lại thắp hương khấn vái trước bàn thờ tổ tiên. Hơn thế nữa, bà ngoại T rủ một số bạn bè cùng tín ngưỡng đi lễ chùa để cầu nguyện. T cho rằng việc làm của bà là mê tín dị đoan vì việc làm ấy không mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống.

a. Em có đồng ý với ý kiến của T không ? Vì sao ?

b. Nếu gặp trường hợp như T em xử lý như thế nào?

7. Tình huống: Trong quá trình chuẩn bị bài học ở nhà, qua thảo luận B và L đều cho là Quốc hội và Chính phủ là hai cơ quan giống nhau. Nhưng khi giải thích nguyên nhân vì sao thì lại có sự khác nhau:

B: Nguyên nhân là do hai cơ quan này đều là cơ quan ở trung ương.

L: Nguyên nhân là do hai cơ quan này đều có quyền lực cao nhất.

Em có đồng ý với cách lí giải của hai bạn hay không ? Vì sao?

8. Ông B đang khoẻ mạnh bỗng nhiên ngã bệnh nặng. Đến trạm xá của xã khám hai lần nhưng bác sĩ vẫn chưa phát hiện được chính xác căn bệnh của ông. Có vài người hàng xóm đến thăm và đưa ra một số lời khuyên cho ông như sau :

a) Xin chuyển viện lên tuyến trên để khám và điều trị.

b) Đi xem bói và mời thầy bói về nhà yểm bùa, cúng trừ bệnh tật.

c) Đến miếu thiêng để xin nước thánh về uống cho hết bệnh tật. Theo em, ông B nên nghe theo lời khuyên nào ? Tại sao

1
21 tháng 7 2020

6.

a) Em không đồng ý với ý kiến của T vì: những việc làm của bà ngoại T không phải là mê tín dị đoan mà là truyền thống thờ cúng tổ tiên và đi lễ chùa. Đó là truyền thống tốt đẹp từ trước đến nay vẫn còn được lưu giữ.

b) Nếu gặp trường hợp như của T, em sẽ giải thích cho bạn đó không phải là mê tín dị đoan mà là truyền thống tốt đẹp , cần được trân trọng của đất nước ta.

8. Theo em , ông B nên nghe theo lời khuyên a . Vì những lời khuyên khác là những cách chữa bệnh mê tín dị đoan , không đủ tính chất xác thực , trái với khoa học , lẽ tự nhiên.

                              NGỤ NGÔN CỦA MỖI NGÀYNgồi cùng trang giấy nhỏTôi đi học mỗi ngày Tôi học cây xương rồngTrời xanh cùng nắng bãoTôi học trong nụ hồngMàu hoa chừng rỏ máu Tôi học lời ngọn gióChẳng bao giờ vu vơTôi học lời của biểnĐừng hạn hẹp bến bờ Tôi học lời con trẻVề thế giới sạch trongTôi học lời già cảVề cuộc sống vô cùng Tôi học...
Đọc tiếp

                              NGỤ NGÔN CỦA MỖI NGÀY

Ngồi cùng trang giấy nhỏ

Tôi đi học mỗi ngày

 

Tôi học cây xương rồng

Trời xanh cùng nắng bão

Tôi học trong nụ hồng

Màu hoa chừng rỏ máu

 

Tôi học lời ngọn gió

Chẳng bao giờ vu vơ

Tôi học lời của biển

Đừng hạn hẹp bến bờ

 

Tôi học lời con trẻ

Về thế giới sạch trong

Tôi học lời già cả

Về cuộc sống vô cùng

 

Tôi học lời chim chóc

Đang nói về bình minh

Và trong  bia mộ đá

Lời răn dạy đời mình.

(Theo InternetĐỗ Trung Quân)

Câu 1  

Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 Chỉ ra phương thức biểu đạt của bài thơ.

Câu 3. Từ “ bình minh” trong câu thơ “ Đang nói về bình minh” có phải là từ láy không? Tại sao?

Câu 4. Chỉ ra cách ngắt nhịp của các câu thơ trong bài thơ.

Câu 5. Nêu ý nghĩa nhan đề của bài thơ.

Câu 6. Những từ “ trang giấy, nụ hồng, xương rồng, nắng bão, ngọn gió” thuộc từ loại nào?

Câu 7. Em hiểu thế nào về những câu thơ sau:

Tôi học cây xương rồng

Trời xanh cùng nắng bão

Tôi học trong nụ hồng

Màu hoa chừng rỏ máu

Câu 8 : Theo em, tác giả học được bài học gì trong hai câu thơ:

Tôi học lời của biển

Đừng hạn hẹp bến bờ

Câu 9

Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ nổi bật trong bài thơ.

Câu 10 . Hãy nhận xét về quan niệm về việc học của tác giả thể hiện trong  bài thơ

Giúp mình với, làm đến đâu cx đc

1
13 tháng 8 2025

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, không gò bó về số câu, số chữ và cách gieo vần.


Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt của bài thơ.

Trả lời: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm kết hợp với tự sựmiêu tả.


Câu 3. Từ “bình minh” trong câu thơ “Đang nói về bình minh” có phải là từ láy không? Tại sao?

Trả lời: Không, “bình minh” không phải là từ láy.
Vì đây là từ ghép Hán Việt (bình = yên bình, minh = sáng), chỉ thời điểm sáng sớm, mang ý nghĩa rõ ràng chứ không có yếu tố lặp âm như từ láy.


Câu 4. Chỉ ra cách ngắt nhịp của các câu thơ trong bài thơ.

Trả lời: Cách ngắt nhịp thường thấy là 2/2 hoặc 2/3, ví dụ:

  • Tôi học / cây xương rồng (2/3)
  • Tôi học / lời con trẻ (2/3)
  • Lời răn / dạy đời mình (2/3)

Câu 5. Nêu ý nghĩa nhan đề của bài thơ.

Trả lời:
Nhan đề "Ngụ ngôn của mỗi ngày" gợi liên tưởng đến những bài học mang tính triết lý, được rút ra từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày.
Tác giả như muốn nói: cuộc sống mỗi ngày là một bài học quý báu, và mỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều có thể trở thành một bài học nếu ta biết lắng nghe và chiêm nghiệm.


Câu 6. Những từ “trang giấy, nụ hồng, xương rồng, nắng bão, ngọn gió” thuộc từ loại nào?

Trả lời: Những từ đó đều thuộc danh từ.

  • Chỉ sự vật, hiện tượng: trang giấy, nụ hồng, xương rồng, nắng bão, ngọn gió.

Câu 7. Em hiểu thế nào về những câu thơ sau:

Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu

Trả lời:
Tác giả học được từ cây xương rồng và nụ hồng bài học về sự kiên cường, mạnh mẽ và nghị lực sống.

  • Xương rồng sống trong nắng gió khắc nghiệt nhưng vẫn vươn lên xanh tốt, tượng trưng cho nghị lực.
  • Nụ hồng rực rỡ nhưng ẩn sau vẻ đẹp là sự hy sinh, gian khổ (máu), thể hiện vẻ đẹp đầy đau thương và cao quý.

Câu 8. Theo em, tác giả học được bài học gì trong hai câu thơ:

Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ

Trả lời:
Tác giả học được bài học về sự rộng lượng, bao dung và không giới hạn bản thân trong khuôn khổ chật hẹp.
Biển đại diện cho sự bao la, rộng lớn, khuyên con người nên sống cởi mở, vượt qua những giới hạn nhỏ bé của mình.


Câu 9. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ nổi bật trong bài thơ.

Trả lời:
Biện pháp tu từ nổi bật là nhân hóaẩn dụ.

  • Tác giả nhân hóa cây cối, thiên nhiên, trẻ em, người già… như những “người thầy” dạy mình bài học.
  • Ẩn dụ được sử dụng để thể hiện bài học sâu sắc: “nụ hồng” = vẻ đẹp có thể phải đánh đổi bằng máu, “biển” = sự rộng lớn, bao dung.
    → Tác dụng: Giúp bài thơ mang màu sắc triết lý sâu sắc, gần gũi, dễ cảm nhận và khơi gợi suy ngẫm nơi người đọc.

Câu 10. Hãy nhận xét về quan niệm về việc học của tác giả thể hiện trong bài thơ.

Trả lời:
Tác giả có quan niệm mở rộng và sâu sắc về việc học.

  • Học không chỉ ở sách vở, nhà trường, mà còn từ thiên nhiên, con người, cuộc sống.
  • Học từ những điều giản dị, gần gũi quanh ta mỗi ngày.
    → Đó là một quan niệm học tập tích cực, chủ động, không giới hạn, thể hiện tinh thần ham học hỏi và sự trưởng thành trong tư duy
  • đúng tick cho mik nha


I. Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi: Một ngày nọ, Cáo ta xuống triền núi và phát hiện ra phía trước có một vườn nho. Dưới tán lá xanh, từng chùm nho căng tròn mọng nước, dưới ánh sáng mặt trời trông lại càng hấp dẫn. Những chùm nho này khiến người ta thèm thuồng. Cáo thèm tới mức nước bọt cứ trào ra hai bên mép. Cáo ta nhìn trước ngó sau thấy chẳng có ai, nho lại nhiều...
Đọc tiếp

I. Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi:

Một ngày nọ, Cáo ta xuống triền núi và phát hiện ra phía trước có một vườn nho. Dưới tán lá xanh, từng chùm nho căng tròn mọng nước, dưới ánh sáng mặt trời trông lại càng hấp dẫn. Những chùm nho này khiến người ta thèm thuồng. Cáo thèm tới mức nước bọt cứ trào ra hai bên mép. Cáo ta nhìn trước ngó sau thấy chẳng có ai, nho lại nhiều như thế này, cũng muốn chén ngay mấy chùm.

Cáo đứng thẳng người, vươn tay hái nho. Nhưng giàn nho thì cao quá, Cáo ta dù có vươn người đến đâu cũng không thể tới được. Cáo nhanh trí nghĩ ra một cách, thử nhảy lên xem sao nhưng cố lắm cũng chỉ với tới lá nho mà thôi.

Cáo ta không đành lòng rời khỏi vườn nho khi chưa chén được quả nào, thế là nó lượn mấy vòng quanh vườn, cuối cùng cũng phát hiện ra một cây nho khá thấp. Cáo ta lại nhảy lên, không tới được chùm nho, lại gắng sức nhảy lên lần nữa, vẫn không hái được quả nho nào. Cáo ta lại lượn xung quanh giàn nho. Ha ha, cuối cùng thì cũng phát hiện ra một chùm nho còn thấp hơn chùm lúc nãy. Thích chí quá, Cáo ta tự đắc:

- Không có việc gì có thể làm khó ta được, ha ha!

Nước dãi trong cổ họng cứ trào ra, lùi lại mấy bước lấy đà, Cáo nhảy lên, nhưng hỡi ôi, vẫn chẳng với tới được.

Cáo ta dù có làm thế nào cũng không thể hái được nho, thở đánh thượt một cái rồi nói:

- Làm sao mà mình lại cứ phải cố ăn mấy cái chùm nho này nhỉ? Vỏ thì xanh thế, chắc chắn là chưa chín rồi. Không biết chừng còn vừa chua vừa chát, không nuốt được, có khi còn phải nhổ ra, đúng là chả ra làm sao cả. Nói xong, Cáo rầu rĩ rời khỏi vườn nho.

                          (Kho tàng truyện dân gian Việt Nam)

Câu 1. Câu chuyện trên thuộc loại truyện dân gian nào em đã học? Căn cứ nào để em xác định như vậy? Kể tên một truyện em đã được học cũng thuộc loại truyện này.

Câu 2. Nêu ý nghĩa của các hình ảnh:

-         Con Cáo

-         Chùm nho

-         Giàn nho cao

-         Cây nho thấp

Câu 3. Đọc lại đoạn văn sau:

       - Làm sao mà mình lại cứ phải cố ăn mấy cái chùm nho này nhỉ? Vỏ thì xanh thế, chắc chắn là chưa chín rồi. Không biết chừng còn vừa chua vừa chát, không nuốt được, có khi còn phải nhổ ra, đúng là chả ra làm sao cả. Nói xong, Cáo rầu rĩ rời khỏi vườn nho.

        Theo em, có phải con cáo thực sự không thích những chùm nho nên mới rời đi không? Hành động của con cáo gợi cho em suy nghĩ gì?

Câu 4. Câu chuyện trên ngụ ý răn dạy con người bài học nào trong cuộc sống?

Câu 5. Em hãy đặt một nhan đề cho văn bản và giải thích vì sao em đặt nhan đề đó.

II. Thực hiện bài tập sau:

Câu 6. Cho câu văn sau:

     Cáo ta không đành lòng rời khỏi vườn nho khi chưa chén được quả nào, thế là nó lượn mấy vòng quanh vườn, cuối cùng cũng phát hiện ra một cây nho khá thấp.

a. Giải thích nghĩa của từ “chén”?

b. Tìm từ đồng nghĩa với từ “chén” và đặt câu với 1 từ tìm được.

Câu 7. Cho biết câu văn sau thuộc kiểu câu nào phân loại theo mục đích nói, dấu hiệu nào cho biết điều đó?

       Làm sao mà mình lại cứ phải cố ăn mấy cái chùm nho này nhỉ?

Câu 8. Ghi lại 3 từ ngữ diễn tả tâm trạng con Cáo khi “rầu rĩ rời khỏi vườn nho”.

III. Tập làm văn:

Trong cuộc sống, em đã từng gặp tình huống khó khăn như con Cáo trong câu chuyện trên chưa? Em đã xử lý như thế nào. Hãy viết bài văn ngắn kể lại câu chuyện đó của em.

ai giúp mk mk tích cho

0
PHẦN 1: VĂN HỌCCâu 1: Nêu vài nét chính về cuộc đời và sự nghiêp của tác giả Lí Bạch.Câu 2: Nêu nội dung và nghệ thuật của bài thơ ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của nhà thơ Đỗ Phủ.Câu 3: Hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai bài thơ đó đã thể hiện tâm hồn và phong thái của Bác Hồ...
Đọc tiếp

PHẦN 1: VĂN HỌC

Câu 1: Nêu vài nét chính về cuộc đời và sự nghiêp của tác giả Lí Bạch.

Câu 2: Nêu nội dung và nghệ thuật của bài thơ ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của nhà thơ Đỗ Phủ.

Câu 3: Hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai bài thơ đó đã thể hiện tâm hồn và phong thái của Bác Hồ như thế nào trong hoàn cảnh ấy?

Câu 4: Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh).

Câu 5: Văn bản “Một thứ quà của lúa non: Cốm” (Thạch Lam) được viết theo thể loại nào? Tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào? Phương thức nào là chính?

Câu 6: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“... Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.”

a. Đoạn trích trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

b. Trong đoạn trích tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Hiệu

quả của nó.

2
30 tháng 3 2020

 Tác giả Lý Bạch

- (701-762)

- Nhà thơ nổi tiếng thời Đường.

- Được tôn vinh là Thi tiên.

- Phong cách: tự do, phóng khoáng.

30 tháng 3 2020

5. 

- Thể loại: tùy bút

+ Gần với bút kí, kí sự (ghi lại hình ảnh, hoạt động mà nhà văn quan sát được, trải nghiệm)

+ Thiên về bộc lộ cảm xúc

+ Ngôn ngữ: biểu cảm, trữ tình 

- Phương thức biểu đạt: biểu cảm, miêu tả.

6. Đoạn văn trích từ văn bản Mùa xuân của tôi

Biện pháp liệt kê -> khẳng định tình yêu vời mùa xuân là lẽ hiển nhiên.