K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

28
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

27 tháng 12 2025

Câu 1:

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn

Câu 2:

văn bản viết về đề tài bạn

Câu 3:

- sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản

+ đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện

+ sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em

+ tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích

- tác dụng:

+ làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật

+ giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích

+ tạo sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động

Câu 4:

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- với nhân vật bé Em :

+ ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang

+ sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em

- với nhân vật bé Bịch: sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn

Câu 5:

Bài học:

- tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng

- tình bạn cần sự thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia

- chia sẻ không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác


30 tháng 12 2025

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngăn.

Câu 2. (0,5 điểm)

Văn bản "Áo Tết" viết về đề tài tình bạn.

Câu 3. (1,0 điễm)

- Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kế theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đối điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4. (1,0 điễm)

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5. (1,0 điểm)

Bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

  • Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng.
  • Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia.
  • Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác.


5 tháng 1

Câu 1

Văn bản trên thuộc thể loạitruyện ngan

Câu 1

Thuộc thề loại truyện ngắn

Câu 2

Tình bạn sự sẻ chia thấu hiẻu trong cuộc sống

Câu 3

Điểm nhìn thay đổi từ người kể chuyện (ngôi thứ ba) sang suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật Bích.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu thể hiện tính cách các nhân vật:


Bé em :Ban đầu, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui sướng của trẻ thơ khi được mặc đồ mới. Sau đó, việc bé Em không mặc chiếc áo này khi đi chơi Tết với Bích thể hiện sự tinh tế, thấu hiểu hoàn cảnh bạn, không muốn bạn tủi thân.

Bé bích : Chiếc áo làm nổi bật sự mặc cảm, tự ti của Bích khi thấy bạn có áo đẹp còn mình thì không.

Người mẹ : Cách nhìn nhận "Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được" thể hiện quan điểm vật chất, bề ngoài, đối lập với suy nghĩ sâu sắc của Bích

Câu 5

Từ câu chuyện có thể rút ra bài học về tình bạn và sự sẻ chia

Tình bạn chân chính không dựa trên vật chất hay vẻ bề ngoài mà dựa trên sự thấu hiểu, tôn trọng và đồng cảm. Cần có sự tinh tế, biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để có cách ứng xử phù hợp, không làm tổn thương bạn bè. Sự sẻ chia, thấu hiểu là yếu tố quan trọng giúp xây dựng mối quan hệ bền vững và tốt đẹp. Lòng chân thành và sự quan tâm sâu sắc có giá trị hơn vẻ bề ngoài hào nhoáng

18 tháng 1

c1:văn bản "áo tết " thuộc thể loại truyện ngắn  

c2:văn bản" áo tết" viết về tình bạn 

c3:Sự thay đổi điểm nhìn: Đoạn trích có sự chuyển đổi điểm nhìn từ ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, xưng "Bích" và "bé Em") sang điểm nhìn bên trong nhân vật bé Em (qua suy nghĩ nội tâm của bé Em về chiếc áo đầm hồng và cảm xúc của Bích).Tác dụng: Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên khách quan hơn khi miêu tả sự việc, đồng thời cho phép người đọc thấu hiểu sâu sắc thế giới nội tâm, những suy nghĩ tinh tế, lòng trắc ẩn của nhân vật bé Em và tình bạn đẹp của các em, khiến câu chuyện trở nên cảm động và chân thực hơn.

c4:Chi tiết chiếc áo đầm hồng trong văn bản "Áo Tết" là một chi tiết trung tâm, bộc lộ rõ nét tính cách và hoàn cảnh của các nhân vật:Với bé Em: Chiếc áo đầm hồng đại diện cho niềm khao khát có quần áo mới để đón Tết, một ước mơ giản dị nhưng xa vời với hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, có mẹ kế. Nó làm nổi bật sự tủi thân, mặc cảm và nỗi niềm thầm kín của một đứa trẻ mồ côi cha.Với bé Bích: Khi được mẹ kế của Em tặng chiếc áo này, Bích đã nhận ra ý nghĩa của nó đối với bạn mình. Hành động Bích nhường lại chiếc áo cho Em thể hiện tính cách nhân hậu, biết quan tâm, thấu hiểu và sẵn sàng sẻ chia với bạn bè, dù đó là món đồ mà mới mà có lẽ cô bé cũng thích.

Câu 1

Văn bản thuộc thể loại Truyện ngắn.

Câu 2.

Đề tài về trẻ em và tình bạn (cụ thể là sự thấu hiểu, sẻ chia giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết).

Câu 3.

Điểm nhìn ban đầu tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc của bé Em (hào hứng về chiếc áo mới, muốn khoe với bạn). Sau đó, điểm nhìn chuyển sang hoàn cảnh và nội tâm của Bích (sự tủi thân vì nhà nghèo, sự hiếu thảo nhường nhịn đồ mới cho em). Cuối cùng, điểm nhìn quay lại với sự thức tỉnh trong suy nghĩ của bé Em. tác dụng Giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh và tâm lý của cả hai nhân vật một cách khách quan, đa chiều. Làm nổi bật sự tương phản giữa cái giàu - cái nghèo, từ đó làm tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn và tình bạn chân thành của hai đứa trẻ.

Câu 4.

Chiếc áo đầm hồng là chi tiết đắt giá nhất, mang nhiều tầng ý nghĩa:

  • Với bé Em: Ban đầu nó là niềm kiêu hãnh, là biểu tượng của sự đủ đầy. Nhưng sau đó, việc bé Em quyết định không mặc nó để mặc bộ đồ bình thường giống bạn cho thấy sự tinh tế, lòng trắc ẩn và sự hy sinh vì tình bạn.
  • Với Bích: Là thứ khiến Bích thoáng buồn vì sự thua thiệt của bản thân, nhưng cũng là thước đo cho thấy Bích yêu quý bé Em không vì vật chất ("mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em").
  • Bộc lộ tính cách: Chiếc áo là "phép thử" cho thấy bé Em là cô bé biết quan tâm, không muốn bạn mình bị tổn thương; còn Bích là cô bé hiểu chuyện, bao dung.

Câu 5. Từ câu chuyện, ta rút ra bài học sâu sắc: Tình bạn chân chính không xây dựng trên sự hào nhoáng bên ngoài hay sự tương đồng về vật chất, mà dựa trên sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là sự tiết chế niềm vui riêng để bảo vệ cảm xúc của bạn (như cách bé Em không mặc áo đẹp để Bích không thấy tự ti). Hãy luôn biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông và gìn giữ những mối quan hệ tốt đẹp, vì "người bạn thân" thật sự là người nhìn thấy giá trị con người nhau chứ không phải qua tấm áo họ mặc.

18 tháng 1

Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).


Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình bạn tuổi thơ gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.


Câu 3.

– Điểm nhìn được thay đổi từ bên ngoài (người kể chuyện) sang bên trong – suy nghĩ, cảm xúc của bé Em.

– Việc thay đổi điểm nhìn giúp người đọc hiểu sâu hơn tâm trạng, sự trưởng thành trong nhận thức của bé Em, làm câu chuyện trở nên chân thật, xúc động hơn.


Câu 4.

Chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

– Thể hiện niềm vui, sự háo hức ban đầu của bé Em.

– Đồng thời làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh giữa bé Em và bé Bích.

– Qua đó bộc lộ sự thay đổi trong tính cách bé Em: từ thích khoe sang biết nghĩ cho bạn, biết yêu thương và trân trọng tình bạn hơn vật chất.


Câu 5.

Câu chuyện giúp em hiểu rằng tình bạn chân thành không dựa trên quần áo hay vật chất. Biết sẻ chia, cảm thông với hoàn cảnh của bạn là điều rất đáng quý. Khi yêu thương thật lòng, ta sẽ nghĩ cho cảm xúc của người khác. Sự sẻ chia giúp tình bạn bền chặt và làm con người trở nên tốt đẹp hơn.


18 tháng 1

Câu 1 : văn bản " áo tết " thuộc thể loại truyện ngắn .

Câu 2 : chủ đề của văn bản " áo tết " là tình bạn .

Câu 3 : Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản :

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ 3 , điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện .

+ Sau đó điểm nhìn chuyển sang nội tâm của nhân vật bé Em .

+ Tiếp đó có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích .

Tác dụng :

+ Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của 2 nhân vật .

+ Giúp người đọc đồng cảm , thấu hiểu được suy nghĩ , cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích .

+ Tạo sự chân thực , sinh động , khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên , vừa cảm động .

Câu 4 :

Chi tiết chiếc đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách :

- Với nhân vật bé Em :

+ Ban đầu , nó thể hiện sự hồn nhiên vui tươi , có chút tự hào , muốn được khoe khoang .

+ Sau đó , nó bộc lộ được sự tinh tế , thấu hiểu , lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em .

- Với bé Bích :  sự hiền lành , hiểu chuyện và trân trọng tính bạn .

Câu 5 :

Từ văn bản " áo tết " em rút ra được bài học về tình bạn và sự sẻ chia . Tình bạn đẹp không phụ thuộc vào vật chất , mà dựa trên sự quan tâm , trân trọng và sẻ chia . Sự quan tâm trân thành sẽ giúp người khác cảm nhận được sự trân trọng . Khi biết nghĩ cho bạn bè , thì tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn . Đó chính là vẻ đẹp của tình bạn trong cuộc sống .






 



 


 

19 tháng 1

Câu 1

Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2.

Văn bản "Áo Tết" viết về đề tài tình bạn.

Câu 3.

- Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kế theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điễm nhìn chuyến sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rôi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thế hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4.

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu,lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5.

Bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng.Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia.Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến



20 tháng 1

Câu 1. Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn. Câu 2. Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn, đặc biệt là tình bạn hồn nhiên, trong sáng giữa những đứa trẻ. Câu 3. Trong đoạn trích, điểm nhìn được thay đổi linh hoạt. Ban đầu, câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba, với điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện. Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em, thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc khi bé mặc áo mới rồi chạnh lòng khi nghĩ đến bạn. Tiếp theo, điểm nhìn lại chuyển sang nội tâm của bé Bích, bộc lộ sự tủi thân nhưng vẫn đầy yêu thương, trân trọng tình bạn. Việc thay đổi điểm nhìn giúp làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật, đồng thời giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc suy nghĩ, cảm xúc của các em, khiến câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc hơn. Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật. Đối với bé Em, ban đầu chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui tươi và chút tự hào khi có áo mới, nhưng sau đó lại bộc lộ sự tinh tế, lòng nhân ái và biết nghĩ cho bạn. Đối với bé Bích, chi tiết này cho thấy em là một đứa trẻ hiền lành, hiểu chuyện, dù hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn biết trân trọng và yêu quý tình bạn. Câu 5. Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học rằng tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất. Tình bạn cần được xây dựng bằng sự thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách cư xử và biết quan tâm đến cảm xúc của người khác. Đây chính là điều làm nên một tình bạn đẹp và bền lâu.

Câu 1: Thể loại Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại: Truyện ngắn. Câu 2: Đề tài Đề tài của văn bản: Tình bạn (cụ thể là sự thấu hiểu và sẻ chia giữa những người bạn có hoàn cảnh khác nhau). Câu 3: Điểm nhìn trần thuật và tác dụng Sự thay đổi điểm nhìn: Ban đầu, truyện được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn từ bên ngoài của người kể chuyện để bao quát bối cảnh. Sau đó, điểm nhìn chuyển vào nội tâm nhân vật bé Em: Cho thấy sự háo hức muốn khoe áo mới, nhưng sau đó là sự ngập ngừng, trăn trở khi đối diện với hoàn cảnh của bạn. Tiếp theo là điểm nhìn nội tâm của bé Bích: Bộc lộ sự tủi thân vì nhà nghèo nhưng vẫn giữ sự hồn nhiên, quý mến bạn. Tác dụng: Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh sống và thế giới tâm hồn tinh tế của hai đứa trẻ. Giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc cảm xúc của từng nhân vật, tạo nên sự chân thực và xúc động cho câu chuyện. Câu 4: Ý nghĩa chi tiết "chiếc áo đầm hồng" Chiếc áo đầm hồng là chi tiết quan trọng nhất trong truyện: Với bé Em: Lúc đầu nó là niềm tự hào, là sự hãnh diện về vật chất. Tuy nhiên, qua chi tiết này, ta thấy bé Em là một cô bé nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Khi nhận ra bạn mình chịu thiệt thòi, bé Em đã chọn không mặc chiếc áo đó để đi chơi cùng bạn, nhằm xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo. Với bé Bích: Chiếc áo là biểu tượng cho ước mơ về một cái Tết đủ đầy mà em chưa có được. Dù vậy, Bích không hề đố kỵ mà vẫn khen bạn "sướng rồi". Ý nghĩa chung: Chiếc áo đầm hồng là "phép thử" cho tình bạn. Nó bộc lộ sự tinh tế, biết hy sinh cái tôi cá nhân vì cảm xúc của bạn bè. Câu 5: Bài học về tình bạn và sự sẻ chia (Khoảng 5-7 dòng) Từ câu chuyện của bé Em và bé Bích, em rút ra bài học quý giá rằng tình bạn chân chính không dựa trên sự tương đồng về vật chất hay giàu nghèo. Tình bạn thực sự cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và đặc biệt là sự sẻ chia một cách tinh tế. Sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là việc biết kìm nén niềm vui riêng, biết đặt mình vào hoàn cảnh của bạn để hành xử sao cho bạn không cảm thấy tủi thân. Chính sự chân thành và tinh tế ấy mới là sợi dây gắn kết bền chặt nhất giữa người với người. Bạn có cần mình hỗ trợ phân tích sâu hơn về một chi tiết cụ thể nào khác trong truyện không?

Câu 1. Văn bản Áo Tết thuộc thể loại truyện ngắn. Câu 2. Văn bản viết về đề tài tình bạn, đặc biệt là tình bạn hồn nhiên, trong sáng giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau. Câu 3. Sự thay đổi điểm nhìn: Ban đầu: điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba, quan sát từ bên ngoài. Sau đó: chuyển sang điểm nhìn nội tâm của bé Em (suy nghĩ, do dự khi muốn khoe áo). Cuối cùng: chuyển sang điểm nhìn nội tâm của bé Bích (tủi thân nhưng vẫn trân trọng bạn). Tác dụng: Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng hai nhân vật. Giúp người đọc hiểu sâu, đồng cảm với cả bé Em và bé Bích. Khiến câu chuyện chân thực, cảm động hơn. Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng có ý nghĩa tiêu biểu: Với bé Em: Ban đầu thể hiện sự hồn nhiên, thích khoe, tự hào. Sau đó cho thấy sự tinh tế, biết nghĩ cho bạn, trân trọng tình bạn hơn vật chất. Với bé Bích: Thể hiện sự hiền lành, hiểu chuyện, không ganh tị và rất quý mến bạn. Câu 5. Từ câu chuyện, em rút ra bài học: Tình bạn chân chính không dựa vào giàu nghèo hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết thấu hiểu, quan tâm và sẻ chia với nhau. Sự sẻ chia đôi khi chỉ là biết đặt mình vào cảm xúc của người khác. Khi trân trọng tình bạn, niềm vui sẽ trở nên trọn vẹn hơn.

C1 truyện ngắn

C2

Đề tài về tình bạn, sự thấu hiểu và sẻ chia trong cuộc sống, đặc biệt là tâm lý trẻ thơ trong bối cảnh chuẩn bị đón Tết.

Câu 3: Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn và tác dụng.

Chỉ ra sự thay đổi: Đoạn trích có sự chuyển dịch điểm nhìn từ người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể giấu mặt, quan sát câu chuyện) sang điểm nhìn của nhân vật (suy nghĩ, cảm xúc bên trong của bé Bích và bé Em).

Tác dụng:

Giúp câu chuyện trở nên khách quan nhưng cũng đầy sâu sắc, tinh tế.

Diễn tả chân thực những chuyển biến tâm lý, sự thấu hiểu và lòng vị tha của các nhân vật nhỏ tuổi.

Làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của trẻ thơ: sự hồn nhiên, không tính toán và luôn trân trọng tình bạn chân chính hơn những giá trị vật chất bên ngoài.

C4

Chi tiết này khẳng định giá trị của tình bạn cao hơn mọi giá trị vật chất. Nó cho thấy vẻ đẹp của sự thấu hiểu và đức hy sinh thầm lặng của trẻ thơ.

C5

Qua câu chuyện của bé Em và bé Bích, em nhận ra rằng tình bạn chân chính không xây dựng trên sự hào nhoáng bên ngoài mà dựa trên sự thấu hiểu và sẻ chia. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất, mà đôi khi là sự tinh tế khi biết tiết chế cái tôi của mình để bảo vệ lòng tự trọng và niềm vui cho bạn. Trong cuộc sống, chúng ta cần biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để cảm thông và yêu thương. Đó chính là sợi dây gắn kết bền chặt nhất giúp tình bạn trở nên cao đẹp và ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Câu 5: Bài học về tình bạn và sự sẻ

18 tháng 3

câu 1 : truyện ngắn

câu 2 : viết về tình bạn

cấu 3 : Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và giàu cảm xúc hơn.Cho phép người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm tư, tình cảm, và sự trưởng thành trong nhận thức của nhân vật "tôi" về tình yêu thương vô điều kiện của mẹ.Tạo sự đồng cảm mạnh mẽ giữa độc giả với nhân vật và thông điệp ý nghĩa của tác phẩm về tình mẫu tử.

câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm màu hồng, thắt nơ, viền kim tuyến trong áo tết là điểm nhấn nghệ thuật quan trọng, thể hiện sự tinh tế, giàu tình cảm và lòng nhân hậu của nhân vật bé Em. Nó không chỉ là bộ quần áo đẹp nhất mà còn là biểu tượng của sự sẻ chia, tình bạn chân thành vượt lên trên điều kiện vật chất. 

câu 5



18 tháng 3

Câu 1.Văn bản thuộc thể loại: truyện ngắn 

Câu 2.Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn

Câu 3.

Sự thay đổi điểm nhìn:
Ban đầu câu chuyện được kể theo điểm nhìn của bé Em, sau đó chuyển sang bé Bích rồi lại quay về bé Em.

Tác dụng:Giúp câu chuyện trở nên chân thực, sâu sắc hơn.Làm nổi bật cảm xúc, suy nghĩ của cả hai nhân vật.Tăng tính đồng cảm, giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh và tấm lòng của từng người.

Câu 4.

Ý nghĩa chi tiết chiếc áo đầm hồng:

Là biểu tượng cho niềm vui, sự háo hức của bé Em trong dịp Tết.Thể hiện sự hồn nhiên, thích khoe nhưng cũng biết nghĩ cho bạn của bé Em.Đồng thời làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh với bé Bích
Qua đó làm nổi bật:

Bé Em: vô tư nhưng biết quan tâm, dần trưởng thành trong suy nghĩ.

Bé Bích: hiền lành, tự trọng, không ganh tị.

Câu 5. Từ câu chuyện, em rút ra rằng tình bạn không nằm ở vật chất mà ở sự chân thành và thấu hiểu. Dù hoàn cảnh khác nhau, những người bạn thật sự vẫn biết quan tâm và nghĩ cho nhau. Không nên khoe khoang hay so sánh làm tổn thương bạn bè. Thay vào đó, hãy học cách chia sẻ, đồng cảm và trân trọng nhau. Một tình bạn đẹp là khi ta ở bên nhau bằng sự chân thành, không vì giàu nghèo. Điều đó mới làm nên giá trị bền lâu của tình bạn.




18 tháng 3

câu 1:văn bản thuộc thể loại truyện ngắn

câu2: văn bản viết về đề tài tình bạn

câu 3: Điểm nhìn trong đoạn trích có sự chuyển dịch linh hoạt

Điểm nhìn từ ngừời kể chuyện: Giúp bao quát toàn bộ câu chuyện và bối cảnh.

Điểm nhìn từ bé Sâu : Đi sâu vào thế giới nội tâm, những suy nghĩ ngây thơ nhưng đầy thấu cảm của đứa trẻ.

Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên khách quan nhưng cũng rất sâu sắc; giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm và sự tinh tế trong tâm hồn của các nhân vật nhỏ tuổi.

câu 4: vẻ đẹp của con người không nam ơ manh áo bên ngoại mà ở tầm lòng danh cho nhau.


Câu 1. Văn bản "Áo Tết" thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2. Văn bản khai thác đề tài về tình bạn trong cuộc sống, đặc biệt là tình bạn giữa những đứa trẻ trong hoàn cảnh có sự khác biệt về điều kiện kinh tế, qua đó làm nổi bật ý nghĩa của sự sẻ chia và thấu hiểu.

Câu 3. Trong đoạn trích, điểm nhìn trần thuật có sự thay đổi linh hoạt. Ban đầu, câu chuyện được nhìn chủ yếu từ góc nhìn của bé Em với tâm trạng háo hức, vui vẻ khi có áo mới. Sau đó, điểm nhìn chuyển sang bé Bích để làm nổi bật hoàn cảnh nghèo khó cũng như tâm trạng của nhân vật này. Việc thay đổi điểm nhìn như vậy giúp câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc hơn, đồng thời giúp người đọc hiểu rõ cả hai nhân vật, từ đó làm nổi bật ý nghĩa nhân văn của tác phẩm.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện nội dung và tính cách nhân vật. Đối với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm tự hào và là điều em muốn chia sẻ với bạn, qua đó thể hiện sự hồn nhiên, vô tư của tuổi nhỏ. Ngược lại, đối với bé Bích, chiếc áo lại gợi lên sự thiếu thốn và hoàn cảnh khó khăn của em, khiến em có chút chạnh lòng nhưng vẫn giữ được sự hiền lành và tự trọng. Từ đó, chiếc áo trở thành biểu tượng cho sự khác biệt giàu – nghèo, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của tình bạn khi hai đứa trẻ vẫn gắn bó, quan tâm và nghĩ cho nhau.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn chân thành không phụ thuộc vào vật chất hay sự hơn thua. Trong cuộc sống, mỗi người cần biết yêu thương, tôn trọng và thấu hiểu bạn bè, không nên vô tình làm tổn thương người khác chỉ vì sự khác biệt hoàn cảnh. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần học cách chia sẻ, đồng cảm với những khó khăn của người xung quanh và trân trọng những gì mình đang có. Chính sự chân thành và cảm thông sẽ giúp tình bạn trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn.


18 tháng 3

Câu 1: văn bản áo tết thuộc thể loại truyện ngắn

Câu2: văn bản áo tết viết về đề tài tình bạn

Câu3:

-sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ 3, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện

+ Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em (những suy nghĩ cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngưng trăn trở khi nhìn bạn)

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích (cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn)

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của 2 nhân vật

+ giúp người đọc đồng cảm thấu hiểu được suy nghĩ cảm xúc sâu kín của ca bé em và bé bích

+ tạo nên sự chân thực sinh động khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên vừa cảm động

Câu 4: chi tiết chụp áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách của các nhân vật:

-với nhân vật bé em:

+ ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi ,có chút tự hào muốn được khoe khoang

+ sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu ,lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé em

-với nhân vật bé bích: sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn

Câu 5: bài học về tình bạn và sự sẻ chia:

- tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng

- tình bạn cần có sự thấu hiểu đồng cảm và sự sẻ chia

- Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử quan tâm đến cảm xúc của người khác

bài làm

câu 1: văn bản thuộc thể loaị truyện ngắn

câu 2: đề tài của văn bản "Áo tết" là đề tài tình bạn , sự thấu hiểu và sẻ chia trong cuộc sống

câu 3: điểm nhìn trần thuật thay đổi từ người kể chuyện( ngôi thứ ba) sang điểm nhìn của các nhân vật ( bé Em , bé Bích)

tác dụng: việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên đa chiều , khách quan hơn. nó giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm tư , tình cảm và cach suy nghĩ hồn nhiên nhưng đầy nhân hâu của các nhân vật, từ đó làm nổi bật lên chủ đề tình bạn chân thành

câu 4 ý nghĩa của chiếc áo đầm hồng là thưoc đo lòng nhân hậu, khẳng định tình bạn thật sự không bị ngăn cách bởi vật chất hay vẻ bề ngoài

câu 5: qua câu chuyện "áo tết" em rút ra được bài học quý giá về sự chân thành trong tình ban. một tình bạn đẹp không xây dựng trên sự hao nhoáng của nhân vật hay vẻ bề ngoài mà kết nối bằng sự thấu hiểu và sẻ chia. chúng ta cần biết quan tâm đến cảm xúc của bạn be, đặt minh vào hoàn canh của ngưoi khác để cảm thong. chỉ một hành động nho cũng giúp tình bạn của chúng ta theem bền chặt

Câu 1 : văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2: Văn bản viết về đề tài tình bạn

Câu 3: Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản : đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi kể thứ ba,điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

Sau đó điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật em bé

  Tiếp đó có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích

Tác dụng là :

Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật.

Giúp người đọc đồng cảm thấu hiểu được suy nghĩ ,cảm xúc sâu kín của bé Em và bé Bích

Câu 4 :

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách của các nhân vật :

Nhân vật bé Em:

+ Nan đầu hồn nhiên vui tươi có chút tự hào,muốn được khoe khoang

+ Sau đó sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạ của bé Em

Nhân vật bé Bích : sự hiền lành ,hiểu chuyệnvà biết trân trọng tình bạn

Câu 5

Tình bạn là một thứ tình cảm vô cùng quan trọng đối với con người.Vậy liệu có ai lại không xó tình bạn? Nếu thế thì tôi tin chắc rằng không hề có người như vậy.Tình bạn là thứ tình cảm tốt đẹp ,bền vững. Nó giúp cuộc sốnh thêm nhiều người tốt, ,giúo ta xả stress sau những lầm mệt mởi. Tình bạn thật tuyệt vời! Những người bạn này sẽ luôn cùng ta tiến bước và ủng hộ ta. Giúp ta có thên nhiều động lực trong cuộc sống. Vì vậy hãy trân trọng tình bạn khi còn có thể.


câu 1 văn bản trên thuộc theer loại truyện ngắn

câu 2 đề tài của văn bản là nói về Tình bạn

câu 3 thay đổi điểm nhìn và tác dụng là

sự thay đổi : điểm nhìn chuyển từ suy nghĩ của bé Em lo lắng cho bạn muốn mặc đồ xấu để bạn không tự ti sang suy nghĩ của Bích sự trân trọng tình cảm của bạn dù bạn mặc gì đi nưa

câu 4 ý nghĩa chi tiết “ chiếc áo đầm hồng”

với bé Em: thể hiện lòng vị tha và một tình bạn chân thành sẵn sàng từ bỏ niềm vui mặc đồ đẹp để bảo vệ lòng tự trọng của bạn

với Bích: là sự hồn nhiên của trẻ thơ nhưng cũng rất chu đáo và thấu hiểu Bích yêu quý bé Em vì con người thật của bé Em chứ không phải vi vẻbề ngoài hay đồ áo đẹp

câu 5 Qua câu chuyện của bé Em và Bích em rút ra được bài học quý giá rằng tình bạn thực sự không hình thành từ những điều hào nhoáng bên ngòai hay vật chất xa xỉ .Sự sẽ chia đôi khi không phải cho đi tiền bạc mà là sự thấu hiểu biết đặt mình vào hoàn cảnh của bạn để thấu hiểu và giữ gìn lòng tự trọng cho nhau Mootj người bạn tốt là một người trân trọng giá trị của tâm hồn đẹp đẽ chứ không phải qua cái áo cái quần hay vật chất bên ngoài . Chúng ta nên học cách yêu thương nhau một cách giản dị như tình bạn của bé Em và Bích

18 tháng 3

Câu 1

Văn bản áo tết thuộc thể loại truyện ngắn

Câu 2

Văn bản trên viết về đề tài tình bạn

Câu 3

Sự thay đổi điểm nhìn của văn bản là từ đầu dùng ngôi kể thứ ba sau chuyển sang nhân vật bé em , tác dụng tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài văn giúp người đọc hiểu được suy nghĩ của nhân vật thấu hiểu được tình bạn

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản thể hiện tính cách của nhân vật đối với bé em lúc đầu vui tươi hồn nhiên dần về sau bộc lộ sự thấu hiểu trong tình bạn còn với Bích là hiểu chuyện và trân trọng tình bạn

Câu 5

Văn bản trên cho ta thấy được ở tình bạn không chỉ là vật chất hay sự giàu nghèo mà nó nằm ở tinh thần sự sẻ chia cảm thông với nhau biết thấu hiểu san sẽ nỗi buồn cũng như niềm vui của nhau cũng như quan tâm chăm sóc lẫn nhau


20 tháng 3

Câu 1: Văn bản thuộc thể loại: truyện ngắn.

Câu 2: Văn bản “ Áo Tết” thuộc đề tài tình bạn

Câu 3: Sự thay đối điếm nhìn trong văn bản:

+ Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.

+ Sau đó, điếm nhìn chuyến sang nội tâm nhân vật bé Em (Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn).

+ Tiếp đó, có những đoạn lại theo điếm nhìn nội tâm của bé Bích (Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn).

- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:

+ Làm nổi bật sự khát biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.

+ Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích.

+ Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động.

Câu 4:Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật:

- Với nhân vật bé Em:

+ Ban đầu, nó thế hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang.

+ Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn cúa bé Em.

- Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiếu chuyện và biết trân trọng tình bạn.

Câu 5:

Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn chân thành không phụ thuộc vào vật chất mà nằm ở sự thấu hiểu và quan tâm lẫn nhau. Trong cuộc sống, mỗi người có hoàn cảnh khác nhau nên cần biết cảm thông, tránh khoe khoang làm tổn thương bạn bè. Sự tinh tế trong cách cư xử sẽ giúp giữ gìn tình bạn bền lâu. Đồng thời, chúng ta nên biết chia sẻ, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình. Một tình bạn đẹp là khi cả hai luôn nghĩ cho nhau và cùng nhau vượt qua những thiếu thốn trong cuộc sống.



Câu 1:

Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn.

Câu 2:

Văn bản “Áo Tết” viết về tình bạn, thể hiện sự quan tâm, thấu hiểu và sẻ chia giữa những người bạn nhỏ.

Câu 3:

  • Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản:
  • Phần đầu được kể theo ngôi thứ ba, với điểm nhìn của người kể chuyện từ bên ngoài.
  • Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm của bé Em.
  • Tiếp theo, điểm nhìn lại chuyển sang nội tâm của bé Bích.
  • Tác dụng:
  • Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật.
  • Giúp người đọc hiểu rõ hơn suy nghĩ, cảm xúc của từng nhân vật.
  • Làm cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động và thể hiện tình bạn hồn nhiên, cảm động.

Câu 4:

Chi tiết chiếc áo đầm hồng có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật:

  • Đối với bé Em:
  • Ban đầu, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, vui vẻ và một chút tự hào của bé.
  • Sau đó, chi tiết này cho thấy bé Em là người tinh tế, biết quan tâm, thấu hiểu và trân trọng tình bạn.
  • Đối với bé Bích:
    Chi tiết chiếc áo cho thấy bé Bích là người hiền lành, hiểu chuyện và biết quý trọng tình bạn.

Câu 5:

Qua câu chuyện, tác giả gửi gắm bài học về tình bạn và sự sẻ chia. Tình bạn chân thành không phụ thuộc vào điều kiện vật chất hay sự giàu nghèo. Trong tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và quan tâm đến cảm xúc của nhau. Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn thể hiện ở cách cư xử tinh tế, biết nghĩ cho người khác.


3 giờ trước (20:18)

Câu 1 Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn Câu 2 Văn bản “Áo Tết” viết về đề tài tình bạn Câu 3 – Sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản: + Đoạn trích ban đầu được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện + Sau đó, điểm nhìn chuyển sang nội tâm nhân vật bé Em: Những suy nghĩ, cảm xúc khi muốn khoe áo mới rồi sự ngập ngừng, trăn trở khi nhìn bạn + Tiếp đó, có những đoạn lại theo điểm nhìn nội tâm của bé Bích: Cảm thấy tủi thân nhưng vẫn thể hiện sự quý mến bạn – Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn trong văn bản: + Làm nổi bật sự khác biệt về hoàn cảnh và tâm trạng của hai nhân vật + Giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc sâu kín của cả bé Em và bé Bích. + Tạo nên sự chân thực, sinh động, khiến tình bạn hiện lên vừa hồn nhiên, vừa cảm động

Câu 4 Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ tính cách các nhân vật: – Với nhân vật bé Em: + Ban đầu, nó thể hiện hồn nhiên, vui tươi, có chút tự hào, muốn được khoe khoang + Sau đó, nó bộc lộ được sự tinh tế, thấu hiểu, lòng nhân ái và sự trân trọng tình bạn của bé Em – Với nhân vật bé Bích: Sự hiền lành, hiểu chuyện và biết trân trọng tình bạn Câu 5 Bài học về tình bạn và sự sẻ chia: – Tình bạn chân chính không dựa trên sự giàu nghèo hay những giá trị vật chất hào nhoáng – Tình bạn cần có sự thấu hiểu, đồng cảm và sự sẻ chia – Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự tinh tế trong cách đối xử, quan tâm đến cảm xúc của người khác

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂNThế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày “chưa cười đã tối” vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi “hôi” cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...”

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

1
1 tháng 12 2024

Xhcjfjgcc

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

10
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


Câu 1. (2,0 điểm)Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.            CHÂN QUÊ     Hôm qua em đi tỉnh về,     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!     Nào đâu cái yếm lụa sồi?     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?     Nào...
Đọc tiếp

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh "Hoa chanh nở giữa vườn chanh" trong bài thơ dưới đây.

            CHÂN QUÊ

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Đợi em ở mãi con đê đầu làng.

     Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng.

     Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

     Nào đâu cái yếm lụa sồi?

     Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

     Nào đâu cái áo tứ thân?

     Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?


     Nói ra sợ mất lòng em,

     Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.

     Như hôm em đi lễ chùa,

     Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

     Hoa chanh nở giữa vườn chanh,

     Thầy u mình với chúng mình chân quê.

     Hôm qua em đi tỉnh về,

     Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

                                      (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến sau đây: Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại. (Barack Obama)

10
19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:

Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.


Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:

Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.

Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.

Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.

Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.

19 tháng 9 2025

tặng mik mấy xu đi

1 xu cx đc nha

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
17 tháng 9 2025

câu 1

Nhân vật bé Em trong truyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư là một hình ảnh tiêu biểu cho sự ngây thơ, trong sáng nhưng cũng đầy sâu sắc và tình cảm. Bé Em, một cô bé khoảng 10 tuổi, sống cùng bà trong một ngôi nhà nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ. Dù hoàn cảnh khó khăn, bé Em luôn giữ trong mình niềm vui và hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chiếc áo Tết mới không chỉ là một món quà vật chất mà còn là biểu tượng của những ước mơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa của em. Bé Em rất yêu quý chiếc áo này, không chỉ vì nó đẹp mà còn vì đó là món quà duy nhất mà bà có thể tặng.

Tính cách của bé Em được thể hiện qua sự nhạy cảm và tinh tế trong cách em đối xử với mọi người xung quanh. Em luôn quan tâm, chăm sóc bà, hiểu được nỗi khổ của bà và không phàn nàn về hoàn cảnh khó khăn. Tình bạn chân thành của bé Em với Bích cũng là một điểm sáng trong truyện. Dù hoàn cảnh gia đình khác nhau, bé Em luôn quan tâm và chia sẻ với bạn, không khoe khoang về những bộ đồ mới của mình khi biết Bích chỉ có một bộ đồ mới cho Tết.

Những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa của bé Em thể hiện sự cảm thông sâu sắc và lòng yêu thương vô bờ bến. Em luôn cố gắng làm cho bạn cảm thấy vui vẻ và không bị tự ti về hoàn cảnh của mình. Qua nhân vật bé Em, Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình, sự hy sinh và lòng yêu thương, đồng thời khắc họa một hình ảnh tuổi thơ trong sáng nhưng cũng đầy nghị lực và hy vọng.

câu 2

Từ truyện ngắn "Áo Tết", chúng ta học được rằng tình bạn và sự đồng cảm còn quý hơn vật chất. Nhân vật bé Em đã cho thấy sự trưởng thành khi nhận ra giá trị tinh thần này, nhắc nhở mỗi người cần biết cân bằng giữa nhu cầu vật chất và giá trị tinh thần, đặt tình cảm, sự sẻ chia lên trên vật chất phù phiếm. Để xây dựng lối sống hài hòa, ta cần rèn luyện lòng nhân ái, thực hành sẻ chia từ việc nhỏ, tham gia các hoạt động cộng đồng và xây dựng môi trường giáo dục đề cao giá trị tinh thần. 
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Nhân vật “em” trong văn bản Áo Tết hiện lên là một cô bé hồn nhiên, giàu cảm xúc và có sự trưởng thành trong nhận thức. Ban đầu, “em” mang tâm lí rất tự nhiên của tuổi thơ: háo hức, mong chờ chiếc áo Tết mới như một niềm vui vật chất cụ thể, gắn với ước mơ được bằng bạn bằng bè. Khi không có được chiếc áo như mong muốn, “em” buồn tủi, chạnh lòng, thậm chí có phần tủi thân trước bạn bè. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh ấy, “em” đã có sự chuyển biến quan trọng trong suy nghĩ. Qua tình bạn chân thành, sự quan tâm và chia sẻ mộc mạc của bạn bè, “em” nhận ra rằng niềm vui tinh thần, sự yêu thương và gắn bó mới là điều đáng trân trọng. Nhân vật “em” vì thế không chỉ đáng yêu mà còn đáng quý ở khả năng tự nhận thức và lớn lên trong tâm hồn. Hình ảnh “em” góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn của tác phẩm: giá trị tinh thần bền vững hơn những niềm vui vật chất nhất thời.

Câu 2.

Trong văn bản Áo Tết, nhân vật “em” đã nhận ra rằng tình bạn chân thành quý giá hơn chiếc áo đầm mới. Câu chuyện giản dị ấy gợi ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống hiện đại: làm thế nào để xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Không thể phủ nhận vai trò của vật chất trong cuộc sống. Vật chất đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, học tập, giúp con người sống thuận tiện và an toàn hơn. Đối với tuổi trẻ, những mong muốn về trang phục đẹp, đồ dùng mới hay tiện nghi hiện đại là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, khi con người quá đề cao vật chất, dễ rơi vào lối sống chạy theo hình thức, so sánh hơn thua, từ đó đánh mất niềm vui giản dị và các mối quan hệ chân thành.

Giá trị tinh thần, ngược lại, là nền tảng bền vững nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là tình bạn, tình thân, lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm giác được yêu thương. Những giá trị này không thể đo đếm bằng tiền bạc nhưng lại quyết định hạnh phúc lâu dài của mỗi người. Câu chuyện trong Áo Tết cho thấy khi “em” nhận được sự cảm thông và tình bạn chân thành, nỗi buồn vì thiếu thốn vật chất dần được xoa dịu. Điều đó chứng tỏ đời sống tinh thần có sức mạnh lớn lao trong việc giúp con người vượt qua khó khăn.

Để xây dựng lối sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, trước hết mỗi người cần biết đủ. Biết trân trọng những gì mình có sẽ giúp ta không bị cuốn vào vòng xoáy chạy theo vật chất. Bên cạnh đó, cần rèn luyện thói quen quan tâm đến người khác: lắng nghe, chia sẻ, giúp đỡ khi có thể. Chính những hành động nhỏ ấy nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động tập thể, đọc sách, rèn luyện thể thao, sống gần gũi với gia đình cũng giúp con người cân bằng giữa nhu cầu vật chất và đời sống nội tâm.

Đặc biệt với học sinh, việc cân bằng này càng quan trọng. Không nên đánh giá bản thân hay bạn bè qua quần áo, đồ dùng, mà cần coi trọng nhân cách, sự chân thành và nỗ lực trong học tập. Khi biết đặt giá trị tinh thần song hành với vật chất, con người sẽ sống nhẹ nhàng, nhân ái và hạnh phúc hơn.

Tóm lại, câu chuyện Áo Tết gửi gắm bài học sâu sắc: vật chất cần thiết nhưng không phải là tất cả. Một lối sống hài hòa, biết trân trọng cả giá trị vật chất lẫn tinh thần chính là con đường giúp con người đạt tới hạnh phúc bền lâu.


16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.Mẹ con bác...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

   (Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Theo anh/chị, nhà văn đã thể hiện tình cảm gì đối với nhân vật? Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm đó.

3
24 tháng 11 2019

Tình cảm của nhà văn: Yêu thương, xót xa, ái ngại cho cảnh ngộ nghèo khổ của nhà bác Lê. Đó là tình cảm nhân đạo sâu sắc.

20 tháng 10 2024

Hãy nêu chủ đề của văn bản gió lạnh đầu mùa