K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

22 tháng 10 2025

Bài thơ Thuyền neo bến đợi của Hoàng Mai mở ra một tâm trạng lặng lẽ, ray rứt của người đang ở giữa hai bến: vừa mong đỗ bến bình yên, vừa không chắc có được bến đó. Hình ảnh “thuyền” và “bến” được tác giả sử dụng như biểu tượng để nói lên thân phận, khát vọng, và cả nỗi cô đơn của con người trước dòng đời.

Người trữ tình trong bài có thể hiểu là “chiếc thuyền” — đang neo đợi ở một nơi, nhưng không biết “bến” nào sẽ đón mình. Cảnh chiều thu, lá rụng, sương mờ, tình chợt đến rồi chợt đi… tất cả tạo nên không gian của nỗi hoang hoải, trăn trở. Bến không chỉ là nơi chốn thực mà còn là nơi tâm hồn muốn đặt neo — muốn tìm sự bình yên, tìm người hiểu, tìm chỗ quay về.

“Thuyền” trong thơ thường gợi lên thân phận lãng đãng, chòng chành giữa dòng nước; ở đây, thuyền là chính nhân vật trữ tình — có thể là người đang yêu, người đang cô đơn, người đang tìm chỗ cho mình.

“Bến” là nơi dừng chân, nơi bến đỗ, biểu trưng cho sự an tâm, hạnh phúc, tìm thấy sự chia sẻ. Nhưng đáng chú ý là cụm “bến đợi” hoặc “bến đâu” chứa đựng nỗi chưa chắc, chưa tìm được. Ví dụ: “Thuyền neo bến hẹn gió mùa lắt lay” — ở đây bến được “hẹn” với gió mùa lắt lay, gợi ra sự mong manh.Cảnh vật thiên nhiên như chiều thu, lá rụng, sương giăng, gió heo may… tất cả cùng tạo nên không khí buồn, ngân nga và mở ra tâm trạng nội tâm: càng tìm bến càng thấy mình ở giữa vô định.

  • Tâm trạng của người trữ tình là khắc khoải, trăn trở: “Gối chăn hờ hững sương mờ phủ giăng” — hình ảnh gợi ra đêm dài không ngủ, lòng người thao thức.Bài thơ còn nói về sự chợt tới, chợt đi của tình yêu: “Tình chợt đến ‑ chợt đi ‑ ai biết” — cho thấy rằng bến chưa chắc là người, chưa chắc là nơi, mà có thể là một khoảnh khắc, một tương lai.Tư tưởng lớn hơn là: con người cần một điểm neo — nhưng liệu có tìm được? Trong đời có nhiều thuyền vẫn neo mà không tìm được bến. Vì vậy bài thơ mang tính nhân bản: nó không chỉ nói riêng về một cuộc tình mà nói về cuộc đời, về hành trình tìm chỗ đứng, tìm ý nghĩa.
  • Cảnh thiên nhiên trong thơ không chỉ làm nền mà phản chiếu tâm trạng: cảnh thu lá rụng, sương mờ, đêm dài… hòa với tâm trạng người trữ tình — buồn, mong chờ, lặng lẽ.Nghệ thuật sử dụng hình ảnh, nhịp điệu chậm, từ ngữ như “neo”, “đợi”, “hẹn”, “lắt lay” — tất cả gợi ra sự chênh vênh giữa hy vọng và thực tế.Bằng cách này, bài thơ tạo ra một không gian vừa hướng ngoại (cảnh vật) vừa hướng nội (tâm hồn), khiến người đọc vừa cảm nhận được cái nhìn về thế giới vừa nghe thấy tiếng vọng trong lòng mình.
  • Bài thơ Thuyền neo bến đợi của Hoàng Mai là một lát cắt cảm xúc dung dị nhưng sâu sắc về hành trình tìm “bến” của con người — tìm nơi dừng chân, tìm người đồng hành, tìm sự an yên trong tâm hồn. Dù bến hẹn có lúc “lắt lay”, dù neo có thể chênh vênh, thì chính hành trình ấy mới là giá trị. Đọc xong ta không chỉ cảm thông với người trữ tình mà còn nhìn thấy chính mình trong “chiếc thuyền” ấy, nép mình trong khát vọng được neo bến. Và đó là sức hút bền của bài thơ này — nhẹ nhàng nhưng day dứt, mộc mạc nhưng chạm đến lòng.

bn nên cho dấu vào nhé

28 tháng 10 2017

Qua hai tác phẩm trên ta thấy Thúy Kiều và Vũ Nương đều có vẻ đẹp hoàn mỹ và những phẩm chất tốt đẹp. Với Vũ Nương nàng là một người con gái tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hòa, nàng là người vợ thủy chung, là con dâu hiếu thảo, người mẹ hết sức thương con. Khi bị nghi oan cố gắng hàn gắng hạnh phúc gia đình và chọn cái chết để bảo toàn danh dự. Còn với Thúy Kiều nàng là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn, có đủ các tài năng cầm, kì, thi, họa đều đạt đến mức tuyệt đỉnh. Nhưng chính những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống bình yên hạnh phúc lại bị các thế lực tàn bạo và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất. bất hạnh. Vũ Nương bị chồng ruồng bỏ, đánh đập, khao khát một cuộc sống hạnh phúc nhưng chưa được hưởng hạnh phúc lại phải chết oan ức. Còn với Thúy Kiều chưa được hưởng hạnh phúc với Kim Trọng thì đã phải bán thân để chuộc cha và lưu lạc suốt 15 năm trời. Đáng lẻ ra những người phụ nữ đức hạnh này phải được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn :))

2 tháng 5 2018

Bạn có thể lên mạng tham khảo nhé

3 tháng 5 2018

Bạn có thể lên mạng tham khảo bài viết này

2 tháng 1 2019

Pạn tham khảo nha!!!

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả:

- Chu Quang Tiềm(1897-1986) là nhà mĩ học, lí luận văn học nổi tiếng Trung Quốc.

2. Tác phẩm:

* Xuất xứ:

- Văn bản là quá trình tích lũy kinh nghiệm, dày công suy nghĩ của tác giả.

- In trong “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi buồn của việc đọc sách”, giáo sư Trần Đình Sử dịch.

* Thể loại: Nghị luận

* Phương thức biểu đạt: Nghị luận

* Vấn đề nghị luận: Bàn về đọc sách.

* Hệ thống luận điểm:

+ Luận điểm 1: Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách.

+ Luận điểm 2: Những khó khăn, thiên hướng sai lệch dễ mắc phải của việc đọc sách trong tình trạng hiện nay.

+ Luận điểm 3: Bàn về phương pháp chọn sách và đọc sách.

II. Tìm hiểu chi tiết:

1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách:

a, Tầm quan trọng:

- Sách đã cô đúc, ghi chép và lưu truyền mọi tri thức, mọi thành tựu mà loài người đã tìm ra, tích lũy qua từng thời đại.

- Sách là kho tàng quí báu của di sản tinh thần mà loài người thu lượm, suy ngẫm suốt mấy ngàn năm.

- Những cuốn sách có giá trị được coi là cột mốc trên con đường phát triển học tập nhân loại.

b, Ý nghĩa:

- Đọc sách là con đường quan trọng của học vấn – con đường tích lũy và nâng cao tri thức.

- Đọc sách là sự chuẩn bị để làm cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới.

=> Đọc sách có ý nghĩa lớn lao, lâu dài đối với con người.Dù văn hóa nghe, nhìn và thực tế cuộc sống hiện nay đang là những con đường học vấn khác nhau nhưng không bao giờ có thể thay thế được cho việc đọc sách.

2. Những khó khăn, thiên hướng sai lệch dễ mắc phải của việc đọc sách trong tình trạng hiện nay.

a, Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối ăn tươi, nuốt sống:

- Để chứng minh cho cái hại này, tác giả đã so sánh cách đọc sách của người xưa và học giả ngày nay. Đó là đọc kỹ, nghiền ngẫm, đọc ít mà tinh còn hơn đọc nhiều mà rối; còn lối đọc của ngày nay không chỉ vô bổ mà còn lãng phí thời gian công sức, thậm chí còn có hại.

=> Cách so sánh đọc sách với ăn uống vô tội vạ đã đem đến cho lời bàn thật trí lí sâu sắc.

b, Sách nhiều khiến người ta khó chọn lựa, dẫn đến lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn sách không có ích:

- Để chỉ ra cái hại thứ hai, tác giả đã có so sánh rất đặc biệt ( so sánh việc đọc sách với việc đánh trận, làm tự tiêu hao lực lượng của mình. )

\(\Rightarrow\)Đây là cách so sánh khá mới mà vẫn quen thuộc và lí thú.

3. Bàn về phương pháp chọn sách và đọc sách.

a, Cách chọn sách:

- Chọn cho tinh, không cốt lấy nhiều.

- Đọc nhiều không thể coi là vinh sự, nếu nhiều mà rối.

- Đọc ít không thể coi là xấu hổ, nếu ít mà kỹ.

- Tìm đọc những cuốn sách thật sự có giá trị và có ích cho bản thân.

- Chọn sách phải có mục đích, có định hướng rõ ràng, không nhất thời tùy hứng.

- Chọn sách nên hướng vào hai loại:

+ Kiến thức phổ thông

+ Kiến thức chuyên sâu.

b, Phương pháp đọc sách:

- Đọc cho kỹ, đọc đi, đọc lại nhiều lần cho đến thuộc lòng.

- Đọc với sự say mê, ngẫm nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích lũy và kiên định mục đích.

- Đọc có kế hoạch, hệ thống, không đọc tràn lan.

- Đọc về kiến thức phổ thông và kiến thức chuyên sâu.

- Đọc sách không chỉ là việc tích lũy tri thức mà còn là việc rèn luyện tư cách, chuyện học làm người, rèn đức tính kiên trì, nhẫn nại.

=> Để nêu bật việc đọc sách hời hợt, tác giả so sánh với việc cưỡi ngựa qua chợ như “trọc phú khoe của”… Cách đọc ấy thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém…

Chúc pạn hok tốt!!!

2 tháng 1 2019

Sua lai : Ban ve doc sach.

22 tháng 11 2016

Truyện Kiều là một kiệt tác xuất sắc của đại thi hòa Nguyễn Du. Truyện mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình, tài năng nhân phẩm của người phụ nữ Việt năm xưa. Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm, bênh vực với số phận bi thảm cảu người phụ nữ phong kiến. Truyện còn thể hiện khát vọng chân chính của con người về tình yêu tự do, công lý và chính nghĩa. Truyện lên án thế lực phong kiến tàn bạo chà đạp lên quyền sống con người.

8 tháng 5 2018

Việc thêm hai từ bài thơ vào nhan đề là một dụng ý nghệ thuật
- Nhà thơ không chỉ khai thác hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn khai thác chất thơ vút lên từ hiện thực khốc liệt ấy

- Chất thơ ấy chính là vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ lái xe: trẻ trung, hồn nhiên, sôi nổi, tinh nghịch mà sâu sắc

22 tháng 5 2018

nhan đề bài thơ dài dòng tưởng như dư thừa từ ''bài thơ'' nhưng đây là dụng ý của tác giả , là một người trực tiếp tham gia trên tuyến đường trường sơn và phải có con mắt nhạy cảm tác giả mới phát hiện một hình ảnh độc đáo''tiểu đội xe không kính'' thêm hai từ bài thơ để làm hoàn chỉnh nhan đề'' bài thơ về tiểu đội xe không kính''. Nhà thơ không chỉ muốn người đọc cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh mà còn thấy được chất thơ của tuổi trẻ hiên ngang, lạc quan vượt lên trên mọi gian khổ hiểm nguy