K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

S
9 tháng 8 2025

Cuộc chiến chống lại quân đội Nhật Bản năm 1943: Một trang sử bi tráng


Năm 1943 là một năm đầy biến động và đau thương đối với nhiều quốc gia châu Á, đặc biệt là Việt Nam, khi đất nước phải đối mặt với một kẻ thù hung bạo và tàn ác: đế quốc Nhật Bản. Cuộc chiến này không chỉ là một cuộc đấu tranh vũ trang mà còn là một cuộc đấu tranh sinh tồn, bảo vệ dân tộc trước những chính sách cai trị hà khắc và tội ác diệt chủng của phát xít Nhật.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, Nhật Bản đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ và đặt chân lên Đông Dương. Chúng đã sử dụng chiến lược "liên minh" với thực dân Pháp để bóc lột tài nguyên và đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta. Tuy nhiên, bản chất tham lam và tàn bạo của chúng sớm bộc lộ. Năm 1943, nạn đói khủng khiếp đã hoành hành khắp Việt Nam, giết chết hơn 2 triệu người. Nạn đói này không phải là do thiên tai mà là hệ quả của chính sách vơ vét lương thực, thóc gạo của quân đội Nhật để phục vụ cho cuộc chiến tranh của chúng. Hình ảnh những người dân gầy gò, đói rách, nằm chết la liệt bên lề đường đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng trong lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh đó, Đảng và Bác Hồ đã nhận thấy rõ bản chất của quân đội Nhật và đã chủ trương thành lập các đội du kích, căn cứ cách mạng để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, các phong trào chống Nhật đã bùng lên mạnh mẽ. Các đội du kích đã sử dụng chiến thuật "du kích chiến", "nhân dân chiến" để tấn công các đồn bốt, kho tàng của địch. Mặc dù vũ khí thô sơ, lực lượng nhỏ bé nhưng với tinh thần yêu nước, dũng cảm, quân và dân ta đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề cho quân đội Nhật. Những chiến thắng nhỏ lẻ đã trở thành nguồn động viên to lớn, thắp lên ngọn lửa hy vọng trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Năm 1943, cuộc chiến chống Nhật Bản không chỉ diễn ra ở chiến trường mà còn diễn ra trên mặt trận chính trị. Mặt trận Việt Minh đã liên kết các tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến tư sản dân tộc, cùng nhau đứng lên chống lại kẻ thù chung. Bằng những khẩu hiệu, những tuyên truyền hiệu quả, Việt Minh đã vạch trần tội ác của phát xít Nhật, kêu gọi nhân dân đồng lòng, đoàn kết, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành độc lập.

Cuộc chiến năm 1943 đã trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc. Nó không chỉ cho thấy sự tàn bạo, độc ác của đế quốc Nhật mà còn khẳng định tinh thần bất khuất, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam. Mặc dù phải chịu nhiều đau thương, mất mát nhưng chính trong gian khó, nhân dân ta đã rèn luyện, trưởng thành, chuẩn bị cho thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngày nay, khi nhìn lại trang sử bi tráng năm 1943, chúng ta càng trân trọng hơn nữa giá trị của độc lập, tự do. Chúng ta mãi ghi nhớ công ơn của các thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, để chúng ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc như ngày hôm nay.

Năm 1943, trong bối cảnh Thế chiến thứ II đang diễn ra ác liệt, Việt Nam phải chịu ách thống trị kép của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, trong đó có những trận chiến oanh liệt của quân và dân ta chống lại sự tàn bạo của quân đội Nhật.

Bối cảnh lịch sử
Từ năm 1940, Nhật đưa quân vào Đông Dương, biến nơi đây thành căn cứ quân sự. Chúng bóc lột nhân dân ta bằng chính sách "Nhổ lúa trồng đay", gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 khiến hơn 2 triệu người chết. Trước tội ác đó, nhiều phong trào kháng Nhật đã bùng nổ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Việt Minh.

Những trận chiến ác liệt
Năm 1943, lực lượng du kích và quân giải phóng liên tiếp tấn công đồn bốt Nhật. Tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, nhiều trận phục kích khiến quân Nhật tổn thất nặng. Đặc biệt, trận đánh đồn Phai Khắt (Cao Bằng) do đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thực hiện đã tiêu diệt nhiều lính Nhật, thu vũ khí, cổ vũ tinh thần nhân dân.

Hậu quả và ý nghĩa
Dù lực lượng còn non yếu, những trận đánh năm 1943 đã góp phần làm suy yếu quân Nhật, chuẩn bị tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám 1945. Sự hy sinh của các chiến sĩ là minh chứng cho lòng yêu nước và ý chí "thà chết tự do còn hơn sống nô lệ".

Kết luận
Cuộc chiến chống Nhật năm 1943 là trang sử bi hùng của dân tộc. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ phải ghi nhớ công ơn của những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tham khảo

9 tháng 8 2025

Bài văn kể lại một trận chiến với quân Nhật năm 1943 (khoảng 500 chữ)

Năm 1943, khi đất nước còn chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân Việt Nam đã không ngừng vùng lên đấu tranh giành lại tự do. Trong ký ức của ông tôi, một người từng tham gia lực lượng Việt Minh, trận chiến với quân Nhật tại vùng rừng núi Bắc Kạn là một dấu ấn không thể nào quên.

Vào một buổi sáng mùa đông lạnh giá, đơn vị của ông tôi nhận được tin báo: một toán lính Nhật đang tiến vào làng để càn quét và bắt bớ những người tình nghi tham gia kháng chiến. Không chần chừ, các chiến sĩ Việt Minh đã nhanh chóng lên kế hoạch phục kích. Dưới tán rừng rậm rạp, họ đào hầm, bố trí lực lượng và chuẩn bị vũ khí thô sơ – chủ yếu là súng trường, lựu đạn tự chế và tinh thần quả cảm.

Khi toán lính Nhật tiến vào, trận đánh diễn ra quyết liệt. Tiếng súng vang lên giữa núi rừng, xen lẫn tiếng hô xung phong đầy khí thế. Dù quân Nhật trang bị hiện đại hơn, nhưng với sự thông thạo địa hình và lòng yêu nước cháy bỏng, các chiến sĩ đã khiến chúng phải tháo chạy. Trận đánh tuy nhỏ, nhưng đã bảo vệ được dân làng và tiếp thêm niềm tin cho phong trào kháng chiến.

Ông tôi kể lại, sau trận ấy, nhiều người dân đã tự nguyện tham gia Việt Minh, tiếp tế lương thực, che giấu cán bộ và truyền tin. Tinh thần đoàn kết giữa quân và dân chính là sức mạnh lớn nhất giúp Việt Nam vượt qua những năm tháng gian khổ.

Chiến tranh là đau thương, nhưng cũng là nơi tỏa sáng của lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Trận chiến năm 1943 với quân Nhật không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam trong hành trình giành lại độc lập.

Tham khảo
20 tháng 3 2022

tham khảo

 

Chúng ta muốn đến đích, đạt được những mục tiêu, lí tưởng tốt đẹp mà mình đã đề ra thì cần phải có một tinh thần dũng cảm. Dũng cảm đó là việc dám đối đầu với mọi khó khăn, thử thách gây cản trở, làm khó dễ cho bản thân; dám lao vào làm những điều mà người khác e sợ.

Dũng cảm là một phẩm chất rất quan trọng bởi trong cuộc sống chúng ta sẽ gặp phải rất nhiều những khó khăn và những khó khăn đó sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn. Trong nhiều hoàn cảnh dũng cảm cũng là một điều vô cùng ý nghĩa. Cuộc sống là muôn màu vạn năng con người không thể nào kiểm soát và lường trước được nó, chính vì vậy mà con người luôn luôn phải vượt qua rất nhiều khó khăn và dám đương đầu trong cuộc sống để tạo dựng lên niềm tin và yêu thương cho chính cuộc sống của mình.

Dũng cảm không là những gì xa xôi, nó ở ngay trong chính mỗi người, điều quan trọng là phải thể hiện và rèn luyện nó ra sao mà thôi. Tất cả những tấm gương về lòng dũng cảm đều cho ta thấy rằng lòng dũng cảm đã nâng giá trị của bản thân lên rất nhiều. Nó khẳng định sức mạnh của con người trước những thế lực của tự nhiên và xã hội. Sự dũng cảm còn giúp con người tạo dựng những giá trị vật chất và tinh thần. Một người có hoàn cảnh khó khăn mà dũng cảm vượt qua mọi thử thách họ sẽ lớn lên nhiều, họ có thể tự tạo lập cho mình cuộc sống riêng. Như vậy lòng dũng cảm còn thúc đẩy sự tự lập trong mỗi con người. Khi họ thành công họ sẽ tin vào bản thân, tin vào khả năng có thực của mình và họ sẽ tiếp tục dũng cảm vượt lên trên cuộc sống.

Chúng ta phải rèn luyện cho bản thân lòng dũng cảm đó là một tinh thần tốt đẹp cho bản thân của chúng ta, lòng dũng cảm sẽ xuất hiện cho bản thân và tạo dựng lên cho bản thân những giá trị tốt đẹp và ý nghĩa nhất cho mỗi con người.

29 tháng 9 2023

11 tháng 3 2025

Tuệ Tĩnh

5 tháng 10 2023

Nay trong thời bình, hàng trăm ngàn những người lính đã gác lại đời tư, tạm biệt những vùng quê, tạm biệt những thành phố phồn hoa đô hội để đến với biển đảo canh giấc ngủ bình yên cho nhân dân. Giữa bao nhiêu thiếu thốn và cô đơn, những người lính ấy vẫn quyết bám đảo, bám biển để bảo vệ vùng trời biển thiêng liêng mà bao liệt sĩ đã ngã xuống khi cuộc đời còn rất trẻ. Mặc dù chiến tranh tàn khốc đã thôi không trở lại, nhưng những âm mưu độc chiếm, âm mưu muốn tranh giành lãnh thổ của các nước ‘’láng giềng’’ vẫn còn sôi sục đó đây. Biển vẫn ngày đêm sóng dữ chưa nguôi. Các anh, những người lính trẻ không màng khó khăn, ngày đêm và ngày đêm chiến đấu. Các anh mang trong mình tư thế sẵn sàng, tay cầm súng, đầu mang chí lớn đối mặt với hiểm nguy nhưng can trường và vững chãi, hiên ngang giữa mênh mông biển cả.

Trạng ngữ: Nay trong thời bình

21 tháng 9 2025

Trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam, hình ảnh những người anh hùng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận, hun đúc nên lòng tự hào và ý chí quật cường. Trong số đó, thiếu niên Lê Văn Tám, dù còn nhiều tranh luận về sự tồn tại, vẫn sống mãi trong tâm trí nhiều thế hệ như một biểu tượng bất diệt của lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước. Anh đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ (1926-1947), để lại một câu chuyện bi tráng về sự hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Theo những câu chuyện được kể lại, Lê Văn Tám là một cậu bé giao liên dũng cảm, hoạt động trong lòng Sài Gòn những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuộc sống của một thiếu niên giao liên đầy rẫy hiểm nguy, nhưng anh không hề nao núng. Tinh thần thép và lòng căm thù giặc sâu sắc đã thôi thúc anh hành động. Đỉnh điểm là vào đêm 17 tháng 10 năm 1947, khi quân Pháp gây khó khăn cho quân ta, Lê Văn Tám đã quyết định thực hiện một hành động vô cùng táo bạo và dũng cảm. Anh đã tẩm xăng vào người, biến mình thành một ngọn đuốc sống để phá kho đạn địch tại Thị Nghè.

Hành động của Lê Văn Tám đã gây ra một vụ nổ lớn, thiêu rụi một kho vũ khí và tiếp tế quan trọng của địch, làm chấn động toàn bộ chiến trường Sài Gòn. Hình ảnh ngọn đuốc sống Lê Văn Tám không chỉ là nỗi khiếp đảm đối với kẻ thù mà còn thắp lên ngọn lửa hy vọng và ý chí chiến đấu mãnh liệt cho đồng bào và đồng chí. Câu chuyện về sự hy sinh anh dũng của anh nhanh chóng lan truyền khắp cả nước, trở thành một biểu tượng cho sự hy sinh tận hiến, "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Tuy nhiên, vào những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi về tính xác thực của câu chuyện này. Có ý kiến cho rằng hình tượng Lê Văn Tám được xây dựng dựa trên câu chuyện có thật của một chiến sĩ nào đó, nhằm mục đích cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân ta. Dù vậy, bất kể Lê Văn Tám có phải là một nhân vật có thật hay không, câu chuyện về anh vẫn mang một ý nghĩa nhân văn và lịch sử sâu sắc. Nó đại diện cho tinh thần của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho độc lập dân tộc.

Lê Văn Tám không chỉ là một cái tên, mà còn là một biểu tượng. Biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, sự dũng cảm phi thường và ý chí bất khuất. Dù có thể không phải là một nhân vật lịch sử cụ thể, anh vẫn là một anh hùng trong trái tim của hàng triệu người Việt, là một minh chứng sống động cho tinh thần chiến đấu quả cảm của dân tộc. Câu chuyện về anh sẽ mãi mãi được ghi nhớ như một bài học vô giá về sự hy sinh vì Tổ quốc, là ngọn đuốc soi sáng con đường cho các thế hệ mai sau.

(copy )

21 tháng 9 2025

Lời bài hát “Lá xanh” của nhạc sĩ Hoàng Việt nhắc ta về tinh thần yêu nước, nhiệt huyết cứu nước của biết bao thế hệ anh hùng liệt sĩ vùng đất Hải Phòng. Họ là những người con mang “Sức oai hùng đang căng trong toàn thân” để “Ra tuyền tuyến thi tài cùng nhau giết Tây” trong đó phải kể đến liệt sĩ Đàm Văn Cẩm - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Là người con Hải Phòng được sống trong hoà bình độc lập, nhân dịp Kỉ niệm 78 năm ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, chúng ta cùng nhau ôn lại để tự hào và tri ân chiến công của anh.

Sinh năm 1926 tại xóm Sú 2, xã Lâm Động, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đàm Văn Cẩm tham gia dân quân, rồi giữ chức Tiểu đội trưởng Tiểu đoàn tự vệ Quang Trung, tiếp tục chiến đấu trong lực lượng Công an vũ trang của quê hương Thủy Nguyên.
Năm 1947, trong trận càn lớn của thực dân Pháp vào căn cứ Vẹt Khê (xã Phù Ninh), anh xung phong trèo lên cây đa đầu đập làm nhiệm vụ quan sát và phát tín hiệu. Khi giặc lọt vào trận địa, anh kích mìn, ném lựu đạn, khiến quân thù hoảng loạn. Bị thương nặng và rơi vào vòng vây, anh vẫn chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, kiên cường ném tiếp hai quả lựu đạn, tiêu diệt thêm nhiều địch trước khi anh anh dũng hy sinh.
Trong trận đánh ấy, quân ta tiêu diệt 30 tên địch, buộc chúng phải rút lui khỏi khu vực Núi Đèo. Còn Đàm Văn Cẩm – người chiến sĩ cảm tử – đã hiến trọn tuổi xuân cho sự sống của bao người, cho tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Để tưởng nhớ và ghi nhận công lao của anh, ngày 10/4/2001, Nhà nước truy tặng liệt sĩ Đàm Văn Cẩm danh hiệu cao quý: “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Tên anh – người con ưu tú của đất Thủy Nguyên – đã trở thành biểu tượng bất tử của lòng trung kiên và tinh thần sẵn sàng hiến dâng trọn đời cho độc lập dân tộc.
Tấm gương anh đã trở thành bất tử. Tên anh đã hòa vào đất nước. Máu anh tô thắm quê hương.
Thế hệ hôm nay và mai sau nguyện sống xứng đáng với sự hy sinh ấy – giữ trọn niềm tin, lý tưởng và lòng yêu nước mà anh đã gửi lại mảnh đất Thủy Nguyên anh hùng…

21 tháng 9 2025

Trong giai đoạn 1919 – 1945, dân tộc Việt Nam sống trong ách đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, biết bao thế hệ thanh niên ưu tú đã lên đường tham gia phong trào cách mạng. Họ là những chiến sĩ cộng sản, những đoàn viên thanh niên, trí thức yêu nước và cả những người nông dân chân chất nhưng mang trong tim ngọn lửa khát khao giải phóng dân tộc. Nhiều người đã ngã xuống nơi pháp trường, trong nhà tù thực dân hay trên những chiến trường ác liệt. Máu của họ đã tô thắm trang sử vàng của dân tộc, góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhắc đến những liệt sĩ giai đoạn này, chúng ta không thể quên Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Việt Nam Quốc dân đảng trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, hay những người cộng sản kiên trung như Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Đức Cảnh, Lý Tự Trọng, Phan Đăng Lưu... Họ là những tấm gương sáng ngời của lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và niềm tin sắt son vào tương lai của dân tộc.

Hôm nay, sống trong hòa bình, chúng ta càng biết ơn và tự hào về những người đã ngã xuống. Chính sự hy sinh cao cả của liệt sĩ giai đoạn 1919 – 1945 đã hun đúc tinh thần bất khuất, tạo nền móng vững chắc để đất nước ta đi đến độc lập, tự do. Thế hệ trẻ hôm nay cần trân trọng quá khứ, học tập tinh thần yêu nước và tiếp bước cha anh để xây dựng Tổ quốc giàu mạnh, xứng đáng với sự hy sinh anh hùng ấy.

( Mẫu đó bro )

21 tháng 9 2025

Kể câu chuyện người ăn xin dàn ý


5 tháng 10 2025

Truyện mà em thích nhất là Sọ Dừa. Chàng trai Sọ Dừa sinh ra đã mang một dáng hình khác lạ, xấu xí nhưng chàng lại có nhiều tài năng, phẩm chất tốt đẹp. Vì muốn giúp đỡ mẹ, chàng đã xin đến ở nhà phú ông và chăn bò rất giỏi, con nào con nấy no căng. Không những vậy, chàng còn gặp được người con gái út của phú ông có tấm lòng nhân hậu, tốt bụng và nên duyên vợ chồng. Trải qua nhiều gian nan và thử thách, cuối cùng hai vợ chồng Sọ Dừa đã có được cuộc sống hạnh phúc. Đó là một kết thúc có hậu, phần thưởng xứng đáng cho những con người hiền lành, lương thiện.

5 tháng 10 2025

Nhân vật hùng thùng rác ở lớp 8a3

5 tháng 10 2023

- Đối với hình ảnh đầu tiên ta có thể thấy hình ảnh chú bộ đội trên những chiếc xe tăng không kính. Đó là những hình ảnh tiêu biểu trong các cuộc chiến tranh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, kết hợp cùng tên bài: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ta sẽ xếp hình 1 vào mục b “Dũng cảm trong chiến đấu”.

- Đối với hình ảnh thứ hai là hình ảnh bác tài lái tàu hỏa đang xả thân cứu đoàn tàu gặp nguy hiểm khi một chiếc ô tô tải băng ngang qua đường ray lúc tàu sắp đến gần. Bác tài chỉ những người tài xế lái xe lao động trong ngành dịch vụ vận tải, vì vậy ta sẽ xếp hình 2 vào mục a “Dũng cảm trong lao động”

- Đối với hình ảnh thứ ba, hình ảnh người đàn ông cùng chiếc kính viễn vọng quan sát trên bầu trời để tìm ra những chân lí đúng đắn về thiên văn mà trước nay vốn gây nhiều tranh cãi. Vì vậy ta sẽ xếp hình 3 vào mục c “ Dũng cảm trong bảo vệ lẽ phải” 

26 tháng 11 2023

1. Chị Hạnh là hàng xóm của em. Năm nay, chị hai mươi tuổi. Hiện tại, chị là một sinh viên. Chị học rất giỏi, lại ngoan ngoãn. Mọi người trong xóm rất quý mến chị. Em thường sang nhà chị chơi. Những lúc đó, em còn được chị dạy đánh đàn. Chị Hạnh cũng rất khéo tay. Những món ăn do chị nấu rất ngon. Chị cũng có rất nhiều sách truyện hay. Em hay sang nhà mượn chị sách về đọc. Em rất quý mến chị Hạnh. 
2. HS trình bày.

26 tháng 11 2023

Anh Kim Đồng

Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người dân tộc Nùng, quê ở thôn Nà Mạ, xã Xuân Hòa (nay là Trường Hà), Hà Quảng, Cao Bằng.

Anh là một trong 5 đội viên đầu tiên của Đội nhi đồng Cứu quốc thôn Nà Mạ và cũng là tổ chức Đội đầu tiên của Đội ta được thành lập khi mặt trận Việt Minh ra đời (1941).

Trong buổi thành lập Đội, Kim Đồng được bầu làm tổ trưởng.

Kim Đồng là con trai út của một gia đình nông dân nghèo. Bố mất sớm. Anh trai tham gia cách mạng và hy sinh khi còn trẻ.

Từ năm 1940, ở quê Dền đã có phong trào cách mạng. Dền được anh trai và anh cán bộ như anh Đức Thanh giác ngộ cách mạng. Dền đã theo các anh làm các công việc: canh gác, chuyển thư từ, nghe nói chuyện về tội ác của quân giặc… nhờ đó Dền đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một liên lạc viên tin cậy của tổ chức Đảng. Dền đã mau chóng làm quen với cách thức làm công tác bí mật, nhiều lần đưa, chuyển thư từ, đưa đường cho cán bộ lọt qua sự bao vây, canh gác của địch.

Năm 1941, Bác Hồ về Pắc Pó, Kim Đồng từng được gặp Bác ở căn cứ cách mạng.

Bước sang năm 1943, bọn địch khủng bố, đánh phá dữ dội vùng Pắc Pó. Trong một lần đi liên lạc về, giữa đường gặp lính địch phục kích gần nơi có cán bộ của ta, Kim Đồng đã nhanh trí nhử cho bọn địch nổ súng về phía mình. Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin.

Hôm ấy là ngày 11 tháng giêng Âm lịch năm 1943, Anh vừa tròn 14 tuổi.

Ngày nay, mộ của Kim Đồng đã được đội viên cả nước góp phần xây dựng tại nơi anh ngã xuống. Ngày 15-5-1986, nhân kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đội, mộ của Anh và tượng người đội viên liệt sĩ anh hùng Kim Đồng đang tung con chim sáo bay lên đã được khánh thành. Từ đó đến nay nơi đây đã trở thành khu di tích Kim Đồng chào đón các thế hệ thiếu nhi Việt Nam đến nơi thành lập Đội TNTP, với người đội trưởng đầu tiên của mình, đến với quê hương cách mạng có suối Lê-nin, có núi Các Mác và hang Pắc Pó mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của thiếu nhi Việt Nam.

7 tháng 10 2023

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, các đội viên nhỏ tuổi đã anh dũng tham gia kháng chiến và dành được nhiều chiến công vang dội. Qua lăng kính của nhà văn, từng câu chuyện, từng đứa trẻ với hoàn cảnh và tính cách khác nhau hiện ra một cách gần gũi, chân thật, can đảm và khéo léo. Với lối viết chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã đưa người đọc về với không khí chống giặc giải phóng quê hương đất nước của dân tộc nói chung và của quê hương Đình Bảng nói riêng. Trong đó có những gương mặt quả cảm của các đội viên như Hoan, Phát, Tâm, Dìn hiện lên thật gần gũi và cao đẹp. Bằng sự mưu trí và dũng cảm, các đội viên đã giúp du kích cất giấu vũ khí ngay trong tròng địch cùng các anh cho nổ mìn phá tung Câu lạc bộ. Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng ngày đó được giao nhiệm vụ thâm nhập vào những nơi địch chiếm đóng để lấy thông tin, nắm tình hình địch rồi thông báo cho lực lượng của ta. Những anh hùng nhỏ tuổi nhưng đã chung tay, đóng góp sức mình cho công cuộc đấu tranh và bảo vệ đất nước ấy mãi là tấm gương sáng cho thế hệ chúng ta noi theo.