Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Qua sự việc bóp nát quả cam của Trần Quốc Toản em cảm thấy cái "tâm" của một bậc anh hùng hiếm có trong thiên hạ. Trần Quốc Toản dù còn trẻ đã lo nghĩ về việc lớn bảo vệ tổ quốc, yêu nước thương dân. Phong thái và bản lĩnh của vị tướng khiến quân giặc không dám đối mặt so gươm. Chi tiết này cũng cho thấy sự gan dạ, dũng cảm, phẩm chất anh hùng mạnh mẽ của Trần Quốc Toản.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.
Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Bài làm
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.
Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.
Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Đọc bài thơ ông mặt trời mùa hạ của Trần Hà Yên, em cảm thấy lòng mình như được tắm trong một luồng ánh sáng rực rỡ và ấm áp. Bài thơ đã mở ra trước mắt em một bức tranh mùa hạ tươi vui, sống động, nơi ông mặt trời không chỉ là một thiên thể xa xôi mà trở nên thật gần gũi, đáng yêu như một người bạn lớn, một vị "ông" hiền từ. Em đặc biệt thích những hình ảnh nhân hóa đầy thú vị như việc mặt trời "đánh thức" mọi vật, hay ánh nắng như "những ngón tay" tinh nghịch. Cảm xúc chủ đạo là sự vui vẻ, phấn khởi và một chút ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của tự nhiên được nhà thơ miêu tả một cách giản dị, hồn nhiên qua con mắt trẻ thơ.Bài thơ không chỉ tả cảnh mà còn khơi gợi niềm yêu mến cuộc sống khiến em muốn chạy ra ngoài, hít thở không khí trong lành và tận hưởng trọn vẹn những ngày hè đầy nắng. Đây thực sự là một bài thơ ngọt ngào, gieo vào lòng người đọc một sự lạc quan, yêu đời
Sáng hôm đó, khi em và Mên đang ngồi bên bờ sông, bất chợt một âm thanh lạ vang lên làm em giật mình. Em quay lại thì thấy cả bầy chim chìa vôi từ đâu đồng loạt bay vút lên khỏi bãi sông. Tiếng vỗ cánh rào rào xen lẫn tiếng kêu lích chích nghe thật náo nhiệt. Cảnh tượng ấy khiến em ngỡ ngàng và thích thú vô cùng. Những cánh chim nhỏ bé bay lên trời cao, như mang theo cả sự tự do và sức sống mãnh liệt của thiên nhiên.
Tham khảo nha
Hôm ấy là ngày đầu xuân, trời thật đẹp, trăm hoa đua nở như đón sự an khang, thịnh vượng đến với mọi nhà. Gia đình tôi đón xuân trong niềm vui đầm ấm và tưởng nhớ về tổ tiên – cội nguồn của mình. Lòng biết ơn sâu sắc đó đã thôi thúc gia đình tôi đi thăm mộ ông bà vào ngày Tết – ngày mở đầu của một năm mới mà tôi cho là quan trọng nhất.
Trước đó mấy ngày, tôi thật phấn khởi trong không khí đón Tết, sắp được về quê chúc Tết bà con và thăm mộ ông bà. Tôi háo hức nhất là trong đêm 30 tháng chạp, cả nhà quay quần bên chiếc bàn xinh xắn để bàn chuyện đi thăm mộ ông bà vào ngày hôm sau. Nồi bánh chưng bốc nghi ngút, sôi sùng sục. Tôi thầm nghĩ:
– Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi là bước sang năm mới. Xuân sẽ đến với đất trời, đến với mọi nhà, đến với gia đình mình.
Tôi mong trời mau sáng để cùng bố mẹ về quê đi thăm mộ ông bà và đi chúc Tết bà con ở quê.
Sáng hôm sau, tôi được bố mẹ đưa đi thăm mộ ông bà. Khí trời se lạnh, mây trắng nhởn nhơ trên bầu trời xanh thẳm, cảnh vật dường như đẹp hơn mọi ngày. Những ngôi nhà hai bên đường đã mở cửa, nhà nào cũng có hoa, có những câu đối đỏ treo trên những cành mai đang trổ lộc. Đâu đó, nghe tiếng chim hót lảnh lót như đón chào xuân đang tới. Ra đến nghĩa trang, khói hương xung quanh nghi ngút. Bà con ở gần đi viếng mộ rất sớm, trẻ em chạy nhảy tung tăng trên bãi cỏ với những bộ quần áo mới. Bố tôi kính cẩn đặt hoa tươi, bánh mứt để cúng ông bà. Tôi bồi hồi tưởng nhớ cội nguồn của mình và dấy lên một lòng biết ơn sâu nặng. Khói hương bốc lên lan tỏa khắp các mộ ở nghĩa trang. Người nào cũng tưởng nhớ đến người quá cố. Duy chỉ có những em bé là hồn nhiên, vô tư, chúng đang tinh nghịch trên lề đường đằng xa. Gặp lại những đứa bạn ở quê cùng đi viếng mộ, tâm trạng tôi cũng vui lên sau những phút giây bùi ngùi thương nhớ về ông bà của mình đã yên nghỉ nơi phần mộ. Làn khói hương vẫn bay bay, hòa quyện với đám sương mờ đang bao phủ. Tôi, bố mẹ tôi và mọi người vẫn đứng trước những ngôi mộ tổ tiên của mình. Bố tôi nói:
– Ngày trước, bố cũng thường đi viếng mộ tổ tiên cùng ông bà trong dịp Tết.
Nghe bố nhắc đến ông, bà nội thì tôi lại bâng khuâng nhớ về ngày ông, bà nội tôi chưa mất. Lúc ấy, tôi được sống trong tình thương bao la của ông, bà. Nhớ những đêm trăng sáng, tôi cùng bà ngồi trò chuyện trên chiếc võng đầu hè, nghe bà kể chuyện thời xưa. Tôi lại ứa nước mắt khi nghĩ đến điều này. Bố tôi cũng thế! Dường như bố mẹ tôi cũng xúc động khi nhắc đến ông, bà nội.
Cúng viếng xong, hương trầm cũng dần tàn theo bánh xe thời gian đang di chuyển. Bố và tôi cúi lạy ông bà, lấy bánh mứt phân phát cho các em nhỏ rồi bố tôi đưa tôi về nhà dì chúc Tết.
Dịp đi thăm viếng mộ ông bà lần này đã cho tôi một tình, yêu sâu sắc; Tình yêu gia đình, quê hương, đất nước bền chặt trong tôi. Tôi thầm nhắc mình phải cố gắng học giỏi, thành tài để xứng đáng với cội nguồn tổ tiên, cội nguồn dân tộc Việt Nam.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 :
1. Ngọc An là người kể chuyện
2. Câu chuyện xảy ra ở đâu khi: Trong bối cảnh đất nước đang sục sôi tinh thần cách mạng giành độc lập.
3. Trong câu chuyện có những nhân vật: Vũ Quý , Văn Cao ,ông Ph.D .
4.Những sự kiện liên quan đến sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca” là gắn liên với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
5. Người kể có suy nghĩ về sự kiện của bài hát “Tiến quân ca” ra đời như một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng thông điệp về tinh thần chiến đấu kiên cương , ý chí bất khất của người lính ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên tình yêu quê hương đất nước.
- Người kể chuyện: Ngọc An.
- Bối cảnh: Đất nước đang sục sôi tinh thần cách mạng giành độc lập.
- Nhân vật: Vũ Quý, Văn Cao, ông Ph.D.
- Sự kiện chính: Sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Ý nghĩa của bài hát (quan điểm của người kể chuyện): Một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng tinh thần chiến đấu kiên cường, ý chí bất khuất của người lính, và ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước.
Thông qua nỗi nhớ được khơi dậy từ tiếng gà trưa, nhà thơ Xuân Quỳnh đã miêu tả tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và tình cảm yêu mến, kính trọng bà của một em bé nông thôn. Tình bà cháu thắm thiết đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ hôm nay đang trên đường hành quân chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ
Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu chiến sĩ trên đường ra tiền tuyến gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Tác giả đã sử dụng điệp ngữ " Vì " được nhắc đi nhắc lại ba lần.Để nói lền tình bà cháu đến tình cảm lớn lao như lòng yêu Tổ quốc, yêu xóm làng thân thuộc đều được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày; ấy vậy mà nó lại gây xúc động sâu xa bởi nhà thơ đã nói giúp chúng ta những điều thiêng liêng nhất của tâm hồn.
Chúc bạn học tốt!
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Giọng thơ vẫn nhẹ nhàng nhưng mỗi lần điệp từ vì được lặp lại, dường như cảm xúc lại lắng sâu thêm để tìm về với ngọn nguồn gần gũi và thiêng liêng nhất. Những yếu tố tạo nên động lực của lòng quyết tâm chiến đấu ở người cháu qua từng dòng thơ mỗi lúc một thu hẹp lại về phạm vi: Tổ quốc - xóm làng - người bà - tiếng gà, ổ trứng đã nói lên một quy luật tình cảm vô cùng giản dị: tình cảm gia đình làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương, đất nước và sự thống nhất giữa hai tình cảm cao đẹp này là cội nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người lính. Lòng yêu nước cũng không phải là cái gì xa xôi, lớn lao hay trừu tượng. Đó có thể chỉ là yêu một bếp lửa ấp iu như Bằng Việt; yêu một tiếng gà cục tác, một ổ rơm trứng hồng như Xuân Quỳnh hay yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông như I-li-a Ê-ren-bua chẳng hạn. Nên ở một góc độ nào đó, sự thu hẹp phạm vi ở khổ thơ cuối là cách thức cụ thể hóa lòng yêu nước, làm nổi bật chân lí giản dị: Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. Bài thơ được mở đầu bằng tiếng gà trưa và kết thúc lại trở về với tiếng gà. Nhưng đó không đơn thuần là tiếng gà gọi về tuổi thơ nữa, mà là tiếng gà gọi dậy trong lòng người chiến sĩ bản chất của lòng yêu nước, cái lí do cao cả mà rất đỗi cụ thể, hối thúc bàn chân băng rừng lội suối đấu tranh vì độc lập, thống nhất nước nhà.
Vào một buổi sáng mùa thu năm Ất Dậu (1285), triều đình nhà Trần triệu tập một hội nghị quan trọng tại điện Diên Hồng. Tình hình đất nước đang như "ngàn cân treo sợi tóc". Giặc Nguyên – Mông đang dòm ngó bờ cõi phương Nam. Với dã tâm xâm lược, chúng đã chuẩn bị một lực lượng hùng hậu, kéo quân sang xâm lấn Đại Việt lần thứ hai. Trước họa ngoại xâm, vua Trần Nhân Tông quyết định hỏi ý kiến các bô lão, các công thần và tướng lĩnh để cùng tìm một con đường cứu nước.
Tin hội nghị được truyền đi khắp kinh thành Thăng Long. Trong dòng người nô nức đổ về hoàng cung hôm ấy, có một thiếu niên mới mười sáu tuổi, tên là Trần Quốc Toản. Dù tuổi còn nhỏ, nhưng cậu đã sớm tỏ rõ khí chất phi thường. Nghe tin vua triệu tập hội nghị bàn kế đánh giặc, lòng cậu như lửa đốt. Cậu xin đến dự để góp sức với triều đình. Nhưng vì còn quá trẻ, cậu bị lính canh chặn lại ngay từ cổng điện.
Bị từ chối không cho vào, Trần Quốc Toản đứng lặng người. Mắt cậu tối sầm lại. Cậu không oán trách ai, chỉ thấy lòng mình như bị xát muối. Tại sao giặc đến nơi rồi mà cậu lại không được góp lời bàn chuyện nước non? Bàn tay cậu siết chặt lấy quả cam được một quan đại thần ban cho. Mà không, cậu đâu còn để tâm đến mùi vị quả cam lúc này nữa. Những âm thanh vọng ra từ điện Diên Hồng như từng nhát dao đâm vào lòng cậu. Cậu đứng đó, tay run lên vì giận, vì uất ức, vì bất lực. Và rồi — bụp! — quả cam đã vỡ nát trong tay cậu tự lúc nào. Những giọt nước cam chảy xuống đất, thấm vào mảnh áo lam sờn vai của người thiếu niên.
Một cảm xúc mãnh liệt trào dâng trong lòng Trần Quốc Toản. Không thể đứng nhìn giặc ngoại bang giày xéo giang sơn, cậu quyết tâm hành động. Không được dự hội nghị, thì cậu sẽ dùng hành động để chứng minh tấm lòng vì nước của mình. Về đến nhà, Quốc Toản âm thầm chiêu mộ gia binh, rèn luyện binh sĩ, chuẩn bị lương thảo. Cậu tự thiết kế và cho may một lá cờ lớn với sáu chữ đỏ rực: "Phá cường địch, báo hoàng ân" — tiêu biểu cho tấm lòng trung nghĩa, vì vua, vì nước.
Chỉ trong thời gian ngắn, cậu đã tập hợp được một đội quân nhỏ nhưng đầy quyết tâm và khí thế. Họ luyện tập ngày đêm, sẵn sàng chiến đấu. Dù tuổi đời còn trẻ, Trần Quốc Toản đã sớm tỏ rõ tài thao lược, sự cương nghị và khí phách hiếm thấy. Không lâu sau đó, khi quân Nguyên tràn vào xâm lược nước ta, Quốc Toản cùng đội quân của mình đã lập được nhiều chiến công hiển hách trong các trận đánh ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương…
Tấm gương Trần Quốc Toản không chỉ khiến quân thù khiếp sợ mà còn là niềm tự hào lớn lao của dân tộc. Hình ảnh cậu bé siết chặt quả cam đến nát trong tay đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước mãnh liệt và khí phách quật cường của tuổi trẻ Việt Nam. Dù không được dự bàn việc lớn, cậu đã tự mình viết nên những trang sử chói lọi bằng hành động cụ thể.
Nghĩ đến Trần Quốc Toản, em không khỏi xúc động và khâm phục. Một thiếu niên chỉ mới mười sáu tuổi, nhưng tinh thần yêu nước và trách nhiệm với non sông đất nước lại lớn lao và sâu sắc đến nhường ấy. Cậu không chờ đợi người khác công nhận mình, cũng không buông xuôi khi bị từ chối. Cậu chọn cách hành động — một hành động mạnh mẽ, thiết thực, đầy quyết tâm. Cậu đã chứng minh rằng: tuổi trẻ không phải là rào cản, mà chính là động lực nếu biết sống hết mình vì lý tưởng cao đẹp.
Ngày nay, đất nước không còn chiến tranh, nhưng tinh thần Trần Quốc Toản vẫn luôn sống mãi. Trong học tập, lao động, và xây dựng Tổ quốc, mỗi bạn trẻ chúng em cần noi gương Trần Quốc Toản — không ngại khó, không ngại khổ, dám nghĩ, dám làm và sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước. Chỉ khi đó, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ nối tiếp cha ông, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc.