Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.
Câu 1 :Phương thức biểu đtạ chính là:Nghị luận
Câu 2:Theo tác giả:Thất bại giúp con người ta đúc kết kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và giúp thành công đạt thêm phần ý nghĩa.
Câu 3:Em hiểu câu"Hẫy thất bại một cách tích cực" là:Nếu ta thất bại một lần thì chúng ta có thể nhận được một số bài học và kinh nghiệm nhưng nếu ta thất bại nhiều thì bài học và kinh nghiệm đó sẽ nhân lên,nhân lên rất nhiều.Từ đó,ta có thể thành công với số bài học và kinh nghiệm đó.
Câu 4:Điều em tâm đắc nhất trong đoạn trích chính là:em đã có thêm những phần kiến thức bổ ích,tốt đẹp,nó sẽ giúp em vươn lên towisthanhf công từ những thất bại của mình!
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)
Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)
.- Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.
- Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.
- Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.
Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân.
Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước
Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)
Cần học tập nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.
Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.
Các kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.
Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
câu 1
Nhân vật bé Em trong truyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư là một hình ảnh tiêu biểu cho sự ngây thơ, trong sáng nhưng cũng đầy sâu sắc và tình cảm. Bé Em, một cô bé khoảng 10 tuổi, sống cùng bà trong một ngôi nhà nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ. Dù hoàn cảnh khó khăn, bé Em luôn giữ trong mình niềm vui và hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chiếc áo Tết mới không chỉ là một món quà vật chất mà còn là biểu tượng của những ước mơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa của em. Bé Em rất yêu quý chiếc áo này, không chỉ vì nó đẹp mà còn vì đó là món quà duy nhất mà bà có thể tặng.
Tính cách của bé Em được thể hiện qua sự nhạy cảm và tinh tế trong cách em đối xử với mọi người xung quanh. Em luôn quan tâm, chăm sóc bà, hiểu được nỗi khổ của bà và không phàn nàn về hoàn cảnh khó khăn. Tình bạn chân thành của bé Em với Bích cũng là một điểm sáng trong truyện. Dù hoàn cảnh gia đình khác nhau, bé Em luôn quan tâm và chia sẻ với bạn, không khoe khoang về những bộ đồ mới của mình khi biết Bích chỉ có một bộ đồ mới cho Tết.
Những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa của bé Em thể hiện sự cảm thông sâu sắc và lòng yêu thương vô bờ bến. Em luôn cố gắng làm cho bạn cảm thấy vui vẻ và không bị tự ti về hoàn cảnh của mình. Qua nhân vật bé Em, Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình, sự hy sinh và lòng yêu thương, đồng thời khắc họa một hình ảnh tuổi thơ trong sáng nhưng cũng đầy nghị lực và hy vọng.
câu 2
Từ truyện ngắn "Áo Tết", chúng ta học được rằng tình bạn và sự đồng cảm còn quý hơn vật chất. Nhân vật bé Em đã cho thấy sự trưởng thành khi nhận ra giá trị tinh thần này, nhắc nhở mỗi người cần biết cân bằng giữa nhu cầu vật chất và giá trị tinh thần, đặt tình cảm, sự sẻ chia lên trên vật chất phù phiếm. Để xây dựng lối sống hài hòa, ta cần rèn luyện lòng nhân ái, thực hành sẻ chia từ việc nhỏ, tham gia các hoạt động cộng đồng và xây dựng môi trường giáo dục đề cao giá trị tinh thần.Câu 1.
Nhân vật “em” trong văn bản Áo Tết hiện lên là một cô bé hồn nhiên, giàu cảm xúc và có sự trưởng thành trong nhận thức. Ban đầu, “em” mang tâm lí rất tự nhiên của tuổi thơ: háo hức, mong chờ chiếc áo Tết mới như một niềm vui vật chất cụ thể, gắn với ước mơ được bằng bạn bằng bè. Khi không có được chiếc áo như mong muốn, “em” buồn tủi, chạnh lòng, thậm chí có phần tủi thân trước bạn bè. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh ấy, “em” đã có sự chuyển biến quan trọng trong suy nghĩ. Qua tình bạn chân thành, sự quan tâm và chia sẻ mộc mạc của bạn bè, “em” nhận ra rằng niềm vui tinh thần, sự yêu thương và gắn bó mới là điều đáng trân trọng. Nhân vật “em” vì thế không chỉ đáng yêu mà còn đáng quý ở khả năng tự nhận thức và lớn lên trong tâm hồn. Hình ảnh “em” góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn của tác phẩm: giá trị tinh thần bền vững hơn những niềm vui vật chất nhất thời.
Câu 2.
Trong văn bản Áo Tết, nhân vật “em” đã nhận ra rằng tình bạn chân thành quý giá hơn chiếc áo đầm mới. Câu chuyện giản dị ấy gợi ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống hiện đại: làm thế nào để xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Không thể phủ nhận vai trò của vật chất trong cuộc sống. Vật chất đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, học tập, giúp con người sống thuận tiện và an toàn hơn. Đối với tuổi trẻ, những mong muốn về trang phục đẹp, đồ dùng mới hay tiện nghi hiện đại là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, khi con người quá đề cao vật chất, dễ rơi vào lối sống chạy theo hình thức, so sánh hơn thua, từ đó đánh mất niềm vui giản dị và các mối quan hệ chân thành.
Giá trị tinh thần, ngược lại, là nền tảng bền vững nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là tình bạn, tình thân, lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm giác được yêu thương. Những giá trị này không thể đo đếm bằng tiền bạc nhưng lại quyết định hạnh phúc lâu dài của mỗi người. Câu chuyện trong Áo Tết cho thấy khi “em” nhận được sự cảm thông và tình bạn chân thành, nỗi buồn vì thiếu thốn vật chất dần được xoa dịu. Điều đó chứng tỏ đời sống tinh thần có sức mạnh lớn lao trong việc giúp con người vượt qua khó khăn.
Để xây dựng lối sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, trước hết mỗi người cần biết đủ. Biết trân trọng những gì mình có sẽ giúp ta không bị cuốn vào vòng xoáy chạy theo vật chất. Bên cạnh đó, cần rèn luyện thói quen quan tâm đến người khác: lắng nghe, chia sẻ, giúp đỡ khi có thể. Chính những hành động nhỏ ấy nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động tập thể, đọc sách, rèn luyện thể thao, sống gần gũi với gia đình cũng giúp con người cân bằng giữa nhu cầu vật chất và đời sống nội tâm.
Đặc biệt với học sinh, việc cân bằng này càng quan trọng. Không nên đánh giá bản thân hay bạn bè qua quần áo, đồ dùng, mà cần coi trọng nhân cách, sự chân thành và nỗ lực trong học tập. Khi biết đặt giá trị tinh thần song hành với vật chất, con người sẽ sống nhẹ nhàng, nhân ái và hạnh phúc hơn.
Tóm lại, câu chuyện Áo Tết gửi gắm bài học sâu sắc: vật chất cần thiết nhưng không phải là tất cả. Một lối sống hài hòa, biết trân trọng cả giá trị vật chất lẫn tinh thần chính là con đường giúp con người đạt tới hạnh phúc bền lâu.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện là
Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật Thứ, theo sát dòng ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là
Thứ từng nuôi những ước mơ lớn lao:
– Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài
– Vào đại học, sang Pháp
– Trở thành vĩ nhân, làm những việc lớn lao để thay đổi đất nước
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ là
Biện pháp tu từ liệt kê kết hợp ẩn dụ (“mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra”):
– Khắc họa sự tàn lụi dần dần của đời sống và nhân cách
– Nhấn mạnh bi kịch “sống mòn”: tồn tại vô nghĩa, bị khinh rẻ từ xã hội, gia đình và chính bản thân
– Gợi cảm xúc xót xa, bế tắc, uất ức cho nhân vật
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ là
– Cuộc sống: nghèo khổ, bế tắc, không lối thoát
– Con người: có lý tưởng, ý thức rõ bi kịch của mình nhưng nhu nhược, thiếu bản lĩnh, không dám vượt thoát số phận
→ Thứ là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, bị hoàn cảnh vùi dập, rơi vào bi kịch “sống mòn”.
Câu 5. Suy nghĩ về một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản là
– “Sống tức là thay đổi”.
Con người không nên cam chịu, buông xuôi trước hoàn cảnh; nếu không dám thay đổi, không hành động, con người sẽ rơi vào cảnh sống mòn – tồn tại vô nghĩa.
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri.
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
-đỗ thành chung, đồ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành
-một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3.
Câu 4.
Câu 5.
Thông điệp rút ra: Sống chính là biết tự làm chủ bản thân và làm chủ cuộc đời mình. Đây là một triết lí sâu xa, bởi mỗi con người là một cá thể riêng biệt và ai cũng chỉ có một lần được sống. Vì thế, nếu không biết tự kiểm soát bản thân và định hướng cuộc đời, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội được sống trọn vẹn và có ý nghĩa. Chỉ khi thực sự làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời, mỗi người mới có thể phát huy tối đa năng lực của mình, từ đó trở thành một người có ích cho xã hội.
Câu 1.
• Điểm nhìn: Ngôi kể thứ ba, toàn tri. Người kể chuyện biết rõ mọi suy nghĩ, cảm xúc và dự đoán tương lai của nhân vật Thư.
Câu 2.
• Ước mơ: Đạt học vấn cao (đỗ Tú tài, vào đại học, du học Tây) và trở thành vĩ nhân để đem lại những sự thay đổi lớn lao cho xứ sở.
Câu 3.
• Biện pháp tu từ: Liệt kê và Tăng tiến kết hợp Điệp ngữ ("sẽ mốc lên, sẽ gì đi, sẽ mòn, sẽ mục ra", "chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!").
• Tác dụng: Khắc họa sự hủy hoại tinh thần theo cấp độ tăng tiến, nhấn mạnh nỗi ám ảnh và sự tuyệt vọng của Thư về một cuộc đời sẽ kết thúc trong sự vô nghĩa (bi kịch "sống mòn").
Câu 4.
• Cuộc sống: Sống mòn, nghèo khổ, bệnh tật, bế tắc, làm thui chột mọi ước mơ và hoài bão.
• Con người: Người trí thức có lý tưởng nhưng nhu nhược, yếu đuối trước hiện thực. Mắc kẹt giữa ước muốn thay đổi và sự sợ hãi, cuối cùng dẫn đến sự tự khinh miệt ("chính y sẽ khinh y").
Câu 5.
• Triết lý: Bi kịch của sự tha hóa và mâu thuẫn giữa Lý tưởng và Hiện thực.
• Ý nghĩa: Cuộc đời Thư chứng minh rằng lý tưởng cao đẹp sẽ bị mài mòn và bóp nghẹt bởi gánh nặng cơm áo và nghèo đói, khiến con người rơi vào trạng thái "sống mòn" — tồn tại mà không có ý nghĩa ("chết mà chưa sống").
Câu 1:
- Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện).
Câu 2:
- Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là: đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3:
- BPTT điệp cấu trúc: Y sẽ..., Đời y sẽ..., ... sẽ khinh y, … chết mà chưa...
- Tác dụng: Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
- BPTT ẩn dụ: đời – mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra
- Tác dụng: Có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
- BPTT liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y.); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thể hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
- BPTT nghịch ngữ: chết mà chưa sống
- Tác dụng: Có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: chết ở đây là chết về mặt tinh thần; sống ở đây là sống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm...
Câu 4:
- Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình.
- Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 5:
Suy nghĩ của em về 1 triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản là: Sống là làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình. Đây là một triết lí sâu sắc bởi lẽ mỗi người trên đời này là một bản thể duy nhất và chỉ được sống một lần. Do đó, nếu mỗi chúng ta không làm chủ bản thân và làm chủ cuộc đời mình, chúng ta sẽ mất đi cơ hội sống đúng nghĩa, rơi vào cảnh sống lụi tàn và vô nghĩa như nhân vật Thứ. Chỉ khi con người làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình, chúng ta mới có thể phát huy được hết tiềm năng của bản thân và trở thành người có ích cho xã hội, thoát khỏi sự "sống mòn" mà Nam Cao đã khắc họa.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện là
Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật Thứ, theo sát dòng ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.
⸻
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là
Thứ từng nuôi những ước mơ lớn lao:
– Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài
– Vào đại học, sang Pháp
– Trở thành vĩ nhân, làm những việc lớn lao để thay đổi đất nước
⸻
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ là
Biện pháp tu từ liệt kê kết hợp ẩn dụ (“mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra”):
– Khắc họa sự tàn lụi dần dần của đời sống và nhân cách
– Nhấn mạnh bi kịch “sống mòn”: tồn tại vô nghĩa, bị khinh rẻ từ xã hội, gia đình và chính bản thân
– Gợi cảm xúc xót xa, bế tắc, uất ức cho nhân vật
⸻
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ là
– Cuộc sống: nghèo khổ, bế tắc, không lối thoát
– Con người: có lý tưởng, ý thức rõ bi kịch của mình nhưng nhu nhược, thiếu bản lĩnh, không dám vượt thoát số phận
→ Thứ là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, bị hoàn cảnh vùi dập, rơi vào bi kịch “sống mòn”.
⸻
Câu 5. Suy nghĩ về một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản là
– “Sống tức là thay đổi”.
Con người không nên cam chịu, buông xuôi trước hoàn cảnh; nếu không dám thay đổi, không hành động, con người sẽ rơi vào cảnh sống mòn – tồn tại vô nghĩa.
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn ngôi thứ ba
Người kể chuyện không chỉ thuật lại hành động "Thứ đứng tựa mạn tàu", "Y nhìn đằng sau", mà quan trọng hơn, người kể chuyện đóng vai trò như một giọng nói dẫn dắt, bộc lộ trực tiếp những suy tư, dằn vặt, hồi tưởng và dự cảm của nhân vật ("Nhưng Thứ buồn...", "Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa...", "Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng!"). Điều này tạo nên sự đồng cảm sâu sắc và giúp người đọc hiểu rõ bi kịch nội tâm của người trí thức tiểu tư sản thời bấy giờ.
Câu 2.
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ước mơ của nhân vật Thứ rất lớn lao, bay bổng và đầy hoài bão:
Y mong muốn đỗ đạt cao ("sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây").
Y khao khát trở thành một người có ích, thậm chí là một "vĩ nhân" có thể "đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình", chứ không phải một "ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù".
Câu 3.
-Biện pháp tu từ so sánh ngầm (ẩn dụ) kết hợp với điệp cấu trúc và các động từ mạnh để miêu tả sự xuống cấp của cuộc đời Thứ.
-Tác dụng của biện pháp ẩn dụ và liệt kê (mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra):
+Các hình ảnh này ví von cuộc đời, nhân cách của Thứ như một đồ vật (kim loại hoặc gỗ) bị hư hỏng, bị hủy hoại dần theo thời gian trong sự tù túng, vô nghĩa.
+Nó nhấn mạnh sự bế tắc tột cùng, sự lụi tàn về tinh thần và phẩm giá của người trí thức khi bị hoàn cảnh nghèo đói, thất nghiệp vùi dập. Nỗi sợ hãi lớn nhất không phải là cái chết thể xác, mà là cái chết trong sự "mòn", "mục" về ý chí và nhân cách.
Câu 4.
Qua đoạn trích, cuộc sống và con người của nhân vật Thứ hiện lên đầy bi kịch và mâu thuẫn:
-Về cuộc sống: Thứ là một người trí thức rơi vào cảnh bế tắc hoàn toàn, thất nghiệp, mất phương hướng. Anh bị hoàn cảnh xô đẩy từ Sài Gòn về Hà Nội rồi cuối cùng buộc phải "lùi dần" về một "xó nhà quê", đối mặt với viễn cảnh "ăn bám vợ", một cuộc sống tù đày, vô nghĩa, "chết mà chưa sống".
-Về con người: Thứ là người có ý thức sâu sắc về bi kịch của mình, có lòng tự trọng cao và khao khát thoát khỏi cảnh sống "sống mòn" ("Không! Y sẽ không chịu về quê. Y sẽ đi bất cứ đâu..."). Tuy nhiên, anh lại bộc lộ sự nhu nhược, hèn yếu, thiếu quyết tâm hành động. Anh nhận thức rõ mình "không bao giờ cưỡng lại" số phận, chỉ để mặc "con tàu mang đi". Sự mâu thuẫn giữa nhận thức tiến bộ và hành động yếu đuối là bi kịch điển hình của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám.
Câu 5.
"Sống tức là thay đổi" và con người phải có bản lĩnh để tự quyết định số phận, không chấp nhận một cuộc sống tù túng, vô nghĩa.
Đoạn văn dùng hình ảnh con trâu bị sợi dây thừng và thói quen giữ lại ở đồng bằng để nói về con người: "Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới."
Cuộc sống đích thực đòi hỏi sự chủ động, dũng cảm vượt qua "thói quen", "lòng sợ hãi" để dấn thân, thay đổi hoàn cảnh.
Việc chấp nhận sống an phận, "cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi" mà không dám "dứt đứt sợi dây thừng" (như nhân vật Thứ nhu nhược chấp nhận trở về quê) chính là biểu hiện của sự "chết ngay trong lúc sống", một cuộc đời "tù đày" và "mục ra" một cách vô nghĩa. Triết lí này kêu gọi con người phải đấu tranh không ngừng cho một cuộc sống rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn.
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn ngôi thứ ba
Người kể chuyện không chỉ thuật lại hành động "Thứ đứng tựa mạn tàu", "Y nhìn đằng sau", mà quan trọng hơn, người kể chuyện đóng vai trò như một giọng nói dẫn dắt, bộc lộ trực tiếp những suy tư, dằn vặt, hồi tưởng và dự cảm của nhân vật ("Nhưng Thứ buồn...", "Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa...", "Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng!"). Điều này tạo nên sự đồng cảm sâu sắc và giúp người đọc hiểu rõ bi kịch nội tâm của người trí thức tiểu tư sản thời bấy giờ.
Câu 2.
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ước mơ của nhân vật Thứ rất lớn lao, bay bổng và đầy hoài bão:
Y mong muốn đỗ đạt cao ("sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây").
Y khao khát trở thành một người có ích, thậm chí là một "vĩ nhân" có thể "đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình", chứ không phải một "ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù".
Câu 3.
-Biện pháp tu từ so sánh ngầm (ẩn dụ) kết hợp với điệp cấu trúc và các động từ mạnh để miêu tả sự xuống cấp của cuộc đời Thứ.
-Tác dụng của biện pháp ẩn dụ và liệt kê (mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra):
+Các hình ảnh này ví von cuộc đời, nhân cách của Thứ như một đồ vật (kim loại hoặc gỗ) bị hư hỏng, bị hủy hoại dần theo thời gian trong sự tù túng, vô nghĩa.
+Nó nhấn mạnh sự bế tắc tột cùng, sự lụi tàn về tinh thần và phẩm giá của người trí thức khi bị hoàn cảnh nghèo đói, thất nghiệp vùi dập. Nỗi sợ hãi lớn nhất không phải là cái chết thể xác, mà là cái chết trong sự "mòn", "mục" về ý chí và nhân cách.
Câu 4.
Qua đoạn trích, cuộc sống và con người của nhân vật Thứ hiện lên đầy bi kịch và mâu thuẫn:
-Về cuộc sống: Thứ là một người trí thức rơi vào cảnh bế tắc hoàn toàn, thất nghiệp, mất phương hướng. Anh bị hoàn cảnh xô đẩy từ Sài Gòn về Hà Nội rồi cuối cùng buộc phải "lùi dần" về một "xó nhà quê", đối mặt với viễn cảnh "ăn bám vợ", một cuộc sống tù đày, vô nghĩa, "chết mà chưa sống".
-Về con người: Thứ là người có ý thức sâu sắc về bi kịch của mình, có lòng tự trọng cao và khao khát thoát khỏi cảnh sống "sống mòn" ("Không! Y sẽ không chịu về quê. Y sẽ đi bất cứ đâu..."). Tuy nhiên, anh lại bộc lộ sự nhu nhược, hèn yếu, thiếu quyết tâm hành động. Anh nhận thức rõ mình "không bao giờ cưỡng lại" số phận, chỉ để mặc "con tàu mang đi". Sự mâu thuẫn giữa nhận thức tiến bộ và hành động yếu đuối là bi kịch điển hình của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám.
Câu 5.
"Sống tức là thay đổi" và con người phải có bản lĩnh để tự quyết định số phận, không chấp nhận một cuộc sống tù túng, vô nghĩa.
Đoạn văn dùng hình ảnh con trâu bị sợi dây thừng và thói quen giữ lại ở đồng bằng để nói về con người: "Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới."
Cuộc sống đích thực đòi hỏi sự chủ động, dũng cảm vượt qua "thói quen", "lòng sợ hãi" để dấn thân, thay đổi hoàn cảnh.
Việc chấp nhận sống an phận, "cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi" mà không dám "dứt đứt sợi dây thừng" (như nhân vật Thứ nhu nhược chấp nhận trở về quê) chính là biểu hiện của sự "chết ngay trong lúc sống", một cuộc đời "tù đày" và "mục ra" một cách vô nghĩa. Triết lí này kêu gọi con người phải đấu tranh không ngừng cho một cuộc sống rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện là
Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật Thứ, theo sát dòng ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.
⸻
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là
Thứ từng nuôi những ước mơ lớn lao:
– Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài
– Vào đại học, sang Pháp
– Trở thành vĩ nhân, làm những việc lớn lao để thay đổi đất nước
⸻
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ là
Biện pháp tu từ liệt kê kết hợp ẩn dụ (“mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra”):
– Khắc họa sự tàn lụi dần dần của đời sống và nhân cách
– Nhấn mạnh bi kịch “sống mòn”: tồn tại vô nghĩa, bị khinh rẻ từ xã hội, gia đình và chính bản thân
– Gợi cảm xúc xót xa, bế tắc, uất ức cho nhân vật
⸻
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ là
– Cuộc sống: nghèo khổ, bế tắc, không lối thoát
– Con người: có lý tưởng, ý thức rõ bi kịch của mình nhưng nhu nhược, thiếu bản lĩnh, không dám vượt thoát số phận
→ Thứ là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, bị hoàn cảnh vùi dập, rơi vào bi kịch “sống mòn”.
⸻
Câu 5. Suy nghĩ về một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản là
– “Sống tức là thay đổi”.
Con người không nên cam chịu, buông xuôi trước hoàn cảnh; nếu không dám thay đổi, không hành động, con người sẽ rơi vào cảnh sống mòn – tồn tại vô nghĩa.
câu 1 :
Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong .Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện.
Câu 2 :
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây
và trở thànhmột vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3 :
Điệp cấu trúc:
Y sẽ..., Đời y sẽ..., ... sẽ khinh y, chưa... chết mà : Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
+ Ẩn dụ:đời – mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra: Có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thể hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Nghịch ngữ:
chết mà chưa sống: Có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: chết ở đây là chết về mặt tinh thần; sống ở đây là sống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm...
Câu 4 :
Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình.
Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 5 :
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện). Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là: đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Câu 3. HS xác định được một biện pháp tu từ trong đoạn trích và phân tích tác dụng của nó: + Điệp cấu trúc: Y sẽ..., Đời y sẽ...,... sẽ khinh y, chưa... chết mà : Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.HS rút ra một triết lí nhân sinh từ tác phẩm, trình bày suy nghĩ cá nhân và đưa ra được lí giải hợp lí.
Câu 1.
- Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện)
Câu 2 Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3.
– HS xác định được một biện pháp tu từ trong đoạn trích và phân tích tác dụng của nó:
+Điệp cấu trúc
Y sẽ..., Đời y sẽ..., ... sẽ khinh y, ... chết mà chưa...
: Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
+ Ẩn dụ:
đời – mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra
: Có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (
chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê
); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (
Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y.
); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thể hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Nghịch ngữ:
chết mà chưa sống
: Có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: chết ở đây là chết về mặt tinh thần; sống ở đây là sống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm...
Câu 4.
– Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình.
– Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn được đặt từ bên trong tâm trạng của nhân vật (điểm nhìn hạn tri/nội quan). Tuy kể ở ngôi thứ ba, nhưng lời văn lại nương theo dòng suy nghĩ, cảm xúc và cái nhìn của chính nhân vật Thứ để nói lên những dằn vặt, đau đớn thầm kín nhất.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường
Khi còn đi học, Thứ mang những hoài bão rất lớn lao và cao đẹp. Anh không chấp nhận làm một ông phán tầm thường, lưng gù, tháng tháng lĩnh lương về nuôi vợ con. Thứ mong muốn đỗ Thành chung, đỗ Tú tài, vào đại học, đi du học để trở thành một vĩ nhân đem lại những sự thay đổi lớn lao cho xứ sở mình.
Câu 3. Phân tích tác dụng biện pháp tu từ
Đoạn trích sử dụng thành công phép liệt kê kết hợp với cấp độ tăng tiến qua các từ ngữ: "mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra". Biện pháp này gợi tả cụ thể quá trình hủy hoại, tha hóa dần dần của con người về mặt tinh thần. Các từ ngữ đi từ bề mặt (mốc) đến bản chất bên trong (mục) nhấn mạnh sự tàn phá khủng khiếp của lối sống vô vị, quẩn quanh. Đồng thời, nghịch lý "chết mà chưa sống" đã nhấn mạnh bi kịch đau đớn tột cùng: thể xác còn tồn tại nhưng tinh thần và hoài bão đã chết.
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ
Về cuộc sống, Thứ đang rơi vào sự bế tắc, nghèo túng và tù túng. Cuộc sống của anh trở nên "mòn mỏi", trì trệ, vô nghĩa và lặp đi lặp lại đáng sợ. Về con người, Thứ là điển hình cho người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng: có hoài bão, có lòng tự trọng cao nhưng bất lực trước thực tại. Anh là người có ý thức cá nhân sâu sắc nên luôn đau khổ, dằn vặt vì thấy mình vô dụng và sợ sự khinh bỉ.
Câu 5. Suy nghĩ về triết lý nhân sinh
Một triết lý nhân sinh sâu sắc từ văn bản là: Sống không chỉ là tồn tại, mà phải sống có ý nghĩa. Bi kịch "chết mà chưa sống" của nhân vật nhắc nhở chúng ta rằng chỉ tồn tại về mặt sinh học là chưa đủ để làm người đúng nghĩa. Một cuộc đời đáng sống là khi ta có ước mơ, có khát vọng và nỗ lực cống hiến giá trị, không để bản thân rơi vào trạng thái trì trệ hay chấp nhận sự an bài của số phận.
djkxjdnns
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện)
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là
đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành
một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình
Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình
Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình
Câu 5.
HS rút ra một triết lí nhân sinh từ tác phẩm, trình bày suy nghĩ cá nhân và đưa ra được lí giải hợp lí
Ví dụ: Sống là làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình. Đây là một triết lí sâu sắc bởi lẽ: Mỗi người là một bản thể duy nhất và mỗi người chỉ được sống một lần trong đời. Do đó, nếu mỗi chúng ta không làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình thì chúng ta sẽ mất đi cơ hội sống đúng nghĩa
Chỉ có khi làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình chúng ta mới phát huy được hết tiềm năng của bản thân và trở thành người có ích cho xã hội
Câu 1
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn chủ yếu đặt vào nhân vật Thứ.
Qua đó, người đọc được tiếp cận thế giới nội tâm của Thứ: những hồi tưởng, suy nghĩ, cảm xúc, sự giằng xé và bi kịch tinh thần của một trí thức tiểu tư sản nghèo.
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường
Thứ từng nuôi hoài bão lớn lao:
Đỗ Thành chung, rồi tú tài, sau đó vào Đại học đường.
Sang Pháp du học.
Trở thành một vĩ nhân, đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước.
Đây là những khát vọng cao đẹp của một trí thức trẻ, thể hiện tinh thần muốn cống hiến cho xã hội.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ
Đoạn văn: “Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!..."
Biện pháp tu từ nổi bật: Điệp từ, điệp cấu trúc (“sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra”; “sẽ khinh y...") kết hợp với phép đối lập (“chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống”).
Tác dụng:
Nhấn mạnh sự bế tắc, vô nghĩa, mòn mỏi của cuộc đời Thứ.
Tạo cảm giác nghẹn ngào, uất ức, làm nổi bật bi kịch tinh thần của một trí thức bị hoàn cảnh vùi dập.
Gợi sự xót xa, đồng cảm nơi người đọc trước thân phận con người sống mà như đã chết.
Câu 4.
Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ
Cuộc sống:
Nghèo khổ, bấp bênh, không có công việc ổn định.
Bị hoàn cảnh xã hội và chiến tranh bóp nghẹt, dẫn đến cảnh “sống mòn".
Con người:
Ban đầu có hoài bão, lý tưởng, khát vọng lớn lao.
Nhưng dần trở nên nhu nhược, hèn yếu, không đủ nghị lực để vượt thoát.
Vẫn còn những tia sáng hi vọng mong manh, song bị thực tại tàn nhẫn dập tắt.
Thứ là hình ảnh tiêu biểu cho bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng: có tài năng, có khát vọng nhưng bị xã hội thực dân phong kiến làm cho thui chột.
Câu 5.
Suy nghĩ về triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản
Triết lí: “Sống tức là thay đổi”.
Ý nghĩa:
Con người không thể để thói quen, sự sợ hãi hay hoàn cảnh trói buộc mình.
Nếu không dám thay đổi, cuộc đời sẽ rơi vào cảnh tù đày, mòn mỏi, vô nghĩa.
Mỗi người phải có bản lĩnh, nghị lực để vượt qua khó khăn, dám sống khác đi, dám hành động để khẳng định giá trị bản thân.
Liên hệ bản thân:
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng ước mơ, kiên trì theo đuổi và dám đổi mới để không rơi vào cảnh “sống mòn”.
Sống có ý nghĩa là sống chủ động, sáng tạo, cống hiến cho xã hội.
Câu 1:
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn trần thuật gắn chặt với nhân vật Thứ.
Người kể chuyện tuy đứng ngoài nhưng thâm nhập sâu vào thế giới nội tâm của Thứ, theo dõi dòng suy nghĩ, cảm xúc, dằn vặt, ước mơ và bi kịch tinh thần của nhân vật.
Câu 2:
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ nuôi những ước mơ lớn lao và cao đẹp:
Câu 3:
Trong đoạn trích, Nam Cao sử dụng phép liệt kê kết hợp với điệp cấu trúc và tăng tiến:
Tác dụng:
Câu 4:
Về cuộc sống:
Về con người:
Câu 5:
Từ văn bản Sống mòn, có thể rút ra triết lí nhân sinh: sống là phải dám thay đổi và làm chủ cuộc đời mình. Con người nếu vì thói quen, nỗi sợ hãi mà cam chịu, buông xuôi thì sẽ rơi vào bi kịch “chết trong lúc sống”, sống mòn mỏi, vô nghĩa. Vì vậy, mỗi người cần có dũng khí vượt qua hoàn cảnh, dám hành động để cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.
Nzjalma
Câu 1:
–Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng được đặt bên trong nhân vật Thứ.
→ Người kể chuyện am hiểu sâu sắc đời sống nội tâm của Thứ, kể và miêu tả thế giới qua dòng suy nghĩ, cảm xúc, giằng xé nội tâm của nhân vật.
Câu 2:
–Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là:
→ Đó là những ước mơ cao đẹp, lớn lao của một trí thức trẻ đầy hoài bão.
Câu 3:
–Biện pháp tu từ: liệt kê kết hợp điệp ngữ (sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra…; người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y).
–Tác dụng:
Câu 4:
–Qua đoạn trích, cuộc sống và con người nhân vật Thứ hiện lên đầy bi kịch và bế tắc. Thứ là một trí thức nghèo, có học vấn, từng mang trong mình lý tưởng và hoài bão lớn, nhưng thực tế xã hội ngột ngạt đã dồn đẩy anh vào cảnh thất nghiệp, lệ thuộc, mất phương hướng. Thứ ý thức rất rõ sự tha hóa và “sống mòn” của bản thân, luôn day dứt, đau khổ, muốn thoát ra nhưng lại nhu nhược, thiếu bản lĩnh, không đủ can đảm để thay đổi. Nhân vật Thứ tiêu biểu cho bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có ý thức nhưng không có lối thoát.
Câu 5:
–Một triết lí nhân sinh sâu sắc có thể rút ra từ văn bản là:
•Sống là phải không ngừng vận động, dám thay đổi và dám thoát khỏi những ràng buộc tầm thường; nếu không, con người sẽ rơi vào cảnh “sống mòn”, tồn tại vô nghĩa.
•Văn bản cho thấy thói quen, nỗi sợ thay đổi và sự nhu nhược có thể trói buộc con người như sợi dây thừng buộc con trâu, khiến họ cam chịu một cuộc đời tù đày tinh thần. Qua đó, Nam Cao cảnh tỉnh con người cần sống có lý tưởng, có hành động và dám chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình, bởi “sống tức là thay đổi”.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện là: Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật Thứ, theo sát dòng ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là: -đỗ thành chung, đồ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành -một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3. Biện pháp tu từ : điệp cấu trúc :Y sẽ..., Đời y sẽ.., ... sẽ khinh y, ... chết mà chưa... Tác dụng: Về mặt hình thức: tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn. Về mặt nội dung: nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mệt mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình. Đồng thời, giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
Câu 4. Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình. Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 5. Thông điệp rút ra: Sống chính là biết tự làm chủ bản thân và làm chủ cuộc đời mình. Đây là một triết lí sâu xa, bởi mỗi con người là một cá thể riêng biệt và ai cũng chỉ có một lần được sống. Vì thế, nếu không biết tự kiểm soát bản thân và định hướng cuộc đời, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội được sống trọn vẹn và có ý nghĩa. Chỉ khi thực sự làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời, mỗi người mới có thể phát huy tối đa năng lực của mình, từ đó trở thành một người có ích cho xã hội.
Câu 1.
Văn bản được kể ở ngôi thứ ba, tuy nhiên người kể chuyện đặt điểm nhìn trần thuật chủ yếu vào nhân vật Thứ. Nhờ đó, người đọc có thể theo dõi trực tiếp những suy nghĩ, cảm xúc và bi kịch tinh thần của Thứ trong hành trình “sống mòn” đầy đau đớn.
Câu 2.
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhân vật Thứ mang trong mình những ước mơ lớn lao và cao đẹp. Y mong muốn đỗ Thành chung, đỗ Tú tài, được vào đại học, sang Pháp học tập và trở thành một vĩ nhân, đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước. Những ước mơ ấy thể hiện khát vọng cống hiến và lí tưởng sống cao đẹp của một trí thức trẻ.
Câu 3.
Trong đoạn trích, tác giả sử dụng biện pháp tu từ liệt kê kết hợp với điệp cấu trúc qua các hình ảnh “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra” và sự lặp lại cụm từ “sẽ khinh y”. Biện pháp này có tác dụng nhấn mạnh sự tàn lụi dần dần, vô nghĩa và bế tắc của cuộc đời Thứ, đồng thời diễn tả sâu sắc nỗi đau đớn, tuyệt vọng và uất ức của nhân vật khi ý thức rõ ràng về cảnh sống mà như đã chết của chính mình.
Câu 4.
Đoạn trích cho thấy cuộc sống của Thứ là một chuỗi ngày nghèo túng, bấp bênh và bế tắc. Dù có học thức và từng mang nhiều hoài bão lớn lao, Thứ lại bị hoàn cảnh xã hội và cuộc sống cơm áo làm cho ước mơ thui chột. Nhân vật ý thức được sự vô nghĩa của đời mình nhưng lại nhu nhược, yếu đuối, không đủ dũng khí để thoát ra khỏi số phận. Thứ trở thành hình ảnh tiêu biểu cho bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám, sống mòn mỏi, tồn tại trong đau khổ và bất lực.
Câu 5.
Từ văn bản, có thể rút ra một triết lí nhân sinh sâu sắc rằng sống là phải dám thay đổi và hành động, bởi nếu con người chỉ an phận, sợ hãi trước sự đổi thay thì sẽ rơi vào cảnh chết mòn ngay trong lúc đang sống. Tác phẩm của Nam Cao nhắc nhở mỗi người cần có dũng khí vượt qua thói quen, nỗi sợ và hoàn cảnh để sống có ý nghĩa, có trách nhiệm với chính cuộc đời mình, bởi con người chỉ xứng đáng hưởng những gì mình đã thực sự nỗ lực tạo ra.
Câu 1:
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, nhưng người kể đặt điểm nhìn chủ yếu vào nhân vật Thứ, theo sát dòng suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của Thứ (điểm nhìn bên trong). → Nhờ đó, người đọc hiểu sâu sắc bi kịch tinh thần và nỗi đau sống mòn của nhân vật.
Câu 2:
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ mang nhiều ước mơ và hoài bão lớn: Đỗ đạt, thành danh Có học vấn cao, làm việc có ích Sang Tây, vào đại học Trở thành người trí thức có thể đem lại những thay đổi lớn lao cho xã hội, cho đất nước → Ước mơ đẹp nhưng dần bị hiện thực nghèo đói vùi lấp.
Câu 3:
Biện pháp tu từ : 👉 Điệp cấu trúc – điệp ngữ: “y sẽ…”, “sẽ…”, “người ta sẽ…”, “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn…” Tác dụng: Nhấn mạnh viễn cảnh tương lai tối tăm, bế tắc, đáng sợ của Thứ Diễn tả nỗi ám ảnh, tuyệt vọng, bế tắc tinh thần của nhân vật Làm nổi bật bi kịch “chết mòn khi đang sống” của người trí thức nghèo
Câu 4:
Cuộc sống: nghèo túng, bấp bênh, thất nghiệp, bị bó buộc trong cảnh sống tù túng, không lối thoát Con người: Có học thức, có ước mơ, có khát vọng sống có ý nghĩa Nhưng yếu đuối, nhu nhược, thiếu dũng khí để thay đổi số phận Bị hiện thực nghiệt ngã làm cho tha hóa tinh thần, rơi vào trạng thái “sống mòn” → Thứ là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng.
Câu 5
Văn bản gửi gắm triết lí sâu sắc: Sống mà không được sống đúng nghĩa, không dám thay đổi, không dám đấu tranh thì chẳng khác nào chết dần, chết mòn.
Câu 1, Điểm nhìn của người kể chuyện là : điểm nhìn hạn chi
Câu 2
Ước mơ có một cuộc đời rộng rãi, đẹp đẽ, làm được những điều có ý nghĩa.
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhân vật Thứ ấp ủ ước mơ về một cuộc sống không tù túng, bần tiện, mà là một cuộc đời "rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn", thoát khỏi cảnh chỉ lo toan cơm áo gạo tiền. Câu 3Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong đoạn trích là điệp ngữ và liệt kê.
Tác dụng : Nhấn mạnh sự bế tắc, tuyệt vọng cùng cực của nhân vật Thứ. Nỗi sợ hãi lớn nhất không phải là người khác khinh mình, mà là chính bản thân mình tự khinh bỉ mình, một cái chết về tinh thần ngay cả khi thể xác còn sống.
- Diễn tả một cách hình ảnh và đầy sức gợi cảm về sự tàn phá ghê gớm của cuộc sống mòn đối với một con người trí thức giàu khát vọng, khiến cuộc đời trở nên vô nghĩa, mục ruỗng từng ngày.
Câu 4Cuộc sống bế tắc, con người đầy trăn trở, khát vọng nhưng bất lực.
Cuộc sống: Nhân vật Thứ đang đối diện với tương lai mờ mịt, nguy cơ thất nghiệp và phải "ăn bám vợ", một thực tế phũ phàng đối với người trí thức có bằng cấp "Thành chung". Con người: Thứ là người có lòng tự trọng cao, luôn trăn trở về ý nghĩa cuộc sống ("Y đã làm gì chưa?"), sợ sống một đời vô nghĩa, "chết mà chưa sống". Tuy nhiên, hoàn cảnh thực tế lại khiến y rơi vào sự bất lực và bi quan sâu sắc.
câu 5Triết lí nhân sinh sâu sắc được rút ra là về ý nghĩa của sự sống và cái chết.
Câu 1: Xác định điểm nhìn của người kể chuyện (thường là ngôi thứ ba, nhưng có lúc xen lẫn ngôi thứ nhất qua dòng ý thức của Thức).
Câu 2: Nêu ước mơ của Thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường (muốn làm người thay đổi xã hội, trở thành vĩ nhân…).
Câu 3:Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ (ở đây thường là điệp cấu trúc “y sẽ…”, “y sẽ chết mà chưa…”, “chết mà chưa sống”…) – thể hiện sự tuyệt vọng, bi kịch của nhân vật.
Câu 4 Nhận xét về cuộc sống và con người Thức (sống mòn, tha hóa, mất lý tưởng, hèn nhát…).
Câu 5:Rút ra triết lí nhân sinh (thường là: Sống tức là phải thay đổi, dám dứt bỏ cái cũ để hướng tới cái mới; không dám thay đổi thì sẽ sống mòn, sống vô nghĩa…).
1 :ngôi 3
2:Khi còn đi học, Thứ mang trong mình nhiều hoài bão, ước mơ cao đẹp: muốn sống có ích, được cống hiến cho đời, được khẳng định bản thân bằng tài năng và trí tuệ, làm được những việc có ý nghĩa cho xã hội chứ không chỉ sống tầm thường.
3 Phép liệt kê: “mốc lên – gỉ đi – mòn – mục ra”, “người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y”
4Cuộc sống: nghèo túng, bấp bênh, không việc làm ổn định, tương lai mờ mịt → đẩy Thứ vào tình trạng “sống mòn”
5Con người nếu không dám đấu tranh, không đủ nghị lực vượt qua hoàn cảnh thì sẽ “sống mòn”, tồn tại vô nghĩa.
Câu 1: điểm nhìn hạn chi từ bên trong.ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤCâu 2 : thứ ước mơ đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học ,trở thành vĩ nhân để phục vụ đất nước ㅤㅤㅤㅤㅤcâu 3: Biện pháp biệt cấu trúc. "Y sẽ ...,Đời y sẽ ...,.. sẽ khinh y.,,, chết mà chưa....ㅤㅤ có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức , hình dung về cuộc sống mòn mỏi vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai của mình , nhịp điệu gợi cảm , giúp người đọc hình dung về nét sống về cuộc sống trí thức của người Việt Nam cách mạng tháng 8ㅤㅤㅤCâu 4: cuộc sống đầy bi kịch khó khăn mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai, lo cho gia đình gạt đi những hoài bão của bản thân.ㅤㅤㅤㅤㅤㅤ là con người có đầy hoài bão và khát vọng nội tâm phong phú cách nhìn sâu sắc về cuộc sống ㅤㅤㅤㅤㅤㅤㅤCâu 5 hãy là người tự quyết định cuộc sống của mình đừng để nó trôi dạt như con Thuyền vô định hãy cứ hoài bão và khát vọng nhưng đôi khi những điều mình mong muốn trường không như mình mong muốn người ta phải cứng rắn để bảo vệ ước mơ của mình
Câu 1.
Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, điểm nhìn đặt vào nhân vật Thứ.
Câu 2.
Thứ mơ ước đỗ đạt, vào đại học, sang Tây, trở thành người tài giỏi, làm điều lớn lao cho đất nước.
Câu 3.
Biện pháp tu từ: điệp ngữ kết hợp liệt kê.
Tác dụng: Nhấn mạnh tương lai bế tắc, vô nghĩa và bi kịch “sống mòn” của Thứ.
Câu 4.
Thứ là người trí thức nghèo, có lí tưởng nhưng bị cuộc sống vùi dập, sống bế tắc, cam chịu, dần đánh mất ý nghĩa cuộc đời.
Câu 5.
Con người cần sống có mục đích, ý nghĩa; không nên buông xuôi để cuộc đời trôi qua trong vô ích.
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện).
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành
một vĩ nhân đem những sự thay đối lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3.
- HS xác định được một biện pháp tu từ trong đoạn trích và phân tích tác dụng của nó:
+ Điệp cấu trúc:
Y sê..., Đời y sê..., ... sẽ khinh y, ... chết mà chưa...
: Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thể, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Namtrước cách mạng tháng Tám.
+ Ấn dụ: đời - mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra
: Có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai cúa mình (
chăng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê ); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (
Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y.
); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thế hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phấm.
+ Nghịch ngữ: chết mà chưa sống
: Có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: chết ở đây là chết về mặt tinh thần; sống ở đây là sống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, gópsống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc của tác phấm...
Câu 4.
Cầu 5.
Chỉ có khi làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình chúng ta mới phát huy được hết tiềm năng của bản thân
1/2
Câu 1.
Điểm nhìn của người kế chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện).
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành
một vĩ nhân đem những sự thay đối lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3.
- HS xác định được một biện pháp tu từ trong đoạn trích và phân tích tác dụng của nó:
+ Điệp cấu trúc:
Y sê..., Đời y sẽ.
...,... sẽ khinh y, ... chết mà
chưa...
: Có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có được hình dung cụ thế, rõ nét về cuộc sống của những người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
+ Ấn dụ: đời - mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra
: Có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phâm.
+ Liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (
chẳng có việc gì làm, ăn bám vợI mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê ); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (
Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y.
); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thế hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
+ Nghịch ngữ: chết mà chưa sống
: Có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: chết ở đây là chết về mặt tinh thần; sống ở đây là sống thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần
Câu 1
Đoạn trích ng kể ngôi thứ 3
Câu 2
Dựa trên ngữ cảnh của tác phẩm "Sống mòn" nói chung, ước mơ của Thứ khi còn đi học là trở thành một người trí thức có ích cho xã hội, cống hiến tài năng và sức trẻ của mình cho đất nước. Anh khao khát một cuộc sống có ý nghĩa, thoát khỏi cảnh nghèo đói bần tiện để vươn tới những điều cao quý.
Câu 3
Trong đoạn trích sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ " sẽ ,y sẽ ,"
Tác dụng
tạo nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh, khắc sâu sự bế tắc, tuyệt vọng và bi quan tột cùng của nhân vật Thứ trước tương lai mờ mịt, vô nghĩa.
Câu 4
Cuộc sống: Cuộc sống của Thứ được thể hiện qua những suy tư là vô cùng bế tắc, tù túng, nhục nhã vì cái nghèo đeo bám ("ăn bám vợ"), không thể thực hiện được hoài bão, phải sống một cách thừa thãi, mòn mỏi.
Con người: Thứ là một người trí thức có tâm hồn nhạy cảm, có ý thức sâu sắc về giá trị bản thân và khát vọng sống có ý nghĩa, nhưng lại bị hoàn cảnh xã hội đẩy vào bi kịch "sống mòn". Anh luôn day dứt, trăn trở về thân
Câu 5