K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam

       […] Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế − đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh... Nhìn từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, olm

 Ảnh: Cố đô Huế

       Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành − nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.

       […] Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Lăng vua đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam. Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...

       Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành lũy của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao − nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc − nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền − đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu − nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu − nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ võ; điện Hòn Chén − nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na... còn quá nhiều những thắng tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận... thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.  

       […] Với một di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới. Di sản Huế đang được bảo tồn rất tốt bởi những nỗ lực không mệt mỏi của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế, của Bộ Văn hóa Thông tin, mà trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ngày 11 tháng 12 năm 1993, cả nước hân hoan đón mừng Quần thể di tích Cố đô được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới; ngày 7 tháng 11 năm 2003 vừa qua, văn hóa Huế một lần nữa được đăng quang khi Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) đã được UNESCO ghi tên vào danh mục Các Kiệt tác Di sản phi vật thể của nhân loại. Hẳn không chỉ như vậy, với một công cuộc bảo tồn lớn lao theo những tiêu chuẩn cao nhất của Di sản Thế giới, kho tàng văn hóa Huế sẽ còn nở rộ những đóa hoa nghệ thuật khác nữa. “Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn” cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta.

(Theo thuathienhue.gov.vn)

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nào?

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Theo em, vì sao văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp? 

Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. 

Câu 5. Từ nội dung của văn bản, em có những suy nghĩ, cảm nhận gì về quần thể khu di tích Cố đô Huế?

23
13 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Cầu 3.

Văn bản

Quần thể di tích Cố đô Huế

di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
  • Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 4.

  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế.
  • Tác dụng

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn.

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế

Câu5



18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích

Cố đô Huế.

Câu 2


Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Câu 3

Văn bản

Quần thể di tích Cố đô Huế

di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt

Nam

vì:

được coi là một văn bản thông tin tổng hợp

- Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu

- Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ

Câu 4

- Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô

Huế.

- Tác dụng:

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế

21 tháng 12 2025


Câu 1:

–Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – hệ thống các công trình kiến trúc, di tích lịch sử – văn hóa gắn với triều Nguyễn, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

Câu 2:

–Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

•Thuyết minh: giới thiệu, cung cấp thông tin về vị trí, cấu trúc, đặc điểm kiến trúc của Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành, lăng tẩm, các công trình liên quan.

  • Miêu tả: khắc họa vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên, phong thái riêng của từng lăng vua.
  • Nghị luận (ở mức độ nhẹ): thể hiện ở phần đánh giá, khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử, ý nghĩa của di sản Huế đối với Việt Nam và thế giới.
  • Câu 3.

–Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:

•Cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, cảnh quan, bảo tồn di sản.

  • Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, đánh giá).
  • Có dữ kiện cụ thể, xác thực (mốc thời gian UNESCO công nhận, tên các công trình, cơ quan bảo tồn).
  • Phản ánh cả giá trị vật thể và phi vật thể của di sản Huế.
  • Câu 4:
  • Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là:
  • → Hình ảnh minh họa về Quần thể di tích Cố đô Huế (nếu có kèm theo văn bản).
  • Tác dụng:
  • Giúp người đọc hình dung trực quan vẻ đẹp, quy mô và sự hài hòa của di tích.
  • Tăng tính hấp dẫn, sinh động cho văn bản thông tin.
  • Góp phần nâng cao tính thuyết phục, làm nổi bật giá trị văn hóa – lịch sử của Cố đô Huế.
  • Câu 5:
  • Từ nội dung văn bản, em cảm nhận Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ là một hệ thống công trình kiến trúc cổ kính mà còn là biểu tượng tiêu biểu cho chiều sâu lịch sử, văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam. Mỗi thành quách, cung điện, lăng tẩm nơi đây đều phản ánh rõ nét tư duy thẩm mỹ, triết lý sống và quyền uy của triều Nguyễn, đồng thời cho thấy sự sáng tạo tài hoa của cha ông trong việc kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên. Đặc biệt, những lăng vua với phong cách khác nhau đã khắc họa sinh động tính cách, tâm hồn và số phận của từng vị vua, khiến di sản Huế không chỉ mang giá trị vật chất mà còn chứa đựng chiều sâu tinh thần.


Bên cạnh giá trị kiến trúc, Cố đô Huế còn là kho tàng văn hóa sống với những di sản phi vật thể đặc sắc như Nhã nhạc cung đình, lễ nghi, tín ngưỡng, góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn hóa dân tộc. Việc Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đã khẳng định vị thế của Huế trên bản đồ văn hóa nhân loại, đồng thời cho thấy trách nhiệm to lớn của các thế hệ hôm nay trong công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Qua văn bản, em càng thêm trân trọng, tự hào về Cố đô Huế và ý thức rõ hơn nghĩa vụ của bản thân trong việc gìn giữ, bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.




22 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 2. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả. Cầu 3. Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì: Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu. Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế. Tác dụng + Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn. + Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế

23 tháng 12 2025

Câu 1.
Giới thiệu Quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 2.
Thuyết minh, miêu tả, biểu cảm.

Câu 3.
Vì cung cấp thông tin toàn diện, đa chiều về Cố đô Huế.

Câu 4.
Hình ảnh – giúp văn bản sinh động, dễ hình dung.

Câu 5.
Cố đô Huế rất đẹp, giàu giá trị lịch sử – văn hóa, đáng tự hào và cần bảo tồn.


23 tháng 12 2025

Câu 1: Giới thiệu về Quần thể di tích cố đô Huế ㅤㅤㅤㅤㅤ. Câu 2: phương thức biểu đạt là Thuyết minh, biểu cảm, tự sự ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤCâu 3: Vì văn bản cung cấp thông về Quần thể di tích Cố. đô Huế ngôn ngữ rõ ràng dễ tưởng tượng.ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤcâu 4: làm sinh động , gợi cảm, hấp dẫn.ㅤㅤㅤㅤㅤㅤ Cho người dọc dễ hiểu dễ tưởng tượng, để lại ấn tượng co đọng cho người đọc, hình dung như trực tiếp đi tham quan ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤCâu 5: Quần thể di tích Cố Đô không chỉ là sự đánh dấu của mốc trong lịch sử mà còn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Cô Đô Huế không chỉ có thiết kế tinh xảo ,tráng lệ đó có là sự hòa quyệt với thiên nhiên , nghệ thuật, và tư duy cha ông thế hiện được nét văn hóa , tâm hồn của con người Việt Nam . Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới càng khẳng định Cô Đô không chỉ là cái cốt của người Việt mà còn có sự thu hút với bạn bè quốc tế.Thế nên chúng ta cần giữ gìn, và phát huy những giá trị ấy để Cô Đô Huế mãi là niềm tự hào của người Việt

23 tháng 12 2025

Câu 1

Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam, bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm và các công trình kiến trúc gắn liền với triều Nguyễn.

Câu 2

Văn bản sử dụng linh hoạt nhiều phương thức biểu đạt khác nhau. Trước hết là phương thức thuyết minh, được thể hiện rõ qua việc giới thiệu vị trí địa lí, cấu trúc kiến trúc cũng như giá trị lịch sử – văn hóa của quần thể di tích Cố đô Huế một cách cụ thể, chính xác. Bên cạnh đó, phương thức miêu tả cũng được vận dụng nhằm khắc họa vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc cung đình với cảnh quan thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật phong thái, tính cách riêng của từng lăng vua triều Nguyễn. Ngoài ra, văn bản còn kết hợp phương thức biểu cảm, qua đó bộc lộ niềm tự hào, sự trân trọng và ý thức gìn giữ đối với một di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Câu 3

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:

Cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, giá trị vật thể và phi vật thể.

Thông tin được trình bày khách quan, chính xác, có dẫn chứng cụ thể (mốc thời gian UNESCO công nhận, tên các công trình tiêu biểu).

Kết hợp chữ viết với hình ảnh minh họa, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về di sản.

Câu 4

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh “Ảnh: Cố đô Huế”. Hình ảnh này có vai trò minh họa trực quan cho nội dung thuyết minh bằng chữ, giúp người đọc không chỉ tiếp nhận thông tin bằng ngôn ngữ mà còn bằng thị giác.

Bên cạnh đó, hình ảnh góp phần giúp người đọc dễ dàng hình dung vẻ đẹp tổng thể, quy mô và giá trị kiến trúc cảnh quan của quần thể di tích Cố đô Huế, từ đó làm rõ hơn những nội dung mà văn bản trình bày.

Đồng thời, việc sử dụng hình ảnh còn tăng sức hấp dẫn, tính sinh động và thuyết phục cho văn bản thông tin, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn giá trị văn hóa lịch sử của di sản, qua đó khơi gợi niềm tự hào và ý thức trân trọng, gìn giữ di sản dân tộc.

Câu 5

Từ nội dung văn bản, em cảm nhận quần thể di tích Cố đô Huế là một di sản văn hóa vô cùng quý giá, kết tinh trí tuệ, tài năng và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Huế không chỉ đẹp bởi kiến trúc cung đình, lăng tẩm đặc sắc mà còn bởi sự hài hòa tuyệt vời với thiên nhiên. Việc được UNESCO công nhận càng khẳng định giá trị to lớn của di sản này đối với Việt Nam và thế giới. Điều đó gợi cho em niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

23 tháng 12 2025

Câu1: Văn bản trên giới thiệu về Cố Đô Huế

23 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế, đặc biệt là âm nhạc cung đình Huế (Nhã nhạc triều Nguyễn) – một di sản văn hóa thế giới.




Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:


  • Thuyết minh (giới thiệu, cung cấp thông tin về Nhã nhạc Huế, giá trị di sản).
  • Nghị luận (bày tỏ niềm tự hào, khẳng định giá trị và vai trò của di sản).





Câu 3.

Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:


  • Cung cấp nhiều thông tin khách quan về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Cố đô Huế.
  • Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, nghị luận).
  • Giúp người đọc hiểu toàn diện về giá trị của di sản.





Câu 4.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng là:


  • Hình ảnh minh họa, cách trình bày văn bản.



Tác dụng:


  • Làm nội dung sinh động, trực quan.
  • Giúp người đọc dễ hình dung, dễ tiếp nhận thông tin.
  • Tăng sức thuyết phục cho văn bản.





Câu 5.

Từ nội dung văn bản, em cảm thấy tự hào về quần thể di tích Cố đô Huế – một di sản văn hóa có giá trị to lớn của dân tộc. Em nhận thức được trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa để góp phần giữ gìn bản sắc Việt Nam.


23 tháng 12 2025

Câu 1: giới thiệu về quần thể cố đô huế

23 tháng 12 2025

Quần thể di tích Cố Đô Huế

23 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – một di tích lịch sử, văn hóa và di sản văn hóa thế giới của Việt Nam.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

  • Thuyết minh: giới thiệu, cung cấp thông tin về giá trị di sản, việc được UNESCO ghi danh, công tác bảo tồn.
  • Nghị luận (nhẹ): thể hiện sự khẳng định, đánh giá và niềm tự hào về giá trị của Cố đô Huế (“Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn…”).

Câu 3.

Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, văn hóa, giá trị nghệ thuật, vai trò quốc tế (UNESCO).
  • Kết hợp thông tin khách quan với đánh giá, nhận định.
  • Giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về Cố đô Huế.

Câu 4.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là:

  • Nguồn trích dẫn: (Theo thuathienhue.gov.vn)

👉 Tác dụng:

  • Tăng độ tin cậy và tính xác thực của thông tin.
  • Thể hiện văn bản có căn cứ rõ ràng, không mang tính chủ quan.

Câu 5.

Từ nội dung văn bản, em có thể cảm nhận rằng:

  • Quần thể di tích Cố đô Huế là di sản vô cùng quý giá, mang đậm bản sắc lịch sử và văn hóa dân tộc.
  • Việc được UNESCO công nhận thể hiện giá trị nổi bật toàn cầu của Huế.
  • Em cảm thấy tự hào, đồng thời ý thức hơn về trách nhiệm bảo tồn và gìn giữ di sản cho các thế hệ mai sau.



23 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế, đặc biệt là Âm nhạc cung đình Huế (Nhã nhạc triều Nguyễn) – một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại được UNESCO ghi danh. Câu 2. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh: giới thiệu thông tin về Nhã nhạc cung đình Huế, việc được UNESCO công nhận, công tác bảo tồn di sản. Biểu cảm: thể hiện niềm tự hào, trân trọng đối với di sản văn hóa Huế và dân tộc Việt Nam. Câu 3. Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì: Cung cấp nhiều thông tin về lịch sử, giá trị văn hóa, nghệ thuật và ý nghĩa của di sản. Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, biểu cảm). Có dẫn nguồn rõ ràng, thông tin chính xác, khách quan. Giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về di sản Cố đô Huế. Câu 4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng: Dấu ngoặc kép trong câu: “Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn”. Tác dụng: Nhấn mạnh thông điệp về trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa. Tạo ấn tượng mạnh, thể hiện niềm tin và niềm tự hào đối với Cố đô Huế. Làm tăng tính biểu cảm và sức thuyết phục cho văn bản. Câu 5. Suy nghĩ, cảm nhận của em về Quần thể di tích Cố đô Huế: Cố đô Huế là di sản văn hóa có giá trị to lớn về lịch sử, nghệ thuật và tinh thần dân tộc. Việc được UNESCO công nhận khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Em cảm thấy tự hào và có ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo vệ các di sản văn hóa của đất nước.

24 tháng 12 2025

Câu 1

-Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – một quần thể di tích lịch sử, văn hóa gắn với triều Nguyễn và đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Câu 2

-Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

-Thuyết minh: giới thiệu, cung cấp thông tin về lịch sử, giá trị, quy mô của Quần thể di tích Cố đô Huế.

+Miêu tả: làm nổi bật vẻ đẹp kiến trúc, cảnh quan, không gian văn hóa của di tích.

+Nghị luận (ở mức độ nhẹ): thể hiện sự đánh giá, khẳng định giá trị lịch sử – văn hóa đặc biệt của quần thể di tích.

Câu 3:

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì văn bản kết hợp nhiều loại thông tin khác nhau như: lịch sử hình thành, giá trị văn hóa – nghệ thuật, ý nghĩa trong nước và quốc tế, cùng với số liệu, hình ảnh minh họa. Các thông tin được trình bày khách quan, rõ ràng, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về đối tượng được giới thiệu.

Câu 4:

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh minh hoạ (ảnh chụp các công trình, cảnh quan của Cố đô Huế)

—-> Tác dụng :giúp người đọc hình dung trực quan về di tích, tăng tính sinh động, hấp dẫn, làm cho thông tin thuyết minh trở nên dễ hiểu và thuyết phục hơn.

Câu 5:

Từ nội dung văn bản, em cảm nhận được Quần thể di tích Cố đô Huế là một di sản có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và kiến trúc của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân Huế mà còn của cả đất nước. Văn bản giúp em thêm trân trọng quá khứ, nâng cao ý thức bảo vệ, gìn giữ và phát huy các di sản văn hóa cho thế hệ mai sau

25 tháng 12 2025

Câu 1:

Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 2:

Phương thức biểu đạt được sử dụng là :Thuyết minh, miêu tả, biểu cảm.

Câu 3:

Văn bản được coi là thông tin tổng hợp vì nó kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, biểu cảm) và có thể sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (như hình ảnh, sơ đồ - mặc dù không thấy trong đoạn trích) để cung cấp thông tin đa chiều về Quần thể di tích Cố đô Huế.


Câu 4

Trong đoạn văn bản được trích dẫn, không thấy rõ phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nào ngoài chính văn bản. Tuy nhiên, trong văn bản gốc đầy đủ, nếu có hình ảnh, bản đồ hoặc sơ đồ, chúng sẽ giúp người đọc dễ hình dung, hiểu rõ hơn về vị trí, quy mô và kiến trúc của khu di tích.


Câu 5

Từ nội dung văn bản, em cảm nhận quần thể khu di tích Cố đô Huế là một không gian văn hóa – lịch sử vô cùng đặc biệt và quý giá của dân tộc. Nơi đây không chỉ ghi dấu một thời kỳ vàng son của triều Nguyễn mà còn thể hiện rõ tài năng, óc sáng tạo và trình độ thẩm mĩ cao của cha ông ta qua kiến trúc, quy hoạch và sự hài hòa với thiên nhiên. Cố đô Huế mang vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính, vừa uy nghiêm vừa thơ mộng, gợi cho em niềm tự hào sâu sắc về truyền thống lịch sử lâu đời của đất nước. Đồng thời, văn bản cũng giúp em nhận thức rõ hơn trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc trân trọng, gìn giữ và bảo vệ di sản văn hóa để những giá trị ấy được lưu truyền bền vững cho mai sau.


25 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Câu 3.

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
  • Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 4.

  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế.
  • Tác dụng:

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn.

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế

Câu 5 Sau khi đọc văn bản, em cảm thấy vô cùng tự hào và ngưỡng mộ trước vẻ đẹp tráng lệ, cổ kính của Cố đô Huế. Đây không chỉ là một quần thể kiến trúc tinh xảo mà còn là minh chứng cho trí tuệ và tài năng của cha ông ta. Em nhận thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ và quảng bá di sản vô giá này để vẻ đẹp ấy mãi trường tồn với thời gian."


26 tháng 12 2025

ngày xưa ấy nghĩ rằng tay trong tay

26 tháng 12 2025

Câu 1 : văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích cố đô huế

Câu 2 : ptbd thuyết minh , miêu tả

Câu 3 : văn bản quần thể di tích Cố đô Hue - di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin cho người đọc về quần thể di tích cố đô huế

26 tháng 12 2025

câu 1 cố đô huế

31 tháng 12 2025


Câu 1.



Văn bản trên giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam (bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử cấm thành, lăng tẩm các vua Nguyễn và các công trình kiến trúc liên quan).





Câu 2.



Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:


  • Thuyết minh (giới thiệu vị trí, quy mô, cấu trúc, giá trị của quần thể di tích).
  • Miêu tả (khắc họa vẻ đẹp kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên, không gian hài hòa).
  • Biểu cảm (bộc lộ sự trân trọng, ngợi ca giá trị văn hóa – lịch sử của Cố đô Huế).






Câu 3.



Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:


  • Cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, quân sự.
  • Giới thiệu toàn diện các khu vực: Kinh thành, lăng tẩm, đền đài, cảnh quan thiên nhiên.
  • Kết hợp chữ viết với hình ảnh minh họa, giúp người đọc hiểu rõ và đầy đủ hơn về đối tượng được giới thiệu.






Câu 4.



  • Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: hình ảnh Cố đô Huế.
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc hình dung trực quan vẻ đẹp của di tích.
    • Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản.
    • Góp phần làm rõ và minh chứng cho nội dung thuyết minh bằng ngôn ngữ.






Câu 5.



Từ nội dung văn bản, em cảm nhận Quần thể di tích Cố đô Huế là một không gian văn hóa – lịch sử đặc sắc, nơi hội tụ tinh hoa kiến trúc Đông – Tây và sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Đây không chỉ là niềm tự hào của Huế mà còn là tài sản quý giá của dân tộc Việt Nam, cần được gìn giữ và bảo tồn cho các thế hệ mai sau.


31 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế.


Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.


Câu 3 :

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì: Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.


Câu 4.

Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế.

Tác dụng: + Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn. + Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế.

31 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – một di sản văn hóa thế giới, bao gồm hệ thống kinh thành, hoàng thành, lăng tẩm, đền đài và các công trình kiến trúc gắn với triều Nguyễn.




Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:


  • Thuyết minh (giới thiệu, cung cấp thông tin về vị trí, kiến trúc, giá trị của Cố đô Huế).
  • Miêu tả (miêu tả cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc, vẻ đẹp hài hòa của di tích).
  • Biểu cảm (thể hiện niềm tự hào, trân trọng đối với di sản văn hóa Huế).





Câu 3.

Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:


  • Văn bản cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, giá trị vật thể và phi vật thể của Cố đô Huế.
  • Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, biểu cảm).
  • Thông tin được trình bày toàn diện, có dẫn chứng cụ thể, có mốc thời gian (UNESCO công nhận), giúp người đọc hiểu sâu và đầy đủ về đối tượng.





Câu 4.


  • Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: hình ảnh “Ảnh: Cố đô Huế”.
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc hình dung trực quan vẻ đẹp của Cố đô Huế.
    • Làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn hơn, tăng tính thuyết phục.
    • Góp phần nhấn mạnh giá trị thẩm mỹ và văn hóa của di sản.





Câu 5.

Từ nội dung văn bản, em cảm nhận Quần thể di tích Cố đô Huế là một di sản văn hóa vô cùng đặc sắc và quý giá, kết tinh tinh hoa lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Các công trình vừa mang vẻ uy nghi, cổ kính, vừa hài hòa với thiên nhiên, thể hiện trí tuệ và thẩm mỹ của cha ông. Em cảm thấy tự hào về di sản này và ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của Cố đô Huế cho mai sau.


Câu 1:

Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố Đô Huế (bao gồm hệ thống kinh thành, cung điện, lăng tẩm và các thắng cảnh thiên nhiên đi kèm).

Câu 2:

Các phương thức biểu đạt là thuyết minh (chủ đạo), kết hợp với pt miêu tả biểu cảm

Câu 3:

Vì văn bản kết hợp nhiều nguồn và loại hình thông tin:

Nội dung: Tổng hợp kiến thức lịch sử, địa lý, kiến trúc và văn hóa.

Hình thức: Sử dụng đa phương thức (kết hợp giữa kênh chữkênh hình - hình ảnh minh họa).

Câu 4:

-Hình ảnh chụp công trình Cố đô Huế.

-Tác dụng: Minh họa trực quan, giúp người đọc dễ hình dung vẻ đẹp thực tế của di tích.

+Tăng tính xác thực, sinh động và sức hấp dẫn cho văn bản thông tin.

Câu 5:

Qua văn bản, em cảm thấy vô cùng tự hào và ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của Quần thể di tích Cố đô Huế. Đó không chỉ là một công trình kiến trúc đồ sộ, minh chứng cho sự tài hoa, trí tuệ của cha ông trong việc kết hợp hài hòa giữa bàn tay con người và cảnh quan thiên nhiên, mà còn là linh hồn, là dòng chảy lịch sử sống động của dân tộc. Đứng trước một di sản văn hóa thế giới, em nhận thức sâu sắc được giá trị của cội nguồn và lòng tự trọng quốc gia. Từ đó, em tự nhủ bản thân cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo tồn những giá trị cổ kính này và tích cực quảng bá hình ảnh đất nước đến với bạn bè quốc tế, để Huế mãi là niềm tự hào của muôn đời sau.

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0

 

Góc nhìn

Đặc điểm

Vẻ đẹp

Địa lí

Sông Hương ở thượng nguồn

Mang vẻ đẹp hùng vĩ và rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn. Sông Hương lúc mãnh liệt qua những ghềnh thác, lúc trở nên dịu dàng giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. 

Sông Hương vùng thượng nguồn mang vẻ đẹp mãnh liệt, hoang dại và bí ẩn nhưng cũng có lúc dịu dàng và say đắm.

Sông Hương trước khi chảy qua thành phố Huế

Sông Hương vẫn còn dư vang của Trường Sơn với sắc nước xanh thẳm, mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi.

Sông Hương mang vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình.

Sông Hương giữa lòng thành phố Huế

chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu nhà hát.

Sông Hương mang vẻ đẹp tình tứ, duyên dáng, vui tươi.

Sông Hương trước khi từ biệt thành phố Huế

Đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.

Vẫn mang trong mình vẻ đẹp duyên dáng, dịu dàng.

Lịch sử

 

Là chứng nhân lịch sử, chứng kiến mọi biến cố của Huế.

Thơ ca

 

Sông Hương là cái nôi của âm nhạc Huế.

28 tháng 8 2023

Nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông là một câu hỏi, đây là một nét độc đáo rất riêng của nhà văn, nhằm hướng người đọc biết về nội dung tác phẩm đó là “đi tìm nguồn gỗ của dòng sông Hương”. Qua đó nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của dòng sông Hương, thể hiện lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy. Vậy dưới đây là 8 bài văn về ý nghĩa nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông, mời các bạn cùng đón đọc. Ngoài ra các bạn xem thêm bài văn mẫu: mở bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, Phân tích vẻ đẹp của dòng sông Hương khi ở thượng nguồn

I. Đọc hiểu (3 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu.      Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu.

     Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.

     Hiện Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á. Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.

     Mặt trái của Cách mạng công nghiệp 4.0 là có thể gây ra sự bất bình đẳng. Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải.

      Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ. Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ luỵ khôn lường. Cách mạng công nghiệp lần 4 mang đến cơ hội, và cũng đầy thách thức với nhân loại. 

(Theo news.zing.vn 29/05/2017)

Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)

Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)

Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)

32
18 tháng 5 2021

Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)

              Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)

.-  Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.

-  Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.

- Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.

Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân.

             Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước

 

Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)

Cần học tập  nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.

Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.

Các  kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.

Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.

18 tháng 5 2021
Câu 1.     Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC Câu 2.  -  Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. -  Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. - Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano. Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân. - Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước Câu 3. Cần học tập  nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ. Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời. Các  kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm. Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.
Đọc đoạn văn bản:           A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799-1837) – “Mặt trời của thi ca Nga”, là niềm vinh quang kiêu hãnh của nhân dân Nga, hiện thân đầy đủ nhất của sức mạnh tinh thần dân tộc Nga. Thiên tài sáng tạo của ông đã khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIX và đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn bản:

          A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799-1837) – “Mặt trời của thi ca Nga”, là niềm vinh quang kiêu hãnh của nhân dân Nga, hiện thân đầy đủ nhất của sức mạnh tinh thần dân tộc Nga. Thiên tài sáng tạo của ông đã khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIX và đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.

          Tài năng văn học của Puskin thể hiện trên nhiều thể loại. Ngoài hơn tám trăm bài thơ trữ tình, ông còn viết tiểu thuyết bằng thơ Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin một kiệt tác của văn học thế giới, nhiều trường ca thơ tầm cỡ (Ru-xlan và Li-út-mi-la, Người tù Cáp-ca-dơ…). Truyện ngắn của ông cũng rất xuất sắc (Con đầm pích, Cô tiểu thư nông dân…). Tác phẩm Con gái viên đại úy là một tiểu thuyết lịch sử mẫu mực. Đồng thời, Puskin còn viết nhiều vở kịch nổi tiếng.

          Puskin trước hết là nhà thơ. Thơ Puskin khơi nguồn cảm hứng từ hiện thực đời sống Nga, con người Nga đường thời với muôn vàn vẻ phong phú, đa dạng của nó. Ngòi bút của ông rất tinh tế khi viết về thiên nhiên, đằm thắm khi viết về nhũ mẫu (1), trong sáng khi viết về tình bạn và hết sức chân thành, cao thượng khi viết về tình yêu. Tôi yêu em (1829) là một trong những bài thơ tình hay nhất của Puskin, được ví như “viên ngọc vô giá trong kho tàng thi ca Nga”.

(Theo Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.165-166)

(1) Nhũ mẫu: người ở nuôi con chủ nhà bằng sữa của mình, còn gọi là vú nuôi.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin.

Câu 3. Đọc đoạn văn bản, anh/chị hiểu “Mặt trời của thi ca Nga” nghĩa là gì?

Câu 4. Thơ Puskin cùng bài thơ Tôi yêu em gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về cách ứng xử trong tình yêu?

106
17 tháng 5 2021

Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.

Câu 2:

-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...

Câu 3:

        Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.

         Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.

          Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.

Câu 4:

         "Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu  cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.

 
 
              
 

         

 

 

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:           Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý nghĩa. Không có ai luôn thành công...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

          Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý nghĩa. Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh hay dại khờ, tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston Churchill, từng nói: “Người bị quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn”. Sẽ có những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại một cách tích cực.

(Trích Thành công và thất bại, internet)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Theo tác giả, thất bại sẽ giúp con người nhận thức được những điều gì?

Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về lời khuyên “Hãy thất bại một cách tích cực.”

Câu 4: Điều anh/chị tâm đắc nhất qua đoạn trích là gì?

1

Câu 1 :Phương thức biểu đtạ chính là:Nghị luận

Câu 2:Theo tác giả:Thất bại giúp con người ta đúc kết kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và giúp thành công đạt thêm phần ý nghĩa.

Câu 3:Em hiểu câu"Hẫy thất bại một cách tích cực" là:Nếu ta thất bại một lần thì chúng ta có thể nhận được một số bài học và kinh nghiệm nhưng nếu ta thất bại nhiều thì bài học và kinh nghiệm đó sẽ nhân lên,nhân lên rất nhiều.Từ đó,ta có thể thành công với số bài học và kinh nghiệm đó.

Câu 4:Điều em tâm đắc nhất trong đoạn trích chính là:em đã có thêm những phần kiến thức bổ ích,tốt đẹp,nó sẽ giúp em vươn lên towisthanhf công từ những thất bại của mình!

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau,...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau, cuộc đời ông là bài học lớn về nghị lực sống, sống để cống hiến cho đời. Bị mù đôi mắt, nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chịu đầu hàng số phận, vẫn sống và làm nhiều việc có ích: dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn. Là một thầy giáo, ông đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, được nhiều thế hệ học trò kính yêu. Là thầy thuốc, ông xem trọng y đức, lấy việc cứu người làm trọng. Là một nhà thơ, cụ Đồ Chiểu quan tâm đến việc dùng văn chương để hướng con người đến cái thiện, đến một lối sống cao đẹp, đúng đạo lí làm người. Khi quê hương bị thực dân Pháp xâm lược. Đồ Chiểu dùng thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân. (3) Nguyễn Đình Chiểu còn là tấm gương sáng ngời lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu cao lập trường kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc chống giặc và sáng tác thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ. Khu triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, bất lực đến phải dâng cả Nam Kì lục tỉnh cho giặc Pháp, Đồ Chiểu đã nêu cao khí tiết, giữ gìn lối sống trong sạch, cao cả, từ chối mọi cám dỗ của thực dân, không chịu hợp tác với kẻ thù. Câu 1: Văn bản trên có mấy ý chính? Đó là những ý nào? Câu 2: Tìm câu chủ đề trong đoạn văn (2),(3) Câu 3: Xác định thao tác lập luận trong đoạn văn (2),(3

2
4 tháng 12 2021

giJovhilhvgiyppuiviuipguugu

4 tháng 12 2021

kbufqsj kDn,  sd! J qsfoi j ckjb

erVhchvulwdyilgcqre

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: LƯƠNG THẾ VINH (1442-?) Nhà thơ, nhà toán học Lương Thế Vinh tự Cảnh Nghi, hiệu  Thụy Hiên, dân gian thường gọi là Trạng Lường, quê gốc ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay thuộc huyện Vụ Bản), tỉnh Nam Định. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng, thông minh, hoạt bát và nhanh trí. Chưa đầy 20 tuổi, tiếng tăm và tài học...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

LƯƠNG THẾ VINH

(1442-?)

Nhà thơ, nhà toán học Lương Thế Vinh tự Cảnh Nghi, hiệu  Thụy Hiên, dân gian thường gọi là Trạng Lường, quê gốc ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay thuộc huyện Vụ Bản), tỉnh Nam Định.

Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng, thông minh, hoạt bát và nhanh trí. Chưa đầy 20 tuổi, tiếng tăm và tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 21 tuổi (1463), Lương Thế Vinh thi đỗ Trạng Nguyên. Ông có tài ngoại giao nên được vua giao soạn thảo các văn từ bang giao và đón tiếp sứ thần nước ngoài. Ông đã biên soạn cuốn “Đại thành toán pháp” để dùng trong nhà trường. Đó là cuốn sách giáo khoa về toán đầu tiên ở nước ta.

Về văn chương nghệ thuật, ông cũng có nhiều đóng góp. Ông được vua phong chức Sái phu trong Hội Tao đàn, chuyên phê bình, sửa chữa, nhuận sắc thơ trong hội. Cuốn Hí phường phả lục của ông được Quách Hữu Nghiên đánh giá là “một tác phẩm lí luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền”.

Khác với các sĩ phu đương thời, ông tỏ ra là một người có thực học, không thích văn chương phù phiếm, luôn nghĩ đến việc mở mang dân trí, phát triển kinh tế, dạy dân dùng thuốc nam, thuốc bắc để chữa bệnh. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã đánh giá ông là người có tài kinh bang tế thế, con người “tài hoa, danh vọng vượt bậc”.

a/ Kể lại vắn tắt cuộc đời và sự nghiệp của nhà bác học Lương Thế Vinh.

b/ Phân tích tính cụ thể, chính xác, chân thực và tiêu biểu của các tài liệu được lựa chọn.

c/ Để chuẩn bị cho viết bài tiểu sử tóm tắt, cần sưu tầm những tài liệu gì? Các tài liệu đó phải đáp ứng những yêu câu nào?

0
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: HÃY LÀ NGƯỜI VÔ LÝ           Một trong những câu nói tôi thích nhất của George Bernard Shaw là: “Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân. Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc vào người vô lý.” Hãy suy nghĩ về ý tưởng này trong chốc lát. Đó là một ý tưởng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

HÃY LÀ NGƯỜI VÔ LÝ

          Một trong những câu nói tôi thích nhất của George Bernard Shaw là: “Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân. Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc vào người vô lý.” Hãy suy nghĩ về ý tưởng này trong chốc lát. Đó là một ý tưởng lớn.

          Tất nhiên, bạn cần thực tế và ứng xử khôn khéo khi làm việc trong môi trường của mình. Tôi đồng ý rằng việc áp dụng các quan niệm phổ biến với người khác cũng quan trọng. Những rủi ro ngu ngốc có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Nhưng như đã nói, đừng nên sợ hãi trước thất bại hay thất vọng để rồi không dám ước mơ.

          Đừng lúc nào cũng tỏ ra có lý và thực dụng, quá nhạy cảm đến nỗi bạn từ chối không chộp lấy cơ hội ngàn vàng khi nó đến. Hãy đẩy xa giới hạn của những gì bạn nghĩ mình có thể thực hiện. Đừng quên rằng những kẻ chỉ trích luôn cười nhạo tầm nhìn của nhiều nhà tư tưởng can trường, nhiều nhà khai phá nổi tiếng. Đừng để ý đến những lời chỉ trích. Luôn ghi nhớ rằng những tiến bộ vượt bậc mà con người đạt tới đều nhờ nỗ lực can trường của một người nào đó từng bị chỉ trích rằng ý tưởng của họ là viễn vông, không thể trở thành hiện thực. Thế giới cần nhiều người biết ước mơ. Cần người vô lý biết đấu tranh chống lại những gì thông thường. Cần người chống lại sự cám dỗ của tính tự mãn và dám hành động theo cách họ vẫn luôn thực hiện. Bạn có thể là một trong những người ấy. Từ ngày hôm nay.

(Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma,

NXB Trẻ, 2014, Tr. 29)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau chỗ nào?

Câu 3. Dựa vào đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là người vô lí?

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “thế giới cần nhiều người biết ước mơ” không? Vì sao?

7
15 tháng 5 2021

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.

Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:

“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”

Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.

Câu 3.  Dựa vào đoạn trích, người vô lí  được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…

Câu 4.

- Đồng tình vì:

+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.

+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…

15 tháng 5 2021

c1; nghị luận

c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân

c3?

c4?

[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]

k cho e ạ , mong chị thông cảm

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:Mất hàng triệu năm mới định hình những nếp nhăn ngôn ngữ trong não bộ, khó khăn lắm con người mới có tiếng nói. Không có tiếng nước bạn dở, tiếng nước tôi hay. Không có tiếng làng tôi nhẹ nhàng, làng bạn nặng trịch. Ý thức kì thị đó có thể lưu giữ được "bản sắc" văn hóa làng xã nhưng nghèo tính tiến hóa biết bao. Tiếng nói của...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Mất hàng triệu năm mới định hình những nếp nhăn ngôn ngữ trong não bộ, khó khăn lắm con người mới có tiếng nói. Không có tiếng nước bạn dở, tiếng nước tôi hay. Không có tiếng làng tôi nhẹ nhàng, làng bạn nặng trịch. Ý thức kì thị đó có thể lưu giữ được "bản sắc" văn hóa làng xã nhưng nghèo tính tiến hóa biết bao. Tiếng nói của nước nào cũng đáng kính trọng, bởi tiếng nói suy cho cùng là di sản từ tổ tiên loài người sinh học có chung một nguồn cội, chung một cây tiến hóa. Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai. Người ta thường dùng di sản vào những mục đích tốt đẹp. Tiếng nói cũng vậy. Xin em đừng lộng ngữ tà ngôn. Biết dành những lời yêu thương cho cha mẹ. Dành những lời tốt đẹp, trung thực cho bạn bè. Tuổi hoa chỉ nói những lời "hoa cười, ngọc thốt đoan trang".

Và muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất. Bởi mất đi sự chân thực, mất đi trách nhiệm trong lời nói, con người sẽ tuột dốc lỗi lầm.

(Trích Lắng nghe lời thì thầm của trái tim, Nhiều tác giả, NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. HCM, 2015, tr.33)

Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến cho rằng tiếng nói là: "Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai."?

1
11 tháng 4 2017

Tiếng nói là Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai:

Tiếng nói là tài sản văn hóa tinh thần thế hệ cha ông trong quá khứ đã tạo dựng và để lại.

Tiếng nói nằm trong kí ức: Tiếng nói đã được bao thế hệ trong quá khứ sử dụng.

Nối dài trong hiện tại: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói tức là thừa hưởng, phát huy và sáng tạo di sản của cha ông.

Bắc cầu đến tương lai: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói còn là cách để gìn giữ, lưu truyền cho con cháu mai sau.