Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bạn tham khảo nhé :
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”. Đó là lời khẳng định đầy tự hào của chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Lòng yêu nước được hiểu là tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng và tinh thần, trách nhiệm bảo vệ, dựng xây đất nước của con người. Cao hơn cả đấng sinh thành, đất nước như một mái nhà chung của tất cả những người dân đang chảy trong mình dòng máu Lạc Hồng. Chính vì vậy, lòng yêu nước tồn tại trong tất cả con người Việt Nam như một lẽ dĩ nhiên, thể hiện sự tự tôn, tự hào dân tộc, biết ơn sâu sắc với các thế hệ cha anh đi trước đã anh dũng dựng xây và bảo vệ đất nước. Biểu hiện của lòng yêu nước là những hành động cụ thể, được minh chứng qua từng giai đoạn lịch sử. Trang sử vàng của dân tộc ta đã ghi danh biết bao vị anh hùng, chiến sĩ, thậm chí là nông dân dũng cảm, can trường xả thân vì đất nước. Hình ảnh chị Võ Thị Sáu gan dạ trước nòng súng quân giặc, anh Bế Văn Đàn, anh Phan Đình Giót,… và hàng ngàn con người Việt Nam đã khiến cả thế giới phải nể phục vì lòng yêu nước, dũng cảm, cứng rắn “như gang như thép”.
Có thể thấy, lòng yêu nước là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thành công của đất nước ta trong cả kháng chiến lẫn công cuộc dựng xây xã hội chủ nghĩa. Thế hệ thanh thiếu niên cần không ngừng cố gắng học tập, làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc. Bên cạnh đó, chúng ta cần ngăn chặn triệt để các hành vi tuyên truyền phản động, biểu tình gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh đất nước.
Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam chính là nền tảng, cơ sở cho sự thống nhất trong khác biệt để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc, đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự không lớn, song đã đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do; tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, khi nước nhà đã giành được độc lập, song hiểm nguy từ nạn "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm" vẫn đe dọa nền độc lập, tự do mà nhân dân ta đã giành được sau hơn 80 năm trời nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”[6]; đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi người dân, mọi giai tầng trong xã hội trong các bức thư gửi cho các cụ phụ lão: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không” (Thư gửi các cụ phụ lão); cho các em nhỏ: “Các em phải thương yêu nước ta” (Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); cho một Việt kiều: “Tôi vẫn nghe ông là người yêu nước thương nòi, vậy dịp này rất thuận tiện cho ông tỏ lòng trung thành với Tổ quốc” (tháng 9/1945); cho các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình: “Các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của đức Giêsu” và bao dung, vị tha với những người trót lầm đường, lạc lối: “Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe”[7]... để quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở của lòng yêu nước chân chính, tiến hành sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Trân trọng giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc tuyên truyền về lòng yêu nước, tinh thần yêu nước cho mọi người dân, trong mọi thời điểm là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước không chỉ dừng ở nhận thức mà chính là phải thể hiện ở hành động. Cho nên, để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn, Người yêu cầu các cấp, các ngành “phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”[8], vì “đành biết rằng từ đây đi đến cuộc toàn thắng, chúng ta còn phải kinh qua nhiều nỗi khó khăn. Nhưng chúng ta giàu lòng yêu nước, thì chúng ta quyết cứu được nước”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, trong những năm tháng đấu tranh gian lao ấy, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của mọi người dân Việt Nam đã được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nổi bật tinh thần, ý chí và trí tuệ con người Việt Nam. Đó chính là sức mạnh của lòng yêu nước được hun đúc suốt hàng ngàn năm lịch sử; không chỉ được bồi đắp mà còn phát triển lên một tầm cao mới, gắn với tinh thần quốc tế trong sáng. Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế cao cả trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; là lòng nồng nàn yêu nước gắn với sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các đồng chí, bạn bè và nhân dân lao động các nước; là phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đấu tranh để “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[10] trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử. Đó cũng chính là hiển hiện của những tấm gương yêu nước, anh hùng mà khiêm nhường của biết bao quần chúng ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi; của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên mọi lĩnh vực công tác ở cả tiền tuyến và hậu phương,v.v.. đã kết thành "một làn sóng mạnh mẽ", tạo thành sức mạnh tổng hợp, vô song, làm nên những chiến công của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đưa đất nước ta tới hòa bình, độc lập, thống nhất, kiên định ục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì thế, có thể nói, những giá trị tinh hoa truyền thống như tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương giống nòi, phụng sự Tổ quốc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì dân, vì nước,v.v.. đến Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh đã được nâng lên một tầm cao. Yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung và hình thức mới, mang bản chất giai cấp, hòa quyện chặt chẽ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại mà cơ sở tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là yêu nước chân chính gắn với tinh thần quốc tế vô sản, "khác hẳn tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”… và chính Người là một mẫu mực của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần yêu nước Việt Nam hiện đại đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh của sự gặp nhau giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản”
Khổ thơ trong bài "Lá xanh" của Nguyễn Sỹ Đại đã gửi đi một thông điệp sâu sắc về ý nghĩa của sự tồn tại và giá trị cá nhân trong cuộc đời. Hình ảnh "người vá trời lấp bể", "kẻ đắp lũy xây thành" tượng trưng cho những con người vĩ đại, mang trong mình khát vọng lớn lao, dám gánh vác những trọng trách phi thường. Trái lại, nhân vật trữ tình tự nhận mình chỉ là "chiếc lá" bé nhỏ, với công việc giản dị là "xanh". Điều đó cho thấy, mỗi người đều có một vai trò riêng trong cuộc sống, không nhất thiết phải trở thành anh hùng hay thay đổi thế giới. "Xanh" ở đây không chỉ là màu sắc của lá, mà còn là biểu tượng của sự sống, sự cống hiến lặng lẽ và trọn vẹn với bản thân. Dù ở vị trí nào, ta cũng có thể tỏa sáng bằng cách sống hết mình, giữ gìn sự thuần khiết và nhiệt huyết như chiếc lá kia. Bài thơ nhắc nhở chúng ta hãy trân trọng những điều bình dị, bởi ngay cả những điều nhỏ bé cũng góp phần làm nên ý nghĩa lớn lao cho cuộc đời.
Tham khảo
Nguồn : Deepseek
Khổ thơ "Người vá trời lấp, bể / Kẻ đắp lũy xây thành / Ta chỉ là chiếc lá / Việc của mình là xanh" của Nguyễn Sỹ Đại mang đến một thông điệp sâu sắc và nhân văn về giá trị bản thân, sự khiêm nhường và ý nghĩa của việc sống đúng với lẽ tự nhiên. Bằng hình ảnh tương phản giữa những kỳ công vĩ đại của "người vá trời lấp bể" hay "kẻ đắp lũy xây thành" – tượng trưng cho những lý tưởng lớn lao, những sứ mệnh phi thường mà xã hội thường ca ngợi – tác giả đặt cạnh một sự tồn tại vô cùng nhỏ bé: "chiếc lá". Tuy nhiên, "chiếc lá" không hề yếu ớt hay vô nghĩa. Nó tự ý thức được "việc của mình là xanh". "Màu xanh" ở đây không chỉ là màu sắc đơn thuần, mà còn là biểu tượng của sự sống, sự cống hiến âm thầm nhưng thiết yếu cho thiên nhiên và cuộc đời. Chiếc lá không cố gắng trở thành biển rộng hay bức tường thành đồ sộ; nó chấp nhận và hoàn thành xuất sắc vai trò "là xanh" của mình, góp phần vào vẻ đẹp chung của cây và sự trong lành của không khí. Thông điệp mà khổ thơ gợi ra là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ: không phải ai trong chúng ta cũng sinh ra để làm những điều phi thường, vĩ đại. Mỗi cá nhân đều có một vị trí, một vai trò riêng biệt. Điều quan trọng là nhận ra giá trị cốt lõi của bản thân, chấp nhận nó và nỗ lực hoàn thành tốt nhất công việc, bổn phận của mình một cách chân thành, dù cho đó là những điều nhỏ bé nhất. Chính sự tận tâm với "việc của mình là xanh" sẽ tạo nên giá trị đích thực và bền vững cho mỗi người, làm cho cuộc đời trở nên phong phú và hài hòa hơn.
THAM KHẢO: GEMINI
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông như núi, như người Việt Nam
Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hoà sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là dề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh vật cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, thê lương dưới ánh mắt của các nhà thơ mang một tâm sự u hoài khi sáng tác một bài thơ tức cảnh. Vì thế, đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu thơ thật thích hợp khi ta liên tưởng đến bà Huyện Thanh Quan với bài thơ Qua đèo Ngang.
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của bà Huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó?
Chỉ mới đọc hai câu đầu của bài thơ thôi:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
là ta đã nhận ngay ra một nỗi buồn xa vắng.
Câu thơ xuất hiện cụm từ bóng xế tà và sự hiện diện của điệp từ chen cùng cách gieo vần lưng lá, đá đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau
Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ Qua đèo Ngang, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật ở Hoành Sơn. Cảnh vật đã buồn lại trống vắng hơn bởi điệp từ chen ở câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang vắng của đèo Ngang lúc chiều tà, bóng xế mặc dù nơi đây rất đẹp: có cỏ cây, đá, lá, hoa. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt để tìm kiếm một chút gì gọi là sự sống linh động. Và kìa, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn. Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ vài, mấy như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.
Từ ghép đau lòng, mỏi miệng khiến cho ta có cám giác tha thiết, ray rứt. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?
Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:
Dừng chân dứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái. Vũ trụ bao la quá! Con người cô đơn quá! Tất cả lại được diễn tả dưới ngòi bút tài hoa của người nữ sĩ nên bài thơ là bức tranh đặc sắc. Từ ta với. ta như một minh chứng cho nghệ thuật điêu luyện trong sáng tác thơ ca của bà Huyện Thanh Quan. Bởi vì cũng ta với ta nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến lại nói:
Bác đến chơi đây ta với ta
Lại là sự kết hợp của hai người: tuy hai mà một, tuy một mà hai. Còn bà Huyện lại:
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Đã tô đậm thêm sự lẻ loi, đơn chiếc của mình. Qua câu thơ, ta như cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm tâm sự của tác giả trước cảnh tình quê hương…
Phân tích bài thơ rồi, em hiểu sâu sắc hơn, thấm thía hơn tình cảm của một nhà thơ nữ trong xã hội thời xưa, giúp em thêm yêu quý đất nước và con người Việt Nam. Em cảm thấy vững vàng trong tư tưởng và có những suy nghĩ tích cực hơn góp phần xây dựng quê hương đất nước Việt Nam thêm giàu đẹp, để giữ mãi được những dấu tích mà người xưa để lại như gửi gắm, nhắc nhở và trao gởi cho chúng em.
Từ xưa đến nay, có nhiều nhà thơ tả cảnh đèo Ngang nhưng không ai thành công bằng bà Huyện Thanh Quan vì trong tác phẩm của bà có cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Cả bài thơ được gieo vần "a" như chính tâm sự hoài cổ của tác giả. Chúng ta không tìm thấy dù chỉ một chút gọi là sự ồn ào trong cách miêu tả. Tất cả chỉ là sự trầm lắng, mênh mang như chính tâm sự của tác giả.
Lời thơ nghe xao xuyến, bồi hồi làm cho người đọc xúc động cũng chính là những cảm xúc sâu lắng của bà Huyện Thanh Quan khi đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh miền núi khi hoàng hôn buông xuống. Cũng những cảm xúc ấy, ta sẽ gặp lại khi đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của bà với câu:
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn.
Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ xưa đã cho ta những phút giây có được tình cảm tốt đẹp xuất phát từ đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thật sự, người đời đã đặt một tên làng, một tên đường: Bà Huyện Thanh Quan để mãi mãi ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của người, nữ sĩ đối với non sông, đất nước một thời đã qua.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/phan-h-bai-tho-qua-deo-ngang-cua-ba-huyen-thanh-quan-c34a1460.html#ixzz647tw55b5
Dưới đây là đoạn văn tóm tắt văn bản **"Bầy chim chìa vôi"** của **Nguyễn Quang Thiều** (7–10 câu):
---
Văn bản *“Bầy chim chìa vôi”* kể về hình ảnh một bầy chim sống gần ngôi mộ của người cha đã mất. Tác giả đã dùng hình ảnh bầy chim như một biểu tượng của tình cảm thiêng liêng, gắn bó giữa cha và con. Mỗi buổi sáng, chim bay đến đậu trên mộ, hót líu lo như để trò chuyện, an ủi người đã khuất. Sự xuất hiện đều đặn của chúng khiến người con cảm nhận như cha mình vẫn còn hiện diện đâu đây, trong thiên nhiên và trong tâm hồn anh. Bầy chim mang đến sự ấm áp, xua tan nỗi cô đơn và buồn đau của con người trước mất mát. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương sâu sắc dành cho người cha đã khuất. Văn bản vừa nhẹ nhàng, sâu lắng, vừa chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về sự sống, cái chết và tình cảm gia đình. Bằng hình ảnh ẩn dụ tinh tế, Nguyễn Quang Thiều đã khơi gợi cảm xúc và suy ngẫm trong lòng người đọc.
---
Nếu bạn cần viết đoạn này theo kiểu học sinh lớp 6 hoặc lớp 7 thì mình có thể điều chỉnh cho phù hợp hơn. Bạn có muốn mình làm vậy không?
Tk
Bài "Đàn chim chìa vôi" của nhà văn Nguyễn Quang Thiều là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự hy sinh và lòng dũng cảm. Đoạn trích kể về hai anh em Mên và Mon sống ở làng Chử Chử, chứng kiến đàn chim chìa vôi bị mắc kẹt trên bãi sông sau một trận lũ. Nước sông dâng cao, đe dọa cuốn trôi tổ chim non, trong khi những con chim bố mẹ đã bay đi tìm mồi. Mặc dù Mên và Mon biết rõ sự nguy hiểm, nhưng vì thương những chú chim nhỏ, hai anh em đã quyết định bơi ra để cứu chúng. Bằng tất cả sự dũng cảm và nỗ lực, họ đã đưa được tổ chim vào bờ an toàn. Hành động cao đẹp này không chỉ thể hiện tình yêu của con người đối với thiên nhiên mà còn khắc sâu một bài học về lòng nhân ái, sự sẻ chia trong cuộc sống. Câu chuyện còn ẩn chứa sự gắn kết giữa anh em Mên và Mon, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của tình người, tình yêu thương đồng loại.
Đây bn
🌸 Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của em về món phở
Phở – món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam – không chỉ là một món ăn ngon mà còn là biểu tượng của hồn Việt. Bát phở nóng hổi, tỏa hương thơm dịu từ nước dùng trong veo, thịt bò mềm, sợi phở trắng ngần khiến ai nếm qua cũng khó quên. Mỗi sáng, được ngồi bên bát phở nghi ngút khói, ta cảm nhận được sự tinh tế, khéo léo và tình yêu quê hương trong từng thìa nước dùng mà người nấu gửi gắm. Phở không chỉ nuôi dưỡng thân thể, mà còn gợi nhớ những kỷ niệm gia đình, những sáng sớm mẹ ân cần bưng tô phở cho con. Dù đi xa đến đâu, hương vị phở quê hương vẫn là sợi dây níu giữ tâm hồn người Việt, là niềm tự hào giản dị nhưng sâu sắc về ẩm thực dân tộc.
🌼 Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn biểu cảm về một sự việc mà em nhớ mãi
Có những sự việc đi qua nhưng để lại trong lòng ta những rung động khó quên. Với em, đó là ngày em được nhận món quà sinh nhật đầu tiên từ mẹ. Hôm ấy, em vừa tròn mười tuổi. Khi thắp nến trên chiếc bánh nhỏ mẹ tự tay làm, em bất ngờ thấy khóe mắt mẹ ánh lên niềm vui xen lẫn xúc động. Chiếc bánh tuy không hoàn hảo, lớp kem hơi nghiêng, nhưng trong mắt em nó là chiếc bánh đẹp nhất trên đời. Em cảm nhận rõ tình yêu thương bao la mà mẹ dành cho mình qua từng lát cắt ngọt ngào. Sự việc ấy khiến em nhận ra rằng: hạnh phúc không nằm ở vật chất mà ở tình cảm chân thành. Từ đó, em luôn cố gắng sống tốt, học giỏi để đáp lại công ơn và tình thương của mẹ. Đó là kỷ niệm mà em sẽ nhớ mãi trong cuộc đời.
Kg
Câu 1: Phở là một món ăn mang đậm hồn Việt, gợi cho em nhiều cảm xúc khó tả. Mỗi khi thưởng thức một bát phở nóng hổi, em cảm nhận được sự tinh túy của ẩm thực Việt Nam. Nước dùng ngọt thanh, sợi phở mềm mại, thịt bò tái chín vừa tới, tất cả hòa quyện tạo nên một hương vị đặc biệt. Phở không chỉ là món ăn sáng quen thuộc mà còn là kỷ niệm về những buổi sum họp gia đình, những chuyến đi khám phá ẩm thực đường phố. Với em, phở là một phần của tuổi thơ, là niềm tự hào về văn hóa ẩm thực Việt Nam."
Câu 2:Trong cuộc đời mỗi người, chắc hẳn ai cũng có một sự việc khiến mình nhớ mãi. Đối với em, đó là lần em mắc lỗi với mẹ và nhận ra tình yêu thương thầm lặng của mẹ dành cho mình. Hôm đó, vì mải chơi với bạn, em về nhà muộn mà không báo trước. Khi về đến nhà, thấy mẹ đứng chờ ngoài cửa với vẻ mặt lo lắng, em lại bực bội và nói lời khó nghe. Mẹ không trách mắng mà chỉ lặng lẽ quay vào nhà. Đến tối, khi thấy mẹ vẫn chuẩn bị cơm nước và hỏi han em như mọi ngày, em bỗng cảm thấy ân hận vô cùng. Em nhận ra rằng mẹ đã lo cho em rất nhiều, còn em thì vô tâm và ích kỉ. Em lặng lẽ xin lỗi mẹ, mẹ chỉ mỉm cười và xoa đầu em. Khoảnh khắc ấy khiến em xúc động và nhớ mãi. Sự việc đó đã dạy em biết yêu thương, trân trọng gia đình và suy nghĩ chín chắn hơn trong hành động của mình.
123456789190