Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1. Giới thiệu chung
Việt Nam có vị trí địa lí đặc biệt, lãnh thổ kéo dài, địa hình đa dạng, tiếp giáp biển Đông nên tự nhiên phong phú và có sự phân hoá rõ rệt.
2. Sự phân hoá
• Biểu hiện:
• Theo Bắc – Nam: miền Bắc có mùa đông lạnh, miền Nam nóng quanh năm.
• Theo Đông – Tây: từ núi cao xuống đồng bằng rồi ra biển, tự nhiên thay đổi rõ rệt.
• Theo độ cao: núi, trung du, đồng bằng có khí hậu và sinh vật khác nhau.
• Nguyên nhân: Do lãnh thổ trải dài, địa hình phức tạp và ảnh hưởng của biển, gió mùa.
• Ý nghĩa: Góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học, thuận lợi phát triển kinh tế và làm giàu bản sắc văn hoá vùng miền.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gó mùa, chịu tác động kết hợp của Biển Đông và các hoàn lưu gó mùa châu Á. Tuy nhiên do lãnh thổ kéo dài hơn 15 vĩ độ từ Bắc xuống Nam và có nhiều dãy núi chắn gó, khí hậu nước ta phân hóa rõ rệt theo chiều Bắc – Nam. ở miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra), khí hậu mang tính chất cận nhiệt đới gó mùa có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm đạt 22‑24°C, biên độ nhiệt giữa các tháng lớn. Thời tiết có bốn mùa: xuân ẩm, hè nóng mưa nhiều, thu hanh khô và đông lạnh khô hoặc lạnh ẩm; bình đơng bị gó mùa Đông Bắc và bão tác đổ bộ. Miền Trung phía Nam dãy Bạch Mã là vùng chuyển tiếp với khí hậu cận xích đạo gó mùa. Nhiệt độ cao quanh năm, biên độ nhiệt nhỏ; mưa tập trung theo mùa gó Tây Nam (tháng 5–11) và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Khu vực này còn chịu ảnh hưởng của gó phơn Tây Nam, bão và áp thấp nhiệt đới. Miền Nam (Nam Bộ và Tây Nguyên) có khí hậu cận xích đạo gó mùa rõ rệt: nhiệt độ cao ổn định quanh năm (trung bình 26–28°C), hầu như không có mùa đông lạnh; chỉ có hai mùa: mùa mưa do gó mùa Tây Nam và mùa khô do tín phong đông bắc. Lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, số cơn bão ít. Những đặc điểm này thể hiện sự phân hoá khí hậu theo vĩ độ, địa hình và ảnh hưởng của Biển Đông.
Thiên nhiên Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt do lãnh thổ trải dài nhiều vĩ độ, địa hình đa dạng và chịu tác động của gió mùa, biển. Sự phân hóa biểu hiện theo các hướng sau: – Bắc – Nam: Miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra) chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên có mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp, cảnh quan cận nhiệt ẩm với rừng nhiệt đới gió mùa và rừng cận nhiệt ở núi cao; mùa hè nóng ẩm. Miền Nam quanh năm nóng, phân thành mùa mưa và mùa khô rõ rệt, thảm thực vật rừng rậm nhiệt đới và rừng ngập mặn phát triển. – Đông – Tây: Từ khu vực núi cao ở phía tây xuống trung du, đồng bằng rồi ven biển, điều kiện tự nhiên thay đổi rõ rệt. Sườn đón gó phía tây các dãy núi nhận nhiều mưa, khí hậu mát mẻ, rừng phát triển; xuống đồng bằng và ven biển khí hậu nóng hơn, đất cát mặn và đất phù sa chia thành nhiều loại cảnh quan khác nhau. – Theo độ cao: ở đồng bằng và trung du nhiệt độ cao, khí hậu nóng ẩm, thích hợp với cây trồng nhiệt đới; lên cao nhiệt độ giảm, xuất hiện đai ôn đới – á nhiệt với rừng thông, cây lá kim và nhiều loài quý hiếm. Nguyên nhân của sự phân hóa này là vị trí địa lý kéo dài, sự phân bậc địa hình và ảnh hưởng đan xen của các khối khí cùng với biển Đông và gió mùa.
Khí hậu Việt Nam có tính chất nhiệt đối ẩm gió mùa với lượng nhiệt và ẩm dồi dào. Tuy nhiên do lãnh thổ kéo dài gần 15 vĩ độ và bị chắn bởi dãy Bạch Mã nên khí hậu phân hóa thành hai miền: miền Bắc và miền Nam.
• Miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra): khí hậu cận nhiệt đối ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm dưới 20 °C, có 2‑3 tháng nhiệt độ xuống dưới 18 °C, biên độ nhiệt năm lớn. Lượng mưa phân bố không đều theo mùa, có mùa khô lạnh.
• Miền Nam (từ dãy Bạch Mã trở vào): khí hậu cận xích đạo gió mùa, nóng quanh năm. Nhiệt độ trung bình trên 25 °C, biên độ nhiệt năm nhỏ (khoảng 4–5 °C). Có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô; mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
• Nguyên nhân: lãnh thổ nước ta kéo dài theo chiều Bắc – Nam nên nhận được bức xạ và góc chiếu Mặt Trời khác nhau theo vĩ độ. Dãy Bạch Mã là ranh giới khí hậu tự nhiên, chặn gió mùa Đông Bắc không cho lan xuống phía Nam.
• Ý nghĩa: Sự phân hóa khí hậu ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp và sinh hoạt. Miền Bắc có mùa đông lạnh trồng được cây vụ đông và cây cận nhiệt, ôn đối như chè, tỏi, khoai tây, rau xứ lạnh. Miền Nam nóng quanh năm phù hợp với cây công nghiệp nhiệt đới như cà phê, cao su, hồ tiêu; lúa nước có thể gieo trồng 2‑3 vụ/năm. Trong giao thông và đời sống, Miền Bắc có mùa đông mưa phùn, rét đậm và sương muối ở vùng núi cao; Miền Nam chịu hạn hán kéo dài trong mùa khô và ngập lụt trong mùa mưa.
Báo cáo về sự phân hoá tự nhiên Việt Nam: Thiên nhiên nước ta đa dạng do lãnh thổ kéo dài theo vĩ độ và địa hình hướng tây bắc – đông nam. Sự phân hoá được thể hiện: • Theo chiều Bắc‑Nam: Miền Bắc (Bạch Mã trở ra) thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh. Miền Nam khí hậu cận xích đạo nóng âm quanh năm. • Theo chiều Tây‑Đông: Từ dãy Hoàng Liên Sơn vùng Tây Bắc qua dãy Trường Sơn Bắc, Nam Trung Bộ tới các cao nguyên badan Tây Nguyên, địa hình hạ thấp dần ra đồng bằng ven biển và đồng bằng sông Cửu Long. • Theo độ cao: Dưới 600‑700 m là khí hậu nhiệt đới ẩm; 600‑1600 m mát mẻ cận nhiệt; trên 1600 m mát lạnh, thực vật lá kim. Càng lên cao, nhiệt độ giảm, thực vật thay đổi. Sự phân hoá tự nhiên kèm theo sự đa dạng động, thực vật, đất đai và khoáng sản giữa các vùng, góp phần quyết định tới sản xuất nông‑lâm‑nghiệp và tiềm năng du lịch địa phương.
Báo cáo về sự phân hoá khí hậu Việt Nam Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do lãnh thổ trải dài theo chiều Bắc–Nam và địa hình đa dạng nên khí hậu có nhiều sự khác biệt theo vùng, theo hướng.
1. Miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra): Có hai mùa rõ rệt. Mùa đông chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc, khí hậu lạnh, nhiều nơi vùng núi cao nhiệt độ có thể dưới 10°C, một số nơi có sương muối và băng giá. Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều do gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Nam từ biển.
2. Miền Trung: Khí hậu mang tính chuyển tiếp. Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh nhưng ngắn, mùa hạ nóng ẩm. Duyên hải Trung Bộ có mùa mưa lệch vào thu đông do ảnh hưởng của bão và dải hội tụ nhiệt đới. Phía tây dãy Trường Sơn chịu gió phơn Tây Nam khô nóng vào mùa hạ, còn phía đông ven biển có mưa nhiều.
3. Miền Nam: Nam Bộ và Tây Nguyên có khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ cao quanh năm, biên độ nhiệt nhỏ. Có hai mùa mưa và khô rõ rệt; mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
4. Sự phân hoá theo độ cao: Ở vùng núi cao như Hoàng Liên Sơn, khí hậu mát mẻ hoặc lạnh quanh năm, có đai khí hậu cận nhiệt và ôn đới; ở đồng bằng ven biển khí hậu nóng ẩm hơn. Nguyên nhân chính của sự phân hoá khí hậu là vị trí lãnh thổ kéo dài, địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi, hướng mở ra biển Đông và sự hoạt động xen kẽ của các loại gió mùa.
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lãnh thổ kéo dài và địa hình phân hoá dẫn đến sự khác biệt rõ nét giữa các vùng: - Miền Bắc: Mùa đông chịu ảnh hưởng gió mùa đông Bắc, thời tiết lạnh, có nơi rét đậm, vùng núi cao có sương muối; mùa hè chịu gió mùa Tây Nam nóng ẩm, mưa nhiều. Giao mùa có nồm ẩm. - Miền Trung: Phía Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh nhưng ngắn, mùa hè nóng hơn; ven biển Trung Bộ mưa nhiều vào thu – đông do bão và góc gió đông bắc; sườn Tây Trương Sơn khô nóng do gó phơn. - Miền Nam: Khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ cao quanh năm, ít biến động; có hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến 11, mùa khô từ tháng 12 đến 4. - Theo độ cao: Các vùng núi cao như Hoàng Liên Sơn khí hậu mát mẻ, có đai cận nhiệt và ôn đới; vùng đồng bằng ven biển nóng ẩm, có đai nhiệt đối. Nguyên nhân của sự phân hoá khí hậu là vị trí trải dài, địa hình phân bậc, ảnh hưởng của biển Đông và hoạt động khác nhau của các loại gió mùa.
Um
Đây là câu hỏi sao?