Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1:
Khả năng kỳ diệu nhất của con người đó là có được quyền tự do chọn lựa, chọn lựa một thái độ, chọn lựa một cách sống, một cách nhìn
Câu 2:
Những người suy sụp tinh thần hay chấp nhận sự thất bại rồi đưa ra những lý do như là: do không có tiền, không có thời gian, do kém may mắn, do quá mệt mỏi hay tâm trạng chán nản… để biện minh cho việc bỏ qua những cơ hội thuận lợi trong cuộc sống.
Câu 3:
Ý kiến của tác giả là "Bản chất của sự việc xảy đến không quan trọng bằng cách chúng ta đối phó với nó" có nghĩa là đứng trước bất cứ một biến cố, khó khăn hay sự việc nào, con người có quyền được lựa chọn cách đối mặt, cách giải quyết và đương đầu với nó để mà thành công. Những sự việc, biến cố đến bất cứ lúc nào nhưng việc mà chúng ta sẵn sàng dám đối mặt thay vì lấy lí do để mà buông xuôi, thất bại chính là chìa khóa để chúng ta có thể vượt qua được những khó khăn ấy và sống 1 cuộc sống thực sự.
Câu 4:
Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm "Cuộc sống là do chúng ta lựa chọn chứ không phải do may rủi". Vì khi đứng trước một biến cố nào đó, con người có thể lựa chọn cách mà mình đối mặt chứ nó không hề phụ thuộc vào việc mya rủi ra sao. Nếu như ta thực sự cố gắng để mà vượt qua thì chắc chắn sẽ vượt qua được còn khi ta chấp nhận thất bại thì ta sẽ phải nhận thất bại. Đó là do cách chúng ta chọn cách để mà đối mặt chứ ko phải do may rủi.
B.PHẦN LÀM VĂN :
Trong cuộc sống, cách mà mọi người chọn để nghĩ, chọn để làm để đối mặt với mọi vấn đề là yếu tố quyết định thành công. Thật vậy, cuộc sống là khoảng 10% những gì mà xảy đến với con người, còn 90% còn lại là thái độ sống mà chúng ta chọn để mà đối diện với những biến cố đó. Đầu tiên, khi đứng trước một vấn đề khó khăn, người lạc quan và có niềm tin vào bản thân sẽ nhìn thấy cơ hội trong chính những khó khăn đó. Họ sẽ trao cho bản thân quyền được thử, được nghĩ và được làm để mà đương đầu với những khó khăn đó. Họ có tinh thần thép và ý chí, nỗ lực kiên cường vượt qua được mọi gian truân khó khăn. Cuối cùng, khi họ thành công, thành quả mà họ nhận được sẽ tương xứng với những công sức bỏ ra. Họ sẽ nhận thấy rằng quyết định dấn thân tiếp tục vào công việc đó của mình là đúng. Trái ngược lại, những người bi quan và thiếu niềm tin vào bản thân sẽ chỉ nhìn thấy toàn là những ngang trái và trắc trở từ những khó khăn của cuộc sống. Những khó khăn ấy làm cho họ không dám làm gì hết. Họ sẽ chẳng bao giờ thành công; vậy là một cơ hội trong đời lại bị bỏ qua. Trên thực tế, để thành công thì phải thấy được cơ hội từ những khó khăn và nhớ rằng lấy lí do thì bao giờ cũng dễ hơn làm. Tóm lại, con người hoàn toàn có quyền được lựa chọn cách nghĩ, cách làm để mà đương đầu với những khó khăn.
Học tốt!
- Đề 1 thuộc dạng đề có định hướng cụ thể.
- Đề 2 và 3 là những dạng đề mở, yêu cầu người viết phải tự tìm tòi và xác định hướng triển khai.
1. MB: Giới thiệu tác giá, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của bài thơ, vị trí, trích dẫn đoạn thơ.
Nêu luận đề: Bức tranh tràng giang mênh mang, vô tận, hùng vĩ, sự vật bé nhỏ, lạc loài. Tâm trạng của cái tôi trữ tình: cô đơn, bơ vơ, nỗi sầu nhân thế và tình thương nhớ quê hương da diết.
2. TB: HS có thể triển khai bài viết theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đáp ứng những nội dung cơ bản sau:
1. Khổ 1
- Bức tranh thiên nhiên: không gian sông nước mênh mang ( Sóng gợn tràng giang, nước... trăm ngả); Hình ảnh cõi nhân thế (Con thuyền xuôi mái, thuyền về nước lại, củi ... lạc mấy dòng). Tương quan đối lập: Không gian tràng giang bao la >< thế giới của cõi nhân sinh bé nhỏ, đơn côi.
- Tâm trạng cô đơn, lẻ loi, mối sầu trăm ngả của nhân vật trữ tình giữa trời đất.
- Nghệ thuật: Đối lập, đăng đối cấu trúc, thanh điệu, từ láy, đảo cú pháp, phép bồi thấn (sử dụng từ ngữ tăng cấp), hình ảnh cổ điển và hiện đại...
2. Khổ 2
- Thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ (Lớp lớp mây chất chồng thành núi bạc, cánh chim nhỏ làm cho bầu trời thêm mênh mang.)
- Tâm trạng của cái tôi trữ tình: cảm giác bơ vơ, nhỏ nhoi đến tội nghiệp, lòng nhớ quê dâng trào theo con nước triều dâng mà không cần khói sóng.
- Nghệ thuật: Phép đối, dấu hai chấm giữa dòng thơ, từ láy, thi liệu và bút pháp mang đậm màu sắc cổ điển nhưng có sáng tạo, mang màu sắc độc đáo của thơ Mới.
3. Đánh giá chung
- Bức tranh thiên nhiên mênh mang, đậm nét cổ kính, chất Đường thi nhưng gần gũi, gợi linh hồn quê hương xứ sở.
- Đi suốt hai khổ thơ là nỗi buồn triền miên vô tận của cái tôi trữ tình. Nỗi buồn đó là tiêu biểu của cả thế hệ trí thức sống trong những tháng năm ngột ngạt dưới thời Pháp thuộc, sống trên quê hương mà vẫn nhớ quê hương, là biểu hiện tình cảm yêu nước thầm kín mà tha thiết của nhà thơ. Vì thế, đó là nỗi buồn trong sáng, góp phần làm phong phú thêm cho tâm hồn bạn đọc mọi thời đại.
- Nghệ thuật: Yếu tố cổ điển kết hợp màu sắc hiện đại.
4. KB: - Khẳng định vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn của một nhà Thơ Mới, thấm đẫm nỗi buồn của cái tôi Thơ Mới.
- Tình yêu thiên nhiên, yêu non sông đất nước, nỗi sầu nhân thế của Huy Cận mãi mãi chạm tới trái tim của độc giả mọi thời đại.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Fjfjrjfjf
Câu 1 phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận văn học (kết hợp phân tích – bình giảng, có yếu tố biểu cảm).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng, hoang mang trước kiếp người, đồng thời là sự đồng cảm sâu sắc với cái tôi trữ tình của Huy Cận. Đó là cảm giác nhỏ bé của con người trước dòng đời – dòng sông vừa cụ thể vừa biểu tượng.
Câu 3.
Nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông” là:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ sau để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn và nỗi nhớ nhà thường trực của cái tôi trữ tình trong Tràng giang.
Vì đó không chỉ là nỗi buồn trước cảnh sông nước mênh mang mà còn là nỗi buồn nhân thế, nỗi khắc khoải của con người hiện đại trước sự vô hạn của không gian và thời gian, khiến bài thơ vừa cổ điển vừa rất gần gũi với tâm trạng con người hôm nay.
Nói lênsoun
câu 1: phương thức biểu đạt nghị luận
câu 2: nỗi cô đơn và nỗi nhớ nhà
câu 3: Tràng Giang so với thơ xưa thì khi cùng tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông thông qua cảm xúc, cảm nhận nỗi cô đơn bơ vơ của nhân vật trữ tình
câu 4: tác giả phân tích các từ láy (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn) các cặp câu tương xứng, các vế câu vừa rời vừa kết nối
câu 5: Tràng giang tạo nên 1 không gian hoang vắng, đìu hiu. đặc điểm này được tác giả viết và phân tích so sánh chỉ ra nét gặp gỡ và nét riêng của Huy Cận với thơ Đường
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận văn học (kết hợp phân tích, bình luận, cảm thụ).
Câu 2.
Phần (3) thể hiện nỗi bâng khuâng, cô đơn, hoài niệm, xen lẫn suy tư triết lí về thân phận, thời gian, đời người.
Câu 3.
Khác với thơ xưa:
Câu 4.
Các yếu tố ngôn ngữ làm nổi bật “nhịp chảy trôi miên viễn”:
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với cảm giác dòng sông vừa là không gian vừa là thời gian, gợi nỗi cô đơn và nỗi nhớ quê sâu lắng, rất hiện đại mà vẫn cổ điển.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc trân trọng, ngưỡng mộ đối với tài năng và sự sáng tạo của Huy Cận, đồng thời thể hiện sự đồng cảm với nỗi cô đơn, u hoài của nhà thơ trước vũ trụ bao la.
Câu 3.
Trong phần (1) của văn bản, tác giả chỉ ra nét khác biệt của "Tràng giang" so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" là: thơ xưa thường mượn cảnh để tả tình, còn "Tràng giang" không chỉ tả cảnh mà còn thể hiện được cái "tôi" cô đơn, u hoài của nhà thơ trước vũ trụ.
Câu 4.
Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ sau của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang:Hệ thống từ ngữ gợi hình, gợi cảm: "tràng giang", "sóng gợn", "mênh mông", "bèo dạt", "cành khô"...Nhịp điệu chậm rãi, đều đặn: thể thơ thất ngôn, cách gieo vần bằng liên tiếp.Phép điệp từ, điệp ngữ: "sóng gợn tràng giang", "lơ thơ cồn nhỏ"...Câu 5.
Em ấn tượng nhất với đặc điểm "nhịp chảy trôi miên viễn" của bài thơ "Tràng giang" được phân tích trong văn bản. Vì qua sự phân tích này, em cảm nhận sâu sắc hơn về sự vận động không ngừng của thời gian, của vũ trụ, đồng thời thấy được nỗi cô đơn, hữu hạn của con người trước sự vô tận ấy.
Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận (nghị luận văn học), kết hợp với biểu cảm và miêu tả nhằm phân tích, bình luận vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tràng giang.
Câu 2 :
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, trăn trở, suy tư sâu lắng về kiếp người và dòng đời, đồng thời bộc lộ sự đồng cảm, thấm thía trước nỗi buồn nhân thế trong Tràng giang.
Câu 3 :
Ở phần (1), tác giả chỉ ra nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông”:
• Thơ xưa: cái tĩnh vắng mang vẻ an nhiên, tự tại, thanh thản.
• Tràng giang: cái tĩnh vắng lại thấm đẫm nỗi cô đơn, trống vắng, bơ vơ của con người hiện đại, một thế giới quạnh hiu, thiếu vắng sự cảm thông.
Cau 4
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ làm sáng tỏ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang, gồm:
→ Tất cả tạo nên âm hưởng trôi chảy không dứt, như dòng sông chảy qua không gian và thời gian.
Câu 5
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Nghị luận (bình luận, phân tích về bài thơ "Tràng Giang" của Huy Cận).
Câu 2. Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?
Phần (3) nằm ở cuối đoạn văn bản: "Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao..." (kết thúc bị cắt). Dựa vào mạch cảm xúc chung của toàn bộ văn bản là sự phân tích sâu sắc, tâm huyết, và phát hiện ra những giá trị mới mẻ, đặc sắc của bài thơ, ta có thể xác định:
• Cảm xúc, thái độ chính: Ngợi ca, trân trọng, và say mê đối với giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của bài thơ "Tràng Giang".
• Biểu hiện cụ thể: Cụm từ "Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao..." ngụ ý người viết không thể dứt ra được khỏi sức hấp dẫn của bài thơ, thể hiện sự khâm phục và ám ảnh sâu sắc bởi tác phẩm.
Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng Giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?
Dựa vào phần (1) của văn bản:
• Thơ xưa (như Huy Cận thừa hưởng): Tái tạo "tĩnh vắng mênh mông" để được thừa nhận bằng sự an nhiên tự tại.
• "Tràng Giang" của Huy Cận: Tái tạo "tĩnh vắng" nhưng lại cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ.
• Nét khác biệt cốt lõi: Sự tĩnh vắng trong thơ xưa mang ý nghĩa nhập thế, hòa hợp, an nhiên (tịch mịch để trở nên "tĩnh tại" và "thanh vắng"), còn tĩnh vắng trong "Tràng Giang" lại là tĩnh vắng của một cá thể lạc loài, cô đơn tuyệt đối giữa vũ trụ rộng lớn, đi tìm kiếm sự cảm thông nhưng chỉ thấy hoàng hôn và bóng tối.
Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của Tràng Giang?
Trong phần (2), tác giả đã phân tích rất nhiều yếu tố ngôn ngữ để làm nổi bật cái "nhịp chảy trôi miên viễn" (nhịp điệu vô tận) của dòng sông:
• Từ láy, điệp từ, điệp ngữ (tạo nhịp điệu kéo dài, không ngừng):
• Sử dụng các từ láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, đơn đơn..."
• Sử dụng các câu/cụm từ/vần thơ trùng điệp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song."
• Cấu trúc câu thơ và cách ngắt nhịp (tạo cảm giác không dứt):
• Các vế câu cứ cắt rồi, vừa kết nối tiếp nhau như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót./ Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu."
• Cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu:
• Cụm từ: "hàng nối hàng," "Lặng lẽ bờ xanh cát tiếp bãi vàng..."
Tóm lại: Tác giả phân tích từ láy, điệp từ, điệp ngữ và cấu trúc câu thơ tạo ra âm hưởng trôi chảy xuôi vô tận trong lòng bài thơ.
Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng Giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?
Đây là một câu hỏi mở, bạn cần chọn một đặc điểm và lý giải. Dưới đây là một gợi ý:
• Đặc điểm ấn tượng nhất (Gợi ý): Sự khác biệt trong việc tái tạo "tĩnh vắng mênh mông" so với thơ xưa (như phân tích ở Câu 3).
• Lý do (Giải thích):
1. Tính Hiện Đại: Nó thể hiện sự rời bỏ quan niệm cũ của thơ Đường (tĩnh vắng để an nhiên, hòa hợp với thiên nhiên).
2. Khẳng định Cá Nhân: Sự tĩnh vắng trong "Tràng Giang" gắn liền với cái tôi cô đơn, buồn bã, bơ vơ trước vũ trụ, thể hiện tâm trạng của một thế hệ trí thức lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX.
3. Tư Tưởng Sâu Sắc: Điều này biến "Tràng Giang" thành một "thế giới quanh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoàng vắng", nơi cái tôi đi tìm sự cảm thông và đối diện với nỗi niềm nhân thế sâu sắc, làm cho bài thơ không chỉ là tả cảnh mà còn là trữ tình triết lí.
Nếu bạn muốn tôi làm rõ hơn về bất kỳ câu trả lời nào hoặc muốn phân tích sâu hơn về một khía cạnh cụ thể của bài thơ "Tràng Giang", hãy cho tôi biết nhé!
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận
→ Vì văn bản tập trung phân tích, bình luận, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tràng giang.
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng, suy tư về thân phận con người trước dòng đời mênh mang, vô tận.
→ Đó là cảm giác nhỏ bé, hữu hạn của con người khi đối diện với không gian, thời gian rộng lớn và trường tồn.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông” là:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ sau để làm sáng tỏ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
→ Tất cả tạo nên âm hưởng trôi chảy liên tục, vô tận.
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với đặc điểm dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian và tâm hồn con người.
→ Vì đặc điểm này làm cho bài thơ vượt khỏi một bức tranh thiên nhiên thông thường, trở thành biểu tượng cho dòng đời miên viễn và nỗi cô đơn nhân thế, thể hiện chiều sâu triết lí và giá trị nhân văn của Tràng giang.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận văn học, kết hợp với biểu cảm và phân tích. Câu 2. Ở phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, hoài niệm, xen lẫn suy tư triết lí về kiếp người, dòng đời và nỗi nhớ quê hương. Câu 3. Trong phần (1), nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi tái tạo “tính vắng mênh mông” là: Thơ xưa cảm nhận cái vắng bằng sự an nhiên, tự tại. Tràng giang cảm nhận cái vắng bằng nỗi cô đơn, trống trải, bơ vơ của con người hiện đại, gắn với ý thức cá nhân sâu sắc. Câu 4. Ở phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ làm nổi bật “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang, gồm: Từ láy: “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “đìu hiu”… Cấu trúc trùng điệp, đối xứng, nối tiếp câu thơ. Cách ngắt nhịp, vắt dòng, các cụm từ lặp ở cuối câu → tạo âm hưởng trôi chảy, liên hồi, vô tận. Câu 5. Em ấn tượng nhất với cách Huy Cận biến dòng sông thiên nhiên thành dòng sông của thời gian, của kiếp người và nỗi nhớ quê. Vì đặc điểm này vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa thấm đẫm nỗi buồn nhân thế hiện đại, khiến bài thơ có chiều sâu cảm xúc và triết lí.
Câu 1→ Văn bản tập trung phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận, đưa ra nhận xét, lí giải và đánh giá giá trị nội dung – nghệ thuật của tác phẩm.
câu 2 : → Đồng thời thể hiện sự ngợi ca tài năng và chiều sâu tư tưởng của Huy Cận khi gửi gắm suy ngẫm về kiếp người, dòng đời qua hình tượng dòng sông.
câu 3Chính cái động nhỏ nhoi trong không gian bao la đã làm nổi bật nỗi cô đơn và trống trải của con người hiện đại.
câu 4
→ Qua đó, “tràng giang” không chỉ là dòng sông mà còn là dòng đời bất tận.
Câu 5
Câu 1:PTBD là biểu cảm.
Câu 2:trong phần 3 người viết thể hiện thái độ ung dung, tự tại trước dòng sông Trường Giang